Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Ai đứng sau âm mưu cướp nhà ông bà Trịnh Văn Bô?

Lê Anh Hùng | VOA| 13.11.2017   


Ông bà Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ là cặp vợ chồng doanh nhân nổi tiếng Việt Nam từ thời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn chưa ra đời.
Từ “Bộ trưởng Tài chính” của Việt Minh…
Trước năm 1945, nhờ tài năng kinh doanh buôn bán, cặp vợ chồng này đã tích luỹ được một khối tài sản lớn bậc nhất đất Hà thành. Dù vậy, tinh thần yêu nước và lòng nhân ái của họ thì thậm chí còn lớn hơn cả khối tài sản mà thiên hạ ít ai bì kịp đó.
Gia đình ông bà từng ủng hộ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ 5.147 lượng vàng, trong đó có 1.000 lượng vàng được đặc phái viên của Hồ Chí Minh là Nguyễn Lương Bằng đem đi hối lộ cho 3 viên tướng Tàu là Hà Ứng Khâm (500 lượng), Lư Hán (300 lượng), Tiêu Văn (200 lượng) chỉ để mong quân đội Việt Nam khỏi đụng độ với quân đội Tưởng Giới Thạch. Điều này càng đặc biệt ý nghĩa trong bối cảnh ngân khố quốc gia gần như rỗng tuếch thời bấy giờ.

Ngoài ra, họ còn hiến tặng ngôi nhà 48 Hàng Ngang cho chính quyền cộng sản để làm “bảo tàng cách mạng”, bởi đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số lãnh đạo Việt Minh khác tá túc từ ngày 24/8 (ngay khi từ Việt Bắc về Hà Nội) cho đến ngày 27/9/1945 và là nơi ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập.
Đóng góp của ông bà Trịnh Văn Bô cho chính phủ Hồ Chí Minh lớn đến mức người Pháp từng nói bà Trịnh Văn Bô là “Bộ trưởng Tài chính của Việt Minh”.
…đến vị thế một “dân oan”
Như báo chí nhà nước đã đưa tin, khi trở về từ vùng tản cư năm 1954, ông bà Trịnh Văn Bô đã sửa lại ngôi nhà 34 Hoàng Diệu định để ở thì Thiếu tướng, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái (về sau là Đại tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng) ngỏ lời muốn mượn ngôi nhà trong hai năm (1954-1956) để tiện cho ông làm việc, bởi nó nằm gần cơ quan Bộ, với cam kết bằng văn bản là sau 2 năm, khi nước nhà thống nhất, sẽ trả lại cho gia đình ông bà.
Đại tá Bùi Tín, một người thân quen với gia đình, cho biết là đến năm 1957-1958, ông bà Trịnh Văn Bô đã ngỏ ý “xin lại” ngôi nhà cũ của mình nhưng ông Hoàng Văn Thái cũng như Bộ Quốc phòng không trả lời, dù đã quá thời hạn cho mượn.
Năm 1975, khi Nam - Bắc thống nhất, ông bà đệ đơn chính thức xin lại ngôi nhà nhưng lá đơn của ông bà một lần nữa rơi tõm vào im lặng, mặc dù lúc này ông bà đã con đàn cháu đống và phải sống chen chúc trong ngôi nhà số 24 Nguyễn Gia Thiều.
Năm 1978, gia đình ông Hoàng Văn Thái được cấp nhà riêng ở khu Liễu Giai, nhưng họ vẫn không chịu trả nhà 34 Hoàng Diệu cho ông bà Trịnh Văn Bô.
Tiếp theo đó là một quá trình vận động ròng rã hàng chục năm nữa của ông bà. Theo báo Thanh Niên, hàng chục chữ ký của các cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ qua các thời kỳ đều ủng hộ hai cụ nhưng vẫn vô hiệu.
Và phải đến ngày 9/9/1994, bà Trịnh Văn Bô mới có quyết định của Thủ tướng “tặng” ngôi biệt thự 34 Hoàng Diệu cho ông bà Trịnh Văn Bô do “có công lao to lớn đối với đất nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”, trong khi lẽ ra là phải trả lại nhà cho ông bà.
Tuy nhiên, không hiểu sao quyết định “tặng nhà” do Thủ tướng Võ Văn Kiệt uỷ quyền cho PTT Thường trực Phan Văn Khải ký lại bị tạm dừng vào tháng 3/1995, và đến nay vẫn chưa được thi hành.
Cuối cùng, khi đã bị dồn đến chân tường và không còn cách nào khác, gia đình bà Trịnh Văn Bộ quyết định phải làm liều. Tối 9/10/2003, tận dụng cơ hội khi những kẻ chiếm giữ nhà đi vắng, con cháu bà Trịnh Văn Bô đã cõng bà đột nhập vào ngôi nhà, kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với bọn cướp nhà.
Ông Trịnh Văn Bô mất năm 1988, mang theo nỗi uất hận là bị những kẻ mà gia đình ông từng cưu mang và ủng hộ gần như cả gia sản cướp trắng tài sản đáng kể nhất còn lại.
Còn bà Trịnh Văn Bô, mặc dù phải liều chết mới lấy lại được ngôi nhà thân yêu của mình, nhưng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5/11 vừa qua, vẫn chưa được chính quyền cấp sổ đỏ.Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.ang Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.
Và trách nhiệm của ông Võ Nguyên Giáp
Ông bà Trịnh Văn Bô cho ông Hoàng Văn Thái mượn nhà trên thực tế là cho Bộ Quốc phòng mượn, vì ông Thái mượn với tư cách Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, chứ không phải với tư cách cá nhân. (Đại tá Bùi Tín thì cho biết là Bộ Quốc phòng yêu cầu mượn tạm ngôi nhà.)
Thời điểm năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái là nhân vật cao cấp thứ hai trong Bộ Quốc phòng, chỉ sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và ngôi nhà 34 Hoàng Diệu lại nằm ngay cạnh nhà 30 Hoàng Diệu của Bộ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ (dãy phố không có số nhà 32). Thế nên ông Giáp càng biết rõ cấp dưới của mình đang ở nhà ai.
Nếu là người đạo đức và trách nhiệm, tuân thủ nguyên tắc quân đội không được cướp đoạt của dân, khi quá thời hạn cho mượn mà ông Hoàng Văn Thái vẫn không chịu trả nhà cho ông bà Trịnh Văn Bô, lẽ ra ông Bộ trưởng Quốc phòng phải yêu cầu cấp dưới của mình thực hiện đúng cam kết.
Tuy nhiên, điều đó đã không xẩy ra trong năm 1956, khi thời hạn ông bà Trịnh Văn Bô cho Bộ Quốc phòng mượn nhà đã hết; không xẩy ra trong hai năm 1957 và 1958, khi ông bà đề nghị ông Hoàng Văn Thái và Bộ Quốc phòng trả lại nhà; không xẩy ra khi ông bà chính thức gửi đơn thư đòi nhà đến một loạt cơ quan ban ngành sau năm 1975; không xẩy ra khi ông Thái đã được cấp nhà mới ở khu Liễu Giai năm 1978.
Rời khỏi chiếc ghế Bộ trưởng Quốc phòng năm 1980, ông Võ Nguyên Giáp vẫn là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho đến tận năm 1986, nên ông vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả lại ngôi nhà 34 Hoàng Diệu cho khổ chủ.
Sau khi về hưu năm 1986, trách nhiệm của ông Võ Nguyên Giáp đối với ông bà Trịnh Văn Bô còn nằm ở chỗ: Võ Điện Biên, con trai cả của ông, cùng vợ là con gái đầu của ông Hoàng Văn Thái lại sinh sống trong ngôi nhà 34 Hoàng Diệu, ngay kế bên ngôi biệt thự rộng hàng ngàn m2 của ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng.

Bút tích Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong đám tang ông Trịnh Văn Bô.
Trong số con cái của hai vị đại tướng, người thành đạt nhất là ông Trương Gia Bình (con rể ông Võ Nguyên Giáp) thì cũng mãi sau này mới trở thành Chủ tịch HĐQT FPT, tức là họ không thể đủ sức cưỡng lại một loạt lãnh đạo của chế độ.
Sau khi Đại tướng Hoàng Văn Thái mất năm 1986, thế lực chống lại việc trả ngôi nhà 34 Hoàng Diệu cho khổ chủ quyết liệt đến mức TBT Đỗ Mười phải than thở với bà Trịnh Văn Bô: “Hay là chị Bô còn chôn vàng ở biệt thự 34 Hoàng Diệu? Nếu có chuyện này thật thì tôi xin đứng ra bảo lãnh để chị đến đào rồi mang đi toàn bộ... Chị hãy tin tôi và thương tôi với!”
Trong khi đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phải thốt lên với nhiều người rằng việc ông đồng ý để chính phủ ký quyết định “trả” nhà nói trên còn khó hơn gấp nhiều lần ông ký cho ra đời một dự án kinh tế vài trăm triệu dollar.
Thế lực chống đối thậm chí còn khiến quyết định nửa vời của chính phủ nói trên bị “tạm dừng thi hành” vào tháng 5/1995, sau khi ra đời được 8 tháng.
Thế lực đó là ai?

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Ai đã chơi khăm ông Phúc?

Lê Anh Hùng | VOA| 6.11.2017  



Hàng ngàn năm qua, quốc gia láng giềng phương Bắc luôn được hầu hết người Việt coi là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, bởi sau hơn một nghìn năm đô hộ, từ năm 111 TCN cho đến năm 905, những bộ óc Đại Hán vẫn chưa bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính dải đất phương Nam hình chữ S, luôn tìm mọi mưu hèn kế bẩn hòng tiêu diệt dòng giống Bách Việt cuối cùng chưa bị họ đồng hoá.
Mối tình Trọng Thuỷ - Mỵ Châu hiện đại
Thế nhưng sang kỷ nguyên cộng sản, mối bang giao hai nước đã thay đổi. Các nhà lãnh đạo CSVN, ngoại trừ một giai đoạn dưới thời Lê Duẩn, luôn coi Trung Quốc không chỉ là “bạn”, mà còn là “anh em”. Mối quan hệ giữa hai nước được bộ máy tuyên truyền ở Bắc Kinh và Hà Nội tô điểm bằng những mỹ từ đẹp nhất trong kho từ vựng, như “núi liền núi sông liền sông”, hay “4 tốt” và “16 chữ vàng”, v.v.
Mặc dù vậy, ngay trong “tuần trăng mật” của mối tình cộng sản Việt - Trung, khi cuộc chiến Pháp - Việt vừa mới kết thúc, Bắc Kinh đã lợi dụng việc Hà Nội nhờ vẽ bản đồ để lấn chiếm đất đai biên giới của một Việt Nam “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.  
Và sau thời kỳ “thao quang dưỡng hối” như lời truyền dạy của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình, với tiềm lực kinh tế và quân sự không ngừng lớn mạnh, các ông chủ Trung Nam Hải đã không còn thèm che dấu cuồng vọng bành trướng, bá quyền vốn đã chảy trong huyết quản của họ từ thuở “khai thiên lập địa”.
Đã qua rồi cái thời Bắc Kinh cho quân đội lén lút đổ bộ lên nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa năm 1956, hay tấn công chớp nhoáng và chiếm đóng phần còn lại của Hoàng Sa năm 1974, và đảo Gạc Ma của Trường Sa năm 1988.
Bắt đầu từ năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp và quân sự hoá một loạt thực thể chìm/nổi tại Trường Sa một cách công khai và rầm rộ, biến chúng thành chuỗi căn cứ quân sự liên hoàn hòng khống chế hoàn toàn Biển Đông. Từ ngày 1/5 đến 15/7/2014, Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan HD981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Trong chuyến thăm Việt Nam trung tuần tháng 6/2014, khi nói chuyện với lãnh đạo CSVN, Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì đã “thúc giục ‘đứa con hoang đàng’ Việt Nam trở về nhà”.
Gần đây nhất, trong một sự kiện được cộng đồng quốc tế chăm chú dõi theo hồi tháng 7 vừa qua, Bắc Kinh đã ngang ngược đe doạ sử dụng vũ lực, buộc Hà Nội phải yêu cầu công ty Repsol ngừng khoan dầu tại bãi Tư Chính, một khu vực nằm trong thềm lục địa của Việt Nam.
Tình trong thì đã, mặt ngoài phải che?
Trong bối cảnh đó, những màn ôm hôn thắm thiết mà lãnh đạo CSVN thường dành cho các đồng chí đến từ phương Bắc mỗi khi hai bên gặp nhau ngày càng trở nên khó coi trước một công chúng Việt Nam đã bắt đầu bộc trực và không ngần ngại bày tỏ quan điểm, chính kiến. Đơn giản, ai cũng hiểu là chỉ phường buôn dân bán nước thì mới ôm ấp kẻ thù của dân tộc mình.
Ngay cả TBT Nguyễn Phú Trọng, nhân vật “thân Tàu” số 1 Việt Nam, thời gian gần đây cũng không còn xuất hiện trên truyền thông với hình ảnh ôm hôn những người bạn đến từ phương Bắc của ông ta, dù trước cảnh hai bên bắt tay, clip truyền hình luôn cho thấy dấu hiệu mạch phim bị ngắt, nghĩa là màn ôm ấp kẻ thù của người đứng đầu Đảng CSVN đã bị che khỏi mắt công chúng một cách hữu ý.
Để củng cố hình ảnh nhân vật “chống Tàu số 1 Việt Nam” của mình, ngoài việc bô bô những câu như “không đánh đổi chủ quyền quốc gia lấy tình hữu nghị viễn vông”, cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng luôn che dấu những màn ôm hôn thắm thiết đối với kẻ thù của dân tộc.
Nhưng ở đời “không ai nắm tay được cả ngày”. “Đồng chí X” ít nhất cũng đã hai lần để cho công chúng biết được tình cảm đích thực mà ông ta vẫn dành cho các ông chủ Trung Nam Hải.
Lần thứ nhất là ngày 7/9/2011, khi chương trình thời sự 19h trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) phát cảnh cặp đôi Nguyễn Tấn Dũng - Đới Bỉnh Quốc (Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc), với hai bộ complet và hai cà vạt y chang nhau, ôm hôn nhau thắm thiết tại số 1 Hoàng Hoa Thám. 
Lần thứ hai là ngày 5/11/2015, khi Chủ tịch Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Trong các màn nghênh tiếp mà bốn vị “tứ trụ triều đình” dành cho Tập Cận Bình được phát trên chương trình thời sự VTV thì “đồng chí X” là người duy nhất ôm hôn thắm thiết ông chủ Trung Nam Hải. Và sau khi phát hiện ra “sự cố” này, những hình ảnh “thắm tình anh em một nhà” ấy đã bị “ai đó” gỡ ra khỏi video clip thời sự được lưu trên trang mạng của VTV.
Đến lượt Thủ tướng đương nhiệm bị chơi khăm?
Trong chương trình thời sự VTV 19h ngày 3/11 vừa qua, tuy phần tin Thủ tướng Việt Nam tiếp đón Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc không có cảnh hai người ôm nhau, song đoạn video clip vẫn cho thấy rõ một Nguyễn Xuân Phúc thay vì đứng tại chỗ như thông lệ ngoại giao thì lại tiến về phía Vương Nghị đang bước vào. Thủ tướng Việt Nam đã chủ động tiến về phía Vương Nghị, tay phải bắt tay với ông Nghị, tay trái đưa lên cao trong tư thế ôm. Màn hình bị cắt ngay đó.

Tuy chưa có những câu phát ngôn được tung hê như “lời hiệu triệu của non sông”, một “ngón nghề” sở trường của “đồng chí X”, nhưng trong số các vị “tứ trụ triều đình” tiếp đón hai quan chức cao cấp của Trung Nam Hải sang uý lạo lãnh đạo CSVN vừa rồi (“Thường uỷ” Lưu Vân Sơn và Ngoại trưởng Vương Nghị) thì Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là người duy nhất dè dặt nêu vấn đề Biển Đông với phía Trung Quốc (TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thì im thin thít).
“Đồng chí X” đã lộ nguyên hình là người Việt lập được nhiều “chiến công” nhất cho Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam hiện đại, một “thành tích” mà ngài đương kim Tổng Bí thư dường như đang cố gắng bắt kịp và vượt qua.
Còn người đứng đầu chính phủ Việt Nam hiện nay thì sao?

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

Phình to, nhưng… hợp lý và cần thiết

Lê Anh Hùng | VOA| 4.11.2017  


“Tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy” là một điệp khúc mà người ta vẫn thường được nghe từ hàng chục năm nay, đến mức hiếm có chủ đề nào khiến công chúng Việt Nam nhàm tai hơn.
Càng “tinh giản” càng phình to
Tuy nhiên, mặc cho ai nói cứ nói, ai nghe cứ nghe, bộ máy công quyền Việt Nam vẫn không ngừng phình ra, cả về số cơ quan lẫn biên chế. Tính đến ngày 31/10/2016, tổng số công chức biên chế trong hệ thống chính trị là 3.734.302 người, tức chiếm tới 4% dân số.
“Đến hẹn lại lên”, Hội nghị Trung ương 6 khoá XII vừa qua lại nêu vấn đề “tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy” lên như một chủ đề nóng bỏng. Chưa hết, đây cũng là một nội dung quan trọng mà kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XIV, nhóm họp từ ngày 23/10 đến 22/11, đưa ra bàn thảo.

Sau khi Hội nghị Trung ương 6 kết thúc 2 tuần, TBT Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Nội dung quan trọng nhất của cái nghị quyết dài lê thê tới 12 trang giấy A4 này thực ra chỉ gói gọn trong mấy chữ ở trang 5 (điểm [4] của phần “Mục tiêu cụ thể”): “Đến năm 2021, giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2015.
Đây là một mục tiêu hết sức khiêm tốn, còn lâu mới đáp ứng được đòi hỏi của người dân, bởi nếu xét theo tỷ lệ công chức trên dân số thì bộ máy công quyền Việt Nam hiện lớn gấp gần 6 lần so với Mỹ.
Mặc dù vậy, để đạt được mục tiêu trên cũng không hề đơn giản, xuất phát từ vô số kinh nghiệm trong quá khứ, mà gần nhất là… một nghị quyết tương tự ra đời cách đây hơn 2 năm.
Ngày 17/4/2015, trong bối cảnh nợ công trên mức báo động và tình trạng ngân sách khốn quẫn tạo áp lực ngày một nặng nề lên hệ thống, TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”. Nghị quyết này cũng đặt ra mục tiêu “tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.
Ấy vậy nhưng, sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW, tổng biên chế trên cả nước không những không giảm mà còn tăng hơn 11.000 người. Báo cáo do Đoàn Giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2016 trình bày tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra đã nhận định: Sau 5 năm tinh giản, biên chế phình to, tăng số người lãnh đạo, tăng tầng nấc trung gian. Đặc biệt, hiện có đến 20/22 bộ, ngành gửi hồ sơ về Bộ Nội vụ xin thẩm định đề xuất… tăng cả tổ chức bên trong lẫn biên chế.
Tuy nhiên, không phải vô cớ mà hầu hết các bộ, ngành đều xin tăng tổ chức bên trong và biên chế, nếu không muốn nói điều đó không chỉ hợp lý mà còn… cần thiết. Tại sao vậy?
Ý thức tuân thủ pháp luật ngày càng kém
Trước hết, có lẽ ai cũng hiểu, chức năng của bộ máy công quyền là sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, và thông qua việc thực thi pháp luật để thiết lập và đảm bảo trật tự xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
Pháp luật là một cơ chế cưỡng bách của xã hội. Xã hội ổn định và phát triển lành mạnh khi và chỉ khi pháp luật được các thành viên trong xã hội tuân thủ, và những ai vi phạm pháp luật thì bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, điểm mấu chốt cần lưu ý ở đây là, nếu các thành viên xã hội thiếu thái độ tuân thủ tự phát (ý thức chấp hành pháp luật) thì vào bất cứ thời điểm nào bộ máy công quyền cũng chỉ có thể áp đặt nhiều lắm là từ 3 đến 7% toàn bộ quy chuẩn pháp lý thông qua hình thức cưỡng bách (“Institutional Economics: Social Order and Public Policy”, Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit, NXB Edward Elgar, Anh, 1999, trang 139; xem bản Tiếng Việt tại địa chỉ https://goo.gl/U7NJ1a).
Và đây mới chính là vấn đề của Việt Nam trong “thời đại Hồ Chí Minh”: tình trạng người dân ngày càng thiếu ý thức tuân thủ pháp luật là lý do khiến bộ máy công quyền không ngừng phình ra để… thực thi pháp luật.
Xin dẫn ra đây một ví dụ. Ý thức chấp hành luật lệ giao thông (hay nói một cách bóng bẩy hơn là “văn hoá giao thông”) của người dân ngày càng kém là lý do để Bộ Công an đề xuất tăng biên chế cho lực lượng cảnh sát giao thông, để rồi hình ảnh mà người ta thường thấy tại các điểm giao cắt giao thông trên khắp Việt Nam là các chú cảnh sát giao thông với cây gậy lăm lăm trong tay luôn túc trực bên cạnh các cột đèn tín hiệu giao thông. Và mặc dù lực lượng CSGT hiện nay đã “đông như quân Nguyên” nhưng có lẽ ai cũng trả lời được câu hỏi “văn hoá giao thông” ở Việt Nam đang chuyển biến theo chiều hướng tốt hay xấu. (“Trông người lại ngắm đến ta.” Không chỉ ở các quốc gia dân chủ trên thế giới hiện nay, mà ngay tại Việt Nam Cộng Hoà trước 1975, hình ảnh một người dân kiên nhẫn chờ đèn đỏ một mình trong đêm hôm khuya khoắt là điều hết sức bình thường.)

Chưa kịp tăng biên chế CSGT thì huy động lực lượng “thanh niên cờ đỏ”. Ảnh: Lê Anh Hùng
Tương tự, mặc dù lực lượng kiểm lâm viên, thanh tra viên vệ sinh an toàn thực phẩm, viên chức hải quan chống buôn lậu… không ngừng tăng lên nhưng mạch nguồn đất nước vẫn đang hàng ngày hàng giờ bị triệt phá, tình trạng vệ sinh - an toàn thực phẩm vẫn ngày càng xấu đi, nạn buôn lậu ngày một phổ biến, v.v.
“Thượng bất chính, hạ tắc loạn”
Pháp luật là tập hợp các quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, do những người đại diện chính trị (vốn được lựa chọn thông qua một quy trình chính trị) soạn ra và áp đặt từ trên xuống.
Tương tự như sự ra đời và áp đặt của pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật cũng hình thành trong xã hội theo hướng từ trên xuống, tức là từ nhà lãnh đạo quốc gia đến bộ máy công quyền và cuối cùng là xuống người dân.
Do vậy, một khi hệ thống pháp luật của một quốc gia nào đó có vấn đề thì vấn đề ấy xuất phát từ thượng tầng chính trị, chứ không phải là từ dưới lên. Tục ngữ Việt Nam có câu “Thượng bất chính, hạ tắc loạn” hay “Nhà dột từ nóc” là vì thế.
Khi nói “Kỷ luật Nguyễn Xuân Anh vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn”, ông Nguyễn Phú Trọng đã tự cho phép mình ngồi xổm trên pháp luật, bởi câu phát ngôn đó của nhân vật đứng đầu Đảng CSVN kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng đồng nghĩa với việc hành vi tham nhũng, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của viên cựu Bí thư Đà Nẵng sẽ không bị xét xử theo luật định.
Tương tự, câu “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của đảng” của nhà lãnh đạo cao nhất Việt Nam trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 vừa qua không những đã vô hiệu hoá cả guồng máy pháp luật, mà còn khiến tinh thần “thượng tôn pháp luật” trong xã hội vốn đã thấp kém lại càng thêm tồi tệ. (Rốt cuộc thì nhiều lắm họ cũng chỉ đưa những trò hề như “tự phê bình và phê bình” hay “kỷ luật đảng” ra để doạ nhau, mà vụ “biệt phủ Yên Bái” đang khiến dư luận chú tâm theo dõi chỉ là một trong vô số minh chứng.)
Khi ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương tỏ ra bức xúc “Tôi mua thuốc lá lậu mà không thấy lực lượng chức năng đâu” trước diễn đàn Quốc hội ngày 31/10 có lẽ ông chưa biết Thiếu tướng Nguyễn Chí Phi – Giám đốc Công an Tiền Giang – cũng từng bày tỏ nỗi niềm tương tự tại một phiên họp của Hội đồng Nhân dân tỉnh: “Một mình công an thì làm sao xuể. Công an lấy đâu ra người canh bắt từng người vi phạm pháp luật!”
Xin cung cấp thêm một vài con số để độc giả dễ hình dung: Theo TS Vũ Quang Việt, chuyên gia thống kê Liên Hợp Quốc, tỷ trọng ngân sách dành cho bộ máy công an trong tổng chi ngân sách của Việt Nam năm 2014 lên tới 12%, tức gấp 6 lần con số của Hoa Kỳ (2% ngân sách chi cho cảnh sát).
Sở hữu một lực lượng công an hùng hậu bậc nhất thế giới, với “năng lực điều tra hàng đầu thế giới”, song tình hình tội phạm của Việt Nam, từ nạn tham nhũng trong bộ máy công quyền cho đến tình trạng buôn lậu, làm hàng giả, trộm cướp, đâm chém… trong dân chúng, đang diễn biến như thế nào thì có lẽ ai cũng biết.
Rõ ràng, hệ thống chính trị ở Việt Nam đang lâm vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu không tăng biên chế để thực thi pháp luật, thiết lập trật tự thì xã hội sẽ loạn, nhưng nếu cứ để bộ máy tiếp tục phình to và ngày càng đè nặng trên tấm lưng còm cõi của người dân đóng thuế thì rồi đến một lúc nào đó “bần cùng sinh đạo tặc”, “bất công sinh đạo tặc”, “pháp luật lỏng lẻo sinh đạo tặc”… xã hội cũng sẽ rơi vào vòng tao loạn.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Trung Quốc hậu Đại hội 19: Tương lai nào cho Việt Nam?

Lê Anh Hùng | VOA| 1.11.2017  



Sau một tuần hội họp với những hoạt cảnh quen thuộc mà cứ mỗi 5 năm người ta lại thấy một lần, Đại hội Đảng CSTQ lần thứ 19 đã bế mạc ngày 24/10, và theo bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh thì nó đã mở ra “kỷ nguyên mới của CNXH đặc sắc Trung Quốc”.
Một Tập Cận Bình quyền uy tuyệt đối trong chính giới…
Không nằm ngoài dự đoán của giới quan sát, kỳ đại hội được cho là mang tính bước ngoặt này diễn ra rất êm thấm, không xẩy ra bất kỳ sự cố đáng kể nào.
Suốt ba năm rưỡi trước đấy, thông qua chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” do chính mình viết kịch bản và đạo diễn, Tập Cận Bình đã loại trừ hoặc vô hiệu hoá hầu như mọi đối thủ, đặc biệt là “bố già” Giang Trạch Dân cùng vây cánh. Điều này đã cho phép đương kim Chủ tịch Trung Quốc kiểm soát và làm chủ toàn bộ diễn tiến của đại hội.

Mặc dù đã đoán trước chiến thắng dễ dàng của Tập Cận Bình, song xem ra phần lớn mọi người vẫn phải bất ngờ trước mức độ thành công của ông ta trên hành trình thâu tóm quyền lực tuyệt đối.
Đại hội 19 đã thông qua điều lệ đảng sửa đổi, trong đó nêu tên Chủ tịch Tập Cận Bình cùng “Tư tưởng Tập Cận Bình về CNXH đặc sắc Trung Quốc trong kỷ nguyên mới”.
Đây là lần đầu tiên kể từ thời Mao Trạch Đông, tư tưởng của một nhà lãnh đạo đương nhiệm được đưa vào điều lệ đảng, đặt họ Tập ngang hàng với người khai sinh ra nhà nước “Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. Chưa hết, cả 5 thành viên mới trong Thường vụ Bộ Chính trị đều được coi là đồng minh của đương kim TBT, và không một ai trong số họ được xem là “tiếp ban nhân” của ông ta.
Nghĩa là, nếu không có gì bất ngờ ngoài dự đoán, Tập Cận Bình sẽ còn tiếp tục nắm giữ ngôi vị tối cao sau khi nhiệm kỳ Đại hội 19 kết thúc, cho phép ông ta thoả sức hiện thực hoá “giấc mộng Trung Hoa” của mình.
…và trong quân đội
Trên nguyên tắc lãnh đạo tập thể, Điều lệ Đảng CSTQ năm 2012 chỉ quy định sự lãnh đạo của Đảng CSTQ đối với quân đội một cách chung chung. Phần “Cương lĩnh chung” của Điều lệ 2012 ghi: “Đảng CSTQ kiên định vai trò lãnh đạo đối với Quân Giải phóng Nhân dân và các lực lượng vũ trang khác…”). Điều 23 quy định cụ thể hơn: “Các tổ chức đảng trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa hoạt động theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Cơ quan đảm nhiệm công tác chính trị của Quân uỷ Trung ương là Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa; Tổng cục Chính trị chỉ đạo công tác đảng và chính trị trong quân đội. Quân uỷ Trung ương quy định hệ thống tổ chức và các cơ quan đảng trong các lực lượng vũ trang.”
Tuy nhiên, văn kiện quan trọng nhất của Đảng CSTQ vừa được Đại hội 19 thông qua đã thể hiện những thay đổi hệ trọng. Theo Tân Hoa Xã, nghị quyết đại hội đã đưa tư tưởng quân sự của TBT Tập Cận Bình và quyền lãnh đạo “tuyệt đối” của đảng đối với lực lượng vũ trang vào điều lệ đảng. Nghị quyết nhấn mạnh, Đảng CSTQ cần duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối với quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân khác, cũng như thực hiện tư tưởng quân sự của TBT Tập Cận Bình về tăng cường sức mạnh quân đội.
Đặc biệt, bên cạnh quy định Quân ủy Trung ương phụ trách công tác đảng và công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, bản điều lệ mới còn quy định Chủ tịch Quân ủy Trung ương chịu toàn bộ trách nhiệm đối với hoạt động của cơ quan này.
“Kỷ nguyên Tập Cận Bình”
“Kỷ nguyên mới” của Trung Quốc có thể chỉ mới được mở ra sau Đại hội 19, song “kỷ nguyên Tập Cận Bình” thì đã bắt đầu từ 5 năm trước, khi Đại hội 18 chính thức đưa họ Tập lên ngôi vị “hoàng đế đỏ” của đất nước 1,3 tỷ dân.
Chỉ vài tuần sau đó, tân Tổng Bí thư Đảng CSTQ đã đưa ra học thuyết mới về sự trỗi dậy của Trung Quốc mà ông ta gọi là “giấc mộng Trung Hoa”, và nhấn mạnh: “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc.”
Song song với quá trình thâu tóm quyền lực, Tập Cận Bình đã thực hiện cuộc cải cách quân đội sâu rộng và triệt để nhất kể từ khi “Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa” ra đời. Từ đầu năm 2016, báo chí chính thống ở Trung Quốc đã đồng loạt tung hô một Tập Cận Bình “Tổng tư lệnh” – chức vụ xưa nay chưa từng có. Đề cập đến cuộc cải tổ quân đội rầm rộ này, trang mạng của Đài RFI chạy hàng tít: “Tập Cận Bình muốn quân đội Trung Quốc khống chế Châu Á”.
Bên ngoài lãnh thổ quốc gia, “kỷ nguyên Tập Cận Bình” được đánh dấu bằng một loạt sự kiện cho thấy con “sư tử Trung Hoa” đã thực sự cất tiếng gầm khiến cả thế giới phải e ngại: (i) yêu sách chủ quyền đối với 85% diện tích Biển Đông thông qua cái gọi là “vùng biển lịch sử” nằm trong đường lưỡi bò được bộ máy tuyên truyền Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh và tuyên truyền rộng rãi; (ii) bồi đắp và quân sự hoá 7 thực thể tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam, biến chúng thành một chuỗi căn cứ quân sự liên hoàn hòng khống chế hoàn toàn Biển Đông; (iii) đưa giàn khoan HD981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; (iv) điều một tiểu hạm đội hải quân đi qua vùng biển ngoài khơi Alaska, một động thái “nắn gân” Washington trước ngày Chủ tịch Trung Quốc thăm Hoa Kỳ; (v) thiết lập căn cứ quân sự đầu tiên ở nước ngoài tại Djibouti, bên cạnh căn cứ duy nhất của Mỹ tại Châu Phi; (vi) đe doạ sử dụng vũ lực, buộc Hà Nội phải yêu cầu công ty Repsol ngừng khoan thăm dò dầu khí tại bãi Tư Chính, một khu vực nằm trong thềm lục địa của Việt Nam; v.v. và v.v.
Hệ luỵ với Việt Nam
Việt Nam là quốc gia án ngữ con đường tiến xuống phía nam, hướng bành trướng khả dĩ nhất của Đại Hán, trong bối cảnh ở phía tây, phía bắc và phía đông họ đều vấp phải những đối thủ ngang tầm là Ấn Độ, Nga và Nhật (chưa kể một Đài Loan xương xẩu được coi là đồng minh của Mỹ).
Ngoài ra, trong số các quốc gia bao quanh Biển Đông, Việt Nam còn là quốc gia tranh chấp nhiều nhất với Trung Quốc trên vùng biển chiến lược và giàu tài nguyên này. Khuất phục được Hà Nội, Bắc Kinh sẽ dễ dàng khuất phục được một ASEAN vốn đã bị họ chia năm sẻ bảy bằng đủ mánh lới.
Trên thực tế, họ Tập đã thể hiện một thứ quyền uy đặc biệt đối với Hà Nội ngay từ khi “kỷ nguyên Tập Cận Bình” còn chưa bắt đầu.
Người Việt trong và ngoài nước hẳn vẫn chưa hết phẫn nộ khi xem lại hình ảnh dàn thiếu nhi Việt Nam vẫy lá quốc kỳ Trung Quốc 6 sao (thay vì 5) trong lễ tiếp đón Phó Chủ tịch TQ Tập Cận Bình tại Hà Nội ngày 21/12/2011. Và cuộc gặp giữa Nguyễn Tấn Dũng và Tập Cận Bình ngày 20/9/2012 tại Nam Ninh đã giúp “đồng chí X” đảo ngược tình thế hiểm nghèo của mình tại Hội nghị Trung ương 6 khoá XI, khiến Nguyễn Phú Trọng phải mếu máo bế mạc hội nghị vì không kỷ luật được “một đồng chí trong Bộ Chính trị”.
Không còn nghi ngờ gì, Việt Nam sẽ tiếp tục là đối tượng “ưu tiên số 1” trong lộ trình hiện thực hoá “giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình sau Đại hội 19, dĩ nhiên là với mức độ bạo liệt và quyết đoán hơn trước rất nhiều.
Và tương lai đất nước
“Kỷ nguyên mới của CNXH đặc sắc Trung Quốc” mở ra trong bối cảnh Nguyễn Phú Trọng đang “một mình một chợ” trên sân khấu chính trị Việt Nam.
Trần Đại Quang, thủ lĩnh phe nhóm chống Tàu trong bộ máy và là đối thủ đáng kể nhất của ngài TBT, hầu như chỉ còn “ngồi chơi xơi nước” trên chiếc ghế Chủ tịch nước kể từ khi “tái xuất” ngày 28/8 sau hơn một tháng biến mất vì liên quan đến vụ Trịnh Xuân Thanh đào thoát khỏi Việt Nam. Đinh Thế Huynh, một ứng cử viên nặng ký khác cho ngôi vị TBT trong trường hợp Nguyễn Phú Trọng trở về “làm người tử tế” vào giữa nhiệm kỳ như cam kết ban đầu, vẫn “bặt vô âm tín” suốt 5 tháng qua. Những ứng cử viên tiềm năng khác thì đang sốt vó với chiến dịch “đốt lò” do ngài Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng phát động cũng như Quy định kiểm soát tài sản, thu nhập của 1.000 cán bộ cao cấp do ông ta ban hành hồi tháng Năm.
Dưới sự lãnh đạo của một nhân vật đã đi vào “văn học dân gian” kèm theo hỗn danh là “lú” cùng câu ‘phát ngôn lịch sử’ “Tình hình Biển Đông không có gì mới” thì với những gì trên đây, hẳn ai cũng ý thức được tình thế Việt Nam đang chông chênh đến thế nào.
Trong khi lẽ ra phải dân chủ hoá xã hội để đưa nước nhà thoát khỏi hiểm hoạ Đại Hán đang ngày một hiện ra lồ lộ thì lãnh đạo CSVN lại làm điều ngược lại. Một ngày sau khi Đại hội 19 Đảng CSTQ bế mạc, sinh viên yêu nước Phan Kim Khánh bị kết án 6 năm tù giam, 4 năm quản chế chỉ vì anh đã lên tiếng chống tham nhũng và cổ suý dân chủ. Hai ngày sau, Bộ trưởng Công an Tô Lâm trình Quốc hội dự luật An ninh mạng, một đạo luật được nhiều người cho là nhằm mục đích tăng cường kiểm soát Internet, bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin của dân chúng. (Dân chủ là tiền đề quyết định để Việt Nam tự cường dân tộc và tiến tới thiết lập quan hệ liên minh chiến lược với Mỹ và đồng minh, đặc biệt là tham gia liên minh Mỹ - Nhật - Ấn - Úc. Đó là điều kiện cần và đủ để Việt Nam có thể tồn tại bên cạnh con “sư tử Trung Hoa” đã thức giấc.)
Tại cuộc làm việc của Bộ Chính trị với Thành uỷ Hà Nội hôm 20/10, TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của thủ đô và chỉ đạo là phải “xây dựng Hà Nội thành ‘thành phố rồng bay’.”
Và với “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải do chính ngài TBT đặt vào vị trí “đầu rồng”, có lẽ ai cũng hình dung ra “con rồng Hà Nội” đã và đang kéo “con rồng Việt Nam” bay về phương nào.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Bài báo bị gỡ, nhà báo từ chức và quyền lực của ‘nhóm lợi ích Tàu’

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 31.10.2017



Bài báo hiện giờ chỉ còn trên trang Thương hiệu & Công luận
thay vì Nhà báo & Công luận.
Ngày 16/10, báo điện tử Nhà báo & Công luận đăng bài “Vụ mua gần 800.000 tấn than trái chỉ đạo của Thủ tướng: Xin đừng để Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đơn độc” của tác giả Vĩnh Quang. Tuy nhiên, chỉ mấy tiếng sau bài báo đã bị gỡ xuống một cách bí ẩn.
Nội dung bài báo là về kết luận thanh tra của Bộ Công thương do Bộ trưởng Trần Tuấn Anh ký, nhằm vào sai phạm của Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng trong việc thực hiện trái chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
Chỉ thị 21/CT-TTg (“Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than”) do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 26/8/2015 nêu rõ: “Phê duyệt biểu đồ cấp than cho sản xuất điện từ nguồn than trong nước do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng Công ty Đông Bắc sản xuất và chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mua than trong nước cho sản xuất điện từ hai đơn vị này.”
Tuy nhiên, chỉ thị này đã không được lãnh đạo Bộ Công thương là Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng tuân thủ.

Cụ thể, theo Thông báo số 122A/TB-BCT ngày 18/3/2016 (do Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương Đỗ Văn Côi ký) về kết luận của Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng liên quan đến hợp đồng mua bán điện của một số nhà máy điện thuộc PVN thì ngày 11/3/2016, viên Thứ trưởng đã chủ trì cuộc họp giải quyết vướng mắc trong đàm phán hợp đồng mua bán điện của một số nhà máy, và ông ta đã chỉ đạo: “Đồng ý để nhà máy điện Vũng Áng 1 được thanh toán chi phí than đã mua từ nguồn khác…”.
Ngoài ra, Hoàng Quốc Vượng còn chỉ đạo vượt quyền cả Bộ trưởng Bộ Công Thương khi yêu cầu: “Cục Điều tiết điện lực chịu trách nhiệm rà soát nhằm sửa đổi, bổ sung nội dung của Thông tư 56/2014/TT-BCT trong các trường hợp phát sinh trong thực tiễn là các nhà máy nhiệt điện mua than từ nhiều nguồn khác nhau…”. (Viên Thứ trưởng thậm chí còn có ý định sửa đổi cả một thông tư để vượt quyền Thủ tướng, cho phép các nhà máy nhiệt điện mua than từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong công văn số 565/BCT-ĐTĐL ngày 19/1/2017, khi ông Hoàng Quốc Vượng chỉ đạo: “…Cho phép được mua than từ Công ty Hoành Sơn…, tổng khối lượng than mua không vượt quá 900 nghìn tấn…”.)
Bộ máy công quyền Việt Nam xưa nay hiếm khi công bố kết quả thanh tra nội bộ; kết luận thanh tra của một tân bộ trưởng nhằm vào sai phạm của một thứ trưởng kỳ cựu lại càng hiếm hoi. Theo “thông lệ Việt Nam”, người ta dễ liên tưởng vụ việc này với cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ ban lãnh đạo Bộ Công thương. Và việc “kết luận thanh tra” được phơi bày trên truyền thông cho thấy đây là một cuộc “so đấu” rất gay cấn, thể hiện sự bất lực của Bộ trưởng Trần Tuấn Anh trước thành trì quyền lực của Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng.
Trong khi yêu cầu phải báo cáo, xử lý sai phạm của từng cá nhân, đơn vị trong thương vụ mua than nói trên của Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã quá thời hạn hơn nửa năm nhưng vẫn chưa được thực hiện thì sự kiện bài báo mang tựa đề “Xin đừng để Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đơn độc” mới được đăng lên chưa được bao lâu đã bị gỡ xuống một cách bí ẩn chẳng khác nào cái tát vào mặt ngài Bộ trưởng, nhân vật được một số người xem là “ngôi sao đang lên”.
Chưa hết, theo nhà báo Nguyễn Hoài Nam, mặc dù sau khi đăng, cái tên Hoàng Quốc Vượng đã bị loại bỏ khỏi bài báo nhưng cuối cùng nó vẫn bị gỡ xuống. Tác giả bài báo thì bức xúc đến mức xin từ chức phó trưởng phòng báo điện tử của báo Nhà báo & Công luận.
Đến đây thì có lẽ ai cũng phải bật ra câu hỏi trong đầu: cái tay Hoàng Quốc Vượng kia là ai mà “ghê gớm” làm vậy?
Xin thưa, Hoàng Quốc Vượng nguyên là trợ lý của Hoàng Trung Hải thời kỳ đương kim Bí thư Thành uỷ Hà Nội còn là Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) giai đoạn 1998-2000. Sau khi trở thành Bộ trưởng Công nghiệp (2003-2007), Hoàng Trung Hải đã đưa viên trợ thủ thân tín của mình lên làm Chánh Văn phòng Bộ Công nghiệp.
Tháng 8/2008, Hoàng Quốc Vượng được “luân chuyển” về Thái Nguyên làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Đến tháng 8/2010, ông ta được điều về giữ chức Thứ trưởng Bộ Công thương. Tháng 9/2012, ông ta được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Thành viên EVN. Tháng 1/2015, ông ta trở lại làm Thứ trưởng Bộ Công thương, và được phân công phụ trách trực tiếp ngành điện lực Việt Nam dưới thời Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng như thời Bộ trưởng Trần Tuấn Anh.
Điện lực là lĩnh vực nằm dưới sự khuynh loát của “nhóm lợi ích Tàu” từ thời Hoàng Trung Hải còn làm Tổng Giám đốc EVN (1998-2000). Trở thành Thứ trưởng (2000-2003) rồi Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (2003-2007) và cuối cùng là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế ngành (trong đó có ngành điện lực; 2007-2016), Hoàng Trung Hải càng có điều kiện lũng đoạn ngành kinh tế hạ tầng hết sức trọng yếu này của Việt Nam. (Liên minh ma quỷ này ngang ngược đến mức sẵn sàng trao cả một dự án nhiệt điện lên đến 3,5 tỷ USD cho một công ty chuyên doanh… mực in, dĩ nhiên đằng sau đó là một âm mưu mờ ám.)
Không còn nghi ngờ gì, ngay cả khi đã rời khỏi vị trí Phó Thủ tướng, Hoàng Trung Hải vẫn tiếp tục kiểm soát ngành điện lực Việt Nam thông qua bàn tay đệ tử ruột Hoàng Quốc Vượng.
Dưới sự thao túng của “nhóm lợi ích” Hoàng Trung Hải, điện lực Việt Nam gần như trở thành một phiên bản của của ngành điện lực Trung Quốc. Vấn đề nằm ở chỗ, so với “nguyên bản Trung Quốc” thì “phiên bản Việt Nam” lại có trình độ công nghệ thấp kém hơn nhiều và đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường đến mức báo động. Nghiêm trọng hơn, dưới sự phù phép của Hoàng Trung Hải, không chỉ an ninh năng lượng mà một loạt vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng trên khắp Việt Nam đã bị Bắc Kinh kiểm soát thông qua những dự án nhiệt điện hay thuỷ điện mà hầu hết hoặc do Trung Quốc làm tổng thầu, làm chủ đầu tư hoặc cung cấp thiết bị.
Đằng sau Hoàng Quốc Vượng chính là “nhóm lợi ích Tàu” do “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải cầm đầu. Đây mới là nhóm lợi ích hùng mạnh và tanh tưởi nhất Việt Nam, thủ phạm của hầu như mọi vấn nạn Trung Quốc trên dải đất hình chữ S suốt mười mấy năm qua, bởi nó đã khống chế và thao túng một loạt lãnh đạo chóp bu của cộng sản Việt Nam.
Rõ ràng, tương lai đất nước phụ thuộc cốt tử vào việc giải bài toán mang tên “nhóm lợi ích Hoàng Trung Hải”.

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

‘Viện đạo đức học’ và tiếp theo là gì?

Lê Anh Hùng | VOA| 30.10.2017



Tại cuộc hội thảo khoa học “Sửa đổi lối làm việc - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” nhân kỷ niệm 70 năm ra đời tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 18/10 vừa qua, PGS Nguyễn Trọng Phúc đã đưa ra đề xuất thành lập Viện Đạo đức học để “dạy cán bộ đạo đức và những chuẩn mực đạo đức trong đảng”.
Ủng hộ và phản đối
Đề xuất của ông cựu Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng ngay lập tức khiến dư luận bàn tán xôn xao và trở thành chủ đề của hàng chục bài báo cùng vô số ý kiến bình luận, trên cả truyền thông “lề đảng” lẫn “lề dân”.
Bài “Đề xuất lập Viện Đạo đức học để huấn luyện cán bộ” trên VnExpress, chẳng hạn, đã thu hút hàng chục người bình luận. Và trong tổng số 63 bình luận đến ngày 24/10, đa số ý kiến phản bác đề xuất của ông Phúc, số ủng hộ chỉ lẻ tẻ vài người.
Hai bình luận được nhiều “like” nhất là “Trời ơi! Đang tinh giản biên chế mà còn muốn mọc ra viện đạo đức!” và “Việt Nam đi ngược với thế giới! ‘Uốn tre chứ không uốn măng!’ Đạo đức phải được dạy từ nhỏ, chứ không phải để đợi lên làm cán bộ rồi mới vào viện này học! Bộ máy đã không được tinh giản rồi, giờ phải gánh thêm cái viện ‘uốn tre’ này nữa!”

Ngoài ra, vài ý kiến đáng suy ngẫm khác là “Tôi nghĩ viện đạo đức không hiệu quả mà còn tốn thêm ngân sách. Thời điểm để hình thành chuẩn mực đạo đức là tuổi thiếu niên và nhi đồng, sau này làm cán bộ thì cần có cơ chế giám sát, kiểm tra và cân bằng. Xin nhắc lại, quan trọng nhất là có cơ chế giám sát và kiểm tra”; “Quan trọng nhất là cơ chế giám sát và kỉ luật. Nếu làm tốt thì khỏi cần viện đạo đức để thêm tốn kém”; và “Vừa bực vừa buồn cười”.
VnExpress là tờ báo điện tử thuộc hệ thống báo chí nhà nước, với lượng độc giả đông hàng đầu Việt Nam, và cơ quan chủ quản là Bộ Khoa học - Công nghệ. Dưới nhãn quan của bộ máy tuyên truyền cộng sản thì đa số độc giả của VnExpress không phải là “thế lực thù địch”. Vì thế, ý kiến “vừa bực vừa buồn cười” nêu trên xem ra đã chuyển tải chính xác “cảm xúc” của một bộ phận đáng kể trong dân chúng.
Các ý kiến bình luận trên hệ thống “báo chí lề dân” nhìn chung là thẳng thắn hơn nhiều, và hầu như ai cũng phản đối đề xuất của PGS Phúc.
“Giá trị thực tiễn”
Liên quan đến câu chuyện trên, vấn đề được quan tâm nhiều nhất là: Liệu “sáng kiến” Viện Đạo đức học có được lãnh đạo CSVN hiện thực hoá hay không?
Mặc dù những người ủng hộ đề xuất của PGS Phúc chỉ là thiểu số, nhưng trong cuộc sống, chân lý chưa chắc đã thuộc về số đông. Vì thế, câu hỏi trên hoàn toàn không dễ trả lời như một phép toán cộng trừ đơn giản.
Để tìm lời giải đáp cho nó, chúng ta hãy thử đặt ra hai tình huống giả định dưới đây.
1) Nếu nguyên tắc “tự phê bình và phê bình” chưa được các đảng cộng sản trên thế giới áp dụng và bây giờ ai đó đề nghị áp dụng để thiết lập lại trật tự kỷ cương cho bộ máy công quyền ở Việt Nam thì sao? Tương quan giữa số người ủng hộ và phản đối đề xuất đó sẽ thế nào?
2) Nếu tại thời điểm này, Đảng CSVN chưa phát động “Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và một ai đó đề xuất thực hiện cuộc vận động này để cứu vãn sự suy đồi đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thì sao? Tỷ lệ người ủng hộ so với phản đối sẽ thế nào?
Câu trả lời thuyết phục nhất cho cả hai câu hỏi trên xem ra là: Số người phản đối sẽ áp đảo số ủng hộ – giống như với đề xuất của ông cựu Viện trưởng Viện Lịch sử đảng.
Nghĩa là, nếu dựa trên tương quan giữa số người ủng hộ và phản đối để quyết định số phận của hai thứ “bảo bối” thông dụng nhất mà ban lãnh đạo CSVN vẫn đang áp dụng nhằm duy trì kỷ cương trong đảng và ngăn chặn tình trạng xuống cấp của đạo đức công vụ thì chắc chắn cả hai đều bị loại “từ vòng gửi xe”.
Tuy nhiên trên thực tế, “tự phê bình và phê bình” – một nguyên tắc do Lenin “sáng tạo” ra sau khi cầm quyền được 5 năm – đã tồn tại gần một thế kỷ nay. Và bất chấp kết cục tha hoá không tránh khỏi của bất kỳ đảng cộng sản nào sau khi trở thành đảng cầm quyền, các lãnh tụ cộng sản vẫn luôn dành cho nó những mỹ từ ấn tượng nhất.   
Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là “thứ vũ khí thần diệu để đảng thường xuyên trong sạch, vững mạnh”. Nhân vật khai sinh ra chế độ CSVN thậm chí còn ví von: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, vì vậy mà “mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong đảng sẽ không có bệnh và đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng”. Lê Duẩn thì tỏ ra “mộc mạc và thẳng thắn” hơn: “Nhà nư­ớc ta là nhà n­ước xã hội chủ nghĩa, nhà nư­ớc do dân và vì dân chứ không phải là nhà nư­ớc t­ư bản của giai cấp tư­ sản. Chúng nó cần pháp luật để cai trị bóc lột nhân dân còn chúng ta là nhà n­ước XHCN chúng ta không cần pháp luật. Chúng ta chỉ cần phê bình và tự­ phê bình là đủ.” Còn đương kim TBT Nguyễn Phú Trọng thì khẳng định: “Kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là khâu mấu chốt, cực kỳ quan trọng” trong công tác “xây dựng đảng”.
Dù vậy, đến nay hẳn ai cũng có thể trả lời được câu hỏi: Liệu cái gọi là “vũ khí thần diệu” hay “khâu mấu chốt, cực kỳ quan trọng” nói trên có thay thế được pháp luật đúng nghĩa trong việc ngăn chặn sự tha hoá đạo đức trong đảng hay không?
Trong khi đó, “Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM” đã ra đời ngót 11 năm. Ở mỗi cấp từ trung ương đến xã phường đều có ban chỉ đạo cuộc vận động do bí thư cấp uỷ làm trưởng ban; Tổng Bí thư làm Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương. Mỗi năm trên cả nước, từ trung ương đến địa phương, người ta không thể thống kê nổi có bao nhiêu cuộc họp, lễ sơ kết, lễ tổng kết liên quan đến cuộc vận động, và bao nhiêu văn bản chỉ đạo, chỉ thị, hướng dẫn về cuộc vận động; không thể thống kê hết bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của mà hệ thống chính trị hiện hành đã tiêu phí cho cuộc vận động này.
Và giờ thì hẳn ai cũng dễ dàng trả lời câu hỏi: Từ khi lãnh đạo CSVN phát động cái gọi là “Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM” đến nay, đạo đức của đội ngũ “đầy tớ nhân dân” nói riêng và đạo đức xã hội nói chung đi lên hay đi xuống? (Ở đây chưa cần xét đến thực chất của “tấm gương đạo đức” kia là thế nào.)
Tóm lại, bất kể số người ủng hộ “sáng kiến” của PGS Phúc chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ vài %, song việc nó được lãnh đạo CSVN áp dụng lại là một khả năng thực tế, thậm chí là cao. “Có bệnh thì vái tứ phương.” Một khi CSVN vẫn dị ứng với phương thuốc “tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng” mà nhân loại tiến bộ đã áp dụng hàng trăm năm nay thì việc họ viện đến “phương thuốc” của “thầy Phúc” là điều không có gì phải ngạc nhiên.
Và thái độ của chúng ta
Thomas Henry Huxley (1825-1895), nhà sinh vật học nổi tiếng người Anh và là người cổ suý nhiệt thành của thuyết tiến hoá, từng viết trong tác phẩm “The Struggle for Existence in Human Society” (tạm dịch: “Cuộc đấu tranh sinh tồn trong xã hội loài người”): “Thật sai lầm khi lại mường tượng rằng quá trình tiến hoá biểu thị một xu hướng liên tục hướng tới sự hoàn hảo. Quá trình đó chắc chắn liên quan đến sự thay hình đổi dạng liên tục của sinh vật nhằm thích ứng với điều kiện mới, song tuỳ thuộc vào bản chất của những điều kiện như thế mà chiều hướng của những đổi thay này sẽ đi lên hay đi xuống.”
Chủ nghĩa cộng sản là một chủ thuyết phi nhân và trái quy luật. Điều đó giải thích cho sự thất bại của nó với tư cách một ý thức hệ trên phạm vi toàn cầu từ cuối thập niên 1980.  
Từ góc nhìn Huxley, xã hội cộng sản rõ ràng là môi trường lý tưởng cho những “phát kiến” kiểu như “tự phê bình và phê bình”, “làm chủ tập thể”, “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”, “viện đạo đức học dạy đạo đức cho cán bộ”, v.v. và v.v.
Vậy nên chúng ta có thể buồn cười chứ không cần phải bực mình nếu “sáng kiến” của PGS Nguyễn Trọng Phúc được lãnh đạo CSVN “hiện thực hoá”, bởi đó là một bước “tiến hoá” đưa hệ thống hiện hành đến gần hơn với kết cục diệt vong tất yếu của nó.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

Nghèo mà đâu được bình yên!

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 29.10.2017



BOT đang làm giàu cho người giàu và khốn cùng hóa người nghèo?
Sự kiện trạm thu phí BOT dự án đường tránh thị xã Cai Lậy buộc phải tạm dừng hoạt động từ ngày 15/8 là một chuyện hy hữu từ trước tới nay ở Việt Nam, khiến dư luận xôn xao bàn tán. Giới truyền thông trong nước thậm chí còn đặt cho nó một cái tên đầy ấn tượng: “Cai Lậy thất thủ!”
Mặc dù không phải là dự án BOT giao thông đầu tiên bị công chúng phản đối gay gắt (trước đó là dự án BOT Bến Thuỷ từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017), nhưng thắng lợi của giới tài xế đi qua trạm BOT Cai Lậy đã thực sự châm ngòi cho làn sóng phản đối các dự án BOT giao thông trên toàn quốc.
Sau sự kiện “Cai Lậy thất thủ”, dự án BOT tuyến đường tránh thành phố Biên Hoà trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận. Trong 4 ngày liên tiếp, bắt đầu từ ngày 2/10,  nhiều tài xế đã dùng tiền lẻ mệnh giá 200-500VNĐ để mua vé qua trạm thu phí BOT Biên Hòa khiến giao thông khu vực bị ùn ứ, tắc nghẽn nghiêm trọng, kéo dài trên 5km. Cuối cùng, đến ngày 5/10, chủ đầu tư đã buộc phải cho trạm thu phí BOT Biên Hoà tạm ngừng hoạt động.

BOT Biên Hoà được cộng đồng mạng ví như một BOT Cai Lậy thứ hai. Quả vậy, không chỉ sự phản đối mạnh mẽ cộng với chiến thuật thông minh và bền bỉ của giới tài xế cuối cùng đã dẫn đến sự kiện “Biên Hoà thất thủ”, mà sai phạm của dự án BOT giao thông này cũng y chang dự án BOT đường tránh Cai Lậy.
Dự án BOT Cai Lậy bao gồm hai hợp phần là đầu tư xây dựng công trình quốc lộ 1A qua đoạn tránh thị xã Cai Lậy (dài 12km) và tăng cường mặt đường đoạn Km 1987+560 - Km 2014+000 (dài 26km, trong đó khoảng 1/3 tuyến đi qua TX Cai Lậy). Dự án BOT Biên Hoà cũng bao gồm hai hợp phần: (i) đầu tư xây dựng tuyến đường tránh TP Biên Hoà từ Km 1851+714 QL1 đến Km 5+000 QL51 (dài 12km), và (ii) tăng cường mặt đường 10km quốc lộ 1A đoạn từ Km1841+000 đến Km1851+714.
Cả hai dự án BOT giao thông ở Cai Lậy và Biên Hoà đều lấy lý do là dự án có hợp phần tăng cường mặt đường quốc lộ 1A để thu phí tất cả các phương tiện lưu thông trên quốc lộ, thay vì lẽ ra chỉ được thu phí các phương tiện đi vào tuyến đường tránh.
Tuy nhiên, các tài xế qua hai trạm thu phí BOT này lại không chấp nhận sự áp đặt phi lý đó, vì hai lý do: (i) họ không đi vào tuyến đường tránh (hoặc nếu đi vào thì mức phí cũng không cao như hiện tại, bởi không tương xứng với chi phí mà chủ đầu tư đã bỏ ra để xây dựng nó), và (ii) họ đã đều đặn nộp phí bảo trì đường bộ hàng năm nên không thể bắt họ phải trả thêm phí cho cái gọi là “tăng cường mặt đường” kia được. Yêu cầu của giới tài xế là chủ đầu tư phải di dời các trạm thu phí BOT này đến tuyến đường tránh, chứ không được đặt trên quốc lộ 1A.
Sai phạm ở BOT Cai Lậy và BOT Biên Hoà không phải là cá biệt. Ngược lại, đây là thủ đoạn “trấn lột” dân công khai và trắng trợn của nhóm lợi ích giao thông tại một loạt dự án BOT giao thông trên cả nước.
Dưới đây là một vài “thành quả” điển hình khác từ công cuộc “hợp tác” giữa đám tham quan nhũng lại và các tập đoàn mafia kinh tế.
Dự án BOT đường tránh TP Phủ Lý, gồm 2 hợp phần: phần tuyến tránh TP Phủ Lý (điểm đầu tại Km216+874, QL1; điểm cuối tại Km235+885, QL1) và phần “tăng cường mặt đường” (điểm đầu tại Km215+775, QL1; điểm cuối tại Km235+885, QL1). Với lý do là dự án có hợp phần tăng cường mặt đường quốc lộ 1A, chủ đầu tư đã đặt trạm thu phí BOT dự án ngay trên quốc lộ 1 (trạm thu phí Nam Cầu Giẽ, km216+600 quốc lộ 1A), bất kể phương tiện lưu thông bị thu phí có đi vào đường tránh TP Phủ Lý hay không. Dự án khởi công ngày 12/10/2014 và bắt đầu thu phí từ ngày 24/11/2016.
Dự án BOT đường tránh TP Sóc Trăng, tổng chiều dài 16,22 km, gồm 2 hợp phần, trong đó hợp phần xây dựng tuyến tránh dài 7,68km và hợp phần cải tạo, mở rộng quốc lộ 1A dài 8,54 km. Dự án khởi công ngày 7/2/2015 và bắt đầu thu phí từ ngày 1/6/2017 trong 18 năm 9 tháng. Vị trí đặt trạm thu phí tại đặt tại số 78 quốc lộ 1A, ấp An Trạch, xã An Hiệp, huyện Châu Thành.
Dự án BOT đường tránh TP Hà Tĩnh, mặc dù khởi công ngày 19/1/2015 và hoàn thành ngày 4/12/2015, nhưng chủ đầu tư là Tổng Cty Sông Đà đã thu phí từ ngày… 1/1/2009, còn địa điểm đặt trạm thu phí thì cách dự án đến 30km, dĩ nhiên là trên quốc lộ 1A (trạm thu phí Cầu Rác).
Theo tạp chí Nhà Đầu Tư, dự án BOT tuyến tránh TP Biên Hoà được đánh giá là “con gà đẻ trứng vàng” của chủ đầu tư. Năm 2016, Cường Thuận IDICO đạt doanh thu thu phí 293 tỷ VNĐ; trừ đi chi phí hoạt động (103 tỷ VNĐ), doanh nghiệp này ghi nhận lợi nhuận ròng 190 tỷ VNĐ từ trạm BOT tuyến tránh TP Biên Hoà, tăng 31% so với năm 2015. Tổng cộng, kể từ khi đi vào vận hành giữa năm 2014 cho đến cuối tháng 6/2017, trạm BOT tuyến tránh TP Biên Hoà đã mang về cho Cường Thuận IDICO 730 tỷ VNĐ doanh thu và gần 500 tỷ VNĐ lãi ròng. (Theo “thông lệ Việt Nam”, con số thực tế nằm ngoài sổ sách chắc chắn không chỉ dừng ở mức “khiêm tốn” như thế.)
Khi dự án BOT tuyến tránh Biên Hoà tạm ngưng thu phí, một bài báo trên trang Zing News đã chạy hàng tít “Cuộc sống bình yên đến lạ khi BOT tuyến tránh Biên Hòa xả trạm”.
Đúng vậy, không chỉ cư dân thành phố Biên Hoà và vùng phụ cận, mà hàng triệu người dân xung quanh vô số trạm thu phí BOT giao thông trên khắp cả nước vẫn đang từng ngày từng giờ bị đám đạo tặc đội lốt “đầy tớ nhân dân” và “doanh nhân” ngang nhiên tước đoạt cả tiền bạc lẫn cuộc sống bình yên của họ.

Họ đã nghèo, mà nào đâu có được bình yên!