Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

PHƯƠNG THUỐC QUÝ CHO BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG

Lê Anh Hùng | 11.11.2013




Mẹ tôi vốn mắc bệnh tiểu đường từ nhiều năm nay. Đây là một căn bệnh khó chữa và là một nguyên nhân chính của nhiều căn bệnh hiểm nghèo khác. Chính vì vậy mà sức khoẻ của bà ngày càng sa sút.
Cách đây hơn một tháng, khi ra chợ Đông Hà (Quảng Trị) để mua cao lá vằng cho mẹ, tôi phát hiện ra quầy hàng bán cao lá vằng còn bày bán một số loại cao khác, đặc biệt là cao tiểu đường. Thật là một sự tình cờ may mắn. Tôi bèn mua một hộp về cho mẹ uống thử xem sao.
Gần một tháng sau, mẹ tôi bảo tôi mua tiếp loại cao tiểu đường đó cho bà, vì kết quả rất tốt, lượng đường trong máu giảm xuống nhanh. Quan trọng hơn, đây là thuốc nam nên ít gây ra tác dụng phụ cho người bệnh như thuốc tây.
Tuy nhiên, tôi nhận thấy mặc dù đây là một phương thuốc hiệu nghiệm nhưng xem ra chưa được nhiều người biết đến. Vì vậy, tôi quyết định tìm hiểu và phổ biến thông tin này đến mọi người, bởi ở Việt Nam số người mắc bệnh tiểu đường đang tăng rất nhanh: Năm 2002 Việt Nam chỉ có 2,7% người bị đái tháo đường nhưng năm 2012 con số này đã là 5,7% - một tốc độ cực kỳ nhanh so với mức trung bình của thế giới. 
Ông chủ hiệu thuốc nam tên là Trần Đình Tự, năm nay 60 tuổi. Ông từng đi bộ đội, sau năm 1975 thì chuyển ngành sang công an, và đến khi tỉnh Bình Trị Thiên chia thành ba tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và Quảng Bình thì ông lại chuyển sang ngành lao động - thương binh - xã hội. Năm 2008, ông nghỉ hưu.

Lương y Trần Đình Tự trước quầy thuốc của mình ở chợ Đông Hà, Quảng Trị
Ông nội của ông vốn là một lương y thuốc nam. Tuy nhiên, trong số con cháu của cụ thì chỉ có người cháu nội Trần Đình Tự là nối nghiệp cụ. Bản thân ông Tự cũng chỉ bắt đầu hành nghề này sau khi nghỉ hưu. Trước đó, vợ ông (bà Hồ Thị Tính) bị mắc bệnh tiểu đường. Ông đã tự tay tìm các thứ cây lá và theo chỉ dẫn trong các cuốn sách thuốc mà ông nội để lại, kết hợp với các cuốn sách mà ông đã mua được trong những lần sang Trung Quốc trước kia, rồi nấu thành cao để chữa bệnh cho vợ. Vợ ông chính là “bệnh nhân” đầu tiên mà ông “thể nghiệm” phương thuốc của mình.
Sau khi nghỉ hưu, ông bắt tay vào nghề chữa bệnh bằng các loại cao cũng như các thang thuốc khác từ cây lá.
Nguyên liệu làm thuốc của ông gồm trên 100 vị thuốc nam, điển hình như cây chó đẻ, mật nhân, chè cát, cà gai leo, kim tiền thảo, rễ rum, củ một, quả tràm, lá đung, lá rau ngô, rau má… Các vị thuốc này do tự tay ông tìm kiếm, và cũng chính ông nấu thành cao.

Các loại cao do lương y Trần Đình Tự tìm kiếm nguyên liệu và tự tay nấu
Ngoài tiểu đường, ông còn chữa được nhiều bệnh khó chữa khác như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ, gút, sỏi thận, u nang, u xơ, khớp, gai cột sống, suy thận cấp, xơ gan… Tất cả đều từ phương thuốc nam rất hiệu nghiệm mà rẻ tiền của ông (một lạng cao tiểu đường giá 150.000 VNĐ, pha nước uống trong vòng 20 - 25 ngày).
Ngoài nấu cao, lương y Trần Đình Tự còn bốc thuốc chữa bệnh từ các loại cây lá
Ông Tự cho biết, đến nay ông đã chữa dứt bệnh cho hàng trăm người bị tiểu đường và các bệnh nói trên. Bệnh nhân của ông rải khắp ở Quảng Trị, Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh… Qua người này người nọ giới thiệu mà họ tìm đến ông. Những người ở xa thì điện thoại cho ông, thanh toán tiền qua tài khoản trước rồi ông gửi thuốc cho họ theo đường bưu điện.
Đối với những bệnh nhân nghèo, gia cảnh khó khăn, ông thường giúp đỡ và chữa bệnh không lấy tiền.

Hiện nay, ngoài hai cơ sở ở Quảng Trị (Khu phố 5 – Phường 1 – Tp Đông Hà và Định Sơn – Cam Nghĩa – Cam Lộ – Quảng Trị; điện thoại 0934512040 – 0969520502), ông còn có một cơ sở ở Hà Nội (Cổ Nhuế – Từ Liêm; điện thoại: 0944666659), nơi người con gái lớn của ông lấy chồng, sinh sống và làm việc. Bệnh nhân ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc có thể mua thuốc tại cơ sở ở Hà Nội./.

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Quan hệ quân sự Việt-Mỹ ngày càng nồng ấm

Carlyle Thayer | The Diplomat | 6.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Tháng trước, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tổ chức hai cuộc họp an ninh cấp cao thường niên quan trọng ở Washington: Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng lần thứ 6 và Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 4.
Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 6diễn ra ngày 1.10 ở cấp thứ trưởng. Đại diện Hoa Kỳ là Quyền Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách chính trị - quân sự Tom Kelly và đại diện của Việt Nam là Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc.
Cuộc đối thoại này có một nghị trình đa dạng, liên quan đến toàn bộ những chủ đề được quan tâm về chính trị, an ninh và quốc phòng. Điều này được phản ảnh qua thành phần tham dự.
Phái đoàn Mỹ bao gồm các đại diện đến từ Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cơ quan Phát triển Quốc tế và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương. Phái đoàn Việt Nam bao gồm các đại diện đến từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Nghị trình của cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng lần thứ 6 bao gồm chống khủng bố, chống buôn bán ma tuý, nạn buôn người, thực thi luật lệ về Internet, quốc phòng và an ninh, ứng phó thảm hoạ, tìm kiếm cứu nạn, các vấn đề di sản chiến tranh và hợp tác trong các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 4cũng được tổ chức ở cấp thứ trưởng, với sự tham dự của các quan chức quốc phòng hai bên. Cuộc đối thoại lần thứ tư diễn ra ở Washington trong hai ngày 28-29/10. Đại diện phía Hoa Kỳ là Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng đặc trách Nam Á và Đông Nam Á Vikram Singh, còn đại diện của Việt Nam là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh.
Cả hai cuộc đối thoại đều diễn ra trong khuôn khổ của Biên bản Ghi nhớ (MOU) về Thúc đẩy Hợp tác Quốc phòng Song phương ngày 19.9.2011 và Tuyên bố chung Mỹ-Việt ngày 25.7.2013.
Biên bản Ghi nhớ năm 2011 đặt ra 5 lĩnh vực ưu tiên cho hợp tác quốc phòng song phương: đối thoại cấp cao định kỳ giữa Bộ Quốc phòng hai nước, an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm hoạ, và gìn giữ hoà bình. Trên thực tế, Biên bản Ghi nhớ này là một sự thể chế hoá các hoạt động đã và đang diễn ra. Biên bản Ghi nhớ cũng là một biện pháp minh bạch nhằm giảm bớt – tới mức độ khả dĩ – lo ngại của Bắc Kinh về sự câu kết quân sự Mỹ-Việt hòng chống Trung Quốc.
Các cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt diễn ra dưới cái bóng của di sản chiến tranh Việt Nam. Việt Nam sử dụng những dịp như thế để loan báo tiến bộ trong hoạt động tìm kiếm lính Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Chẳng hạn, trong chuyến thăm Hà Nội tháng 6.2012 của Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, Việt Nam đã thông báo là họ đang khai trương 3 trang mạng mới để phục vụ cho mục đích tìm kiếm lính Mỹ mất tích. Điều này diễn ra ngay trước thềm của cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng lần thứ 5. Tại cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 2, Việt Nam đã trao 6 bộ hồ sơ liên quan đến hoạt động tìm kiếm lính Mỹ mất tích.
Washington sử dụng các dịp đối thoại quốc phòng để tái khẳng định cam kết liên tục trong việc rà phá bom mìn từ thời chiến tranh Việt Nam và xử lý hậu quả độc hại của chất độc da cam. Tại cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 2, chẳng hạn, Hoa Kỳ tuyên bố là họ sẽ tiếp tục giúp Việt Nam trong việc khắc phục “hậu quả của chiến tranh”, một lối nói uyển ngữ về bom mìn chưa nổ và tình trạng nhiễm độc dioxin.
Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt theo Biên bản Ghi nhớ 2011 đã diễn ra với một nhịp độ thận trọng và từ từ. Ngay trước khi ký kết Biên bản Ghi nhớ này, chiếc tàu đầu tiên của Bộ Tư lệnh Hải vận Quân sự đã được sửa chữa nhỏ tại vịnh Cam Ranh. Bốn tàu khác của Bộ Tư lệnh Hải vận Quân sự đã được sửa chữa ở đây sau khi MOU được ký kết. Chi phí mỗi lần sửa chữa là dưới nửa triệu USD.
Tháng 10.2011, Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam đã có bài phát biểu trước tập thể giảng viên và sinh viên của Đại học Quốc phòng Hoa Kỳ. Lần đầu tiên, Việt Nam đã gửi một sinh viên tới Đại học Chiến tranh Hoa Kỳ (U.S. War College) và một tới Trường Tham mưu Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Staff College).
Từ tháng Sáu đến tháng Tám 2012, Việt Nam đã gửi nhà quan sát đầu tiên của mình đến cuộc Tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC). Tháng Bảy 2012, Hoa Kỳ đón tiếp Ban Chỉ đạo 501, cơ quan phụ trách xử lý vật liệu nổ tại Việt Nam. Tháng 10 cùng năm, tàu sân bay USS George Washington đón tiếp phái đoàn quan chức Việt Nam ra thăm trên vùng biển quốc tế ngoài khơi bờ biển phía Đông Việt Nam.
Năm 2012, Việt Nam đón tiếp nhiều quan chức cấp cao Mỹ, trong đó có Tư lệnh Hạm đội 7 (tháng Giêng), Bộ trưởng Quốc phòng Panetta (tháng Sáu), Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương và một phái đoàn của Đại học Quốc phòng Mỹ (tháng Mười). Tháng 4/2012, Việt Nam tổ chức giao lưu hải quân Việt-Mỹ lần thứ 3 tại cảng Đà Nẵng với các hoạt động liên quan đến hoạt động đào tạo cứu hộ hàng hải, cứu trợ thảm hoạ, nhưng không có tập trận bắn đạn thật hay trao đổi kỹ năng chiến đấu.
Năm 2013, Việt Nam tổ chức Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 3 vào tháng Giêng và giao lưu hải quân phi tác chiến lần thứ 4 tại Đà Nẵng vào tháng Tư.
Một sự kiện quan trọng khác là cuối tháng 6/2013, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đã lần đầu tiên tiếp đón Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (và là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Thượng tướng Tướng Đỗ Bá Tỵ. Đoàn Việt Nam còn có Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Phó Tư lệnh Hải quân và Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo.
Quan hệ song phương Việt-Mỹ vươn lên tầm cao mới khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp Chủ tịch Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng vào tháng 7/2013. Hai nhà lãnh đạo đã nhất trí “mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ song phương” bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt.
Tuyên bố chung của hai nhà lãnh đạo bao gồm 9 điểm. Điểm thứ sáu là về các vấn đề di sản chiến tranh và điểm thứ bảy liên quan đến hợp tác quốc phòng và an ninh. Không sáng kiến quan trọng nào phù hợp với bản chất đang tiến triển của mối quan hệ quân sự song phương được hai bên loan báo.
Cả hai nhà lãnh đạo đều bày tỏ sự hài lòng với việc thực hiện MOU 2011và tái khẳng định cam kết thực hiện đầy đủ Biên bản Ghi nhớ này. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tổ chức các cuộc Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng và Đối thoại Chính sách Quốc phòng giữa hai nước.
Về hợp tác trong quan hệ tương lai, hai bên quyết định mở rộng hợp tác để nâng cao năng lực ứng phó thảm hoạ và tìm kiếm cứu nạn cho Việt Nam và tăng cường hợp tác về an ninh phi truyền thống. Tuyên bố chung giữa hai nước lưu ý đến hoạt động chống khủng bố, thực thi pháp luật hàng hải, tội phạm xuyên quốc gia (cướp biển, tội phạm công nghệ cao, và buôn bán người, ma tuý và động thực vật hoang dã) và an ninh mạng. Tổng thống Obama đề nghị hỗ trợ công tác đào tạo và hỗ trợ khác cho việc Việt Nam lần đầu tiên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.
Nghị trình của cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ-Việt lần thứ 4 bao gồm các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế, an ninh hàng hải, di sản chiến tranh (kể cả thông tin về các trường hợp lính Mỹ mất tích trong chiến tranh – MIA), hợp tác trong các diễn đàn đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+), hỗ trợ của Hoa Kỳ dành cho cam kết tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình LHQ của Việt Nam, và kế hoạch hợp tác năm 2014.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trao 4 bộ hồ sơ chứa đựng thông tin về các khu vực tìm kiếm MIA mới. Singh cam kết tăng cường hỗ trợ hoạt động tẩy rửa chất độc da cam và rà phá bom mìn.
Kết quả mới? Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai lực lượng hải quân và các học viện quốc phòng. Một Biên bản Ghi nhớ về hợp tác giữa lực lượng cảnh sát biển của hai nước đã được ký kết.
Sự tiến triển từ từ của các cuộc đối thoại Mỹ-Việt về chính trị, an ninh và quốc phòng phản ảnh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam trong việc duy trì mối quan hệ cân bằng giữa họ với Trung Quốc và Hoa Kỳ. Việt Nam, chẳng hạn, cho đến nay vẫn từ chối tham gia tập trận chung với Mỹ.
Việt Nam giới hạn tàu Hải quân Mỹ ghé thăm cảng của mình mỗi năm một lần và tiếp tục cấm tàu chiến Mỹ tiến vào vịnh Cam Ranh. Đồng thời, Việt Nam vẫn chưa chuẩn thuận yêu cầu của Bộ trưởng Panetta đưa ra tháng 6.2012 về việc thiết lập Văn phòng Hợp tác Quân sự trong Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội.
Việt Nam cũng không hài lòng với điều mà họ coi là cam kết thiếu mạnh mẽ của Hoa Kỳ trong việc giải quyết những di sản của chiến tranh. Trong một cuộc phỏng vấn ngay sau khi kết thúc Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 4, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu: “Một mối quan hệ quốc phòng tốt hơn cần được xây dựng trên cơ sở hiệu quả của sự hợp tác thiết thực, kể cả việc khắc phục hậu quả chiến tranh… Nhìn chung, Hoa Kỳ đã hợp tác tích cực với Việt Nam trong vấn đề này, nhưng chừng đó là chưa đủ vì những hậu quả của chiến tranh là rất khủng khiếp.” Tướng Vịnh cũng lưu ý rằng theo ý kiến của ông thì “chúng ta phải xây dựng lòng tin chiến lược giữa các nhà lãnh đạo hàng đầu của hai nước…”.
Nhận xét này có thể là sự đề cập đến những hạn chế của Mỹ đối với việc bán vũ khí cho Việt Nam bất chấp yêu cầu trực tiếp từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đối với Bộ trưởng Panetta tháng 6.2012.
Theo Quy định Buôn bán Vũ khí Quốc tế (International Trafficking in Arms Regulations), Hoa Kỳ chỉ có thể bán cho Việt Nam một số khí tài và dịch vụ phi sát thương trên cơ sở từng thương vụ một. Việc bán vũ khí sát thương và một số khí tài phi sát thương như kính nhìn ban đêm vẫn bị cấm.
Gần đây, Việt Nam đưa ra sáng kiến giải quyết vấn đề lòng tin chiến lược. Cuối tháng Tám, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng ở Brunei, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã mời Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel thăm Việt Nam năm 2014. Chuck Hagel đã đồng ý.
Theo một thoả thuận năm 2003, Việt Nam và Hoa Kỳ nhất trí trao đổi các cuộc thăm viếng luân phiên của Bộ trưởng Quốc phòng mỗi nước 3 năm một lần. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thăm Washington năm 2003 và 2009. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ công du Hà Nội năm 2006 và 2012. Chuyến thăm của Hagel có thể là dấu hiệu chấm dứt chu kỳ 3 năm và thiết lập sự liên hệ thường xuyên giữa các Bộ trưởng Quốc phòng của hai nước.

Nguồn: The Diplomat

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Ngớ ngẩn hay thông minh: Các nhà kiểm duyệt Việt Nam khiến ai cũng phải phỏng đoán

Nhà chức trách Việt Nam luôn giám sát các hoạt động văn hoá, từ tranh biếm hoạ trên mạng cho đến các buổi hoà nhạc, về cả tình dục cũng như ngôn từ khích động.

Helen Clark | Index on Censorship| 5.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Cuối tháng 10, blogger Đinh Nhật Uy trở thành nhà hoạt động đầu tiên ở Việt Nam bị kết án vì những nội dung đăng trên trang Facebook cá nhân, hay cụ thể hơn là “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” thông qua Facebook (theo Điều 258 Bộ luật Hình sự). Uy phải nhận bản án 15 tháng tù treo và về mặt này thì anh may mắn hơn so với hàng loạt blogger, nhà văn và nhà hoạt động đã bị chính quyền tống vào trại giam hay các trung tâm phục hồi nhân phẩm mấy năm gần đây.
Tuy vậy, không chỉ các blogger và các nhà hoạt động mới chịu sự giám sát của chính quyền. Các hoạt động văn hoá, từ tranh biếm hoạ trên mạng cho đến các buổi hoà nhạc, cũng bị giám sát, về cả tình dục lẫn ngôn từ khích động bạo loạn.
Ngày 4.10, Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời ở tuổi 102. Hai tuần sau, dịp cuối tuần trong thời gian diễn ra lễ tang vị anh hùng thời chiến, phần lớn các kênh truyền hình đóng cửa để thể hiện sự kính trọng. Bài báo lạ lẫm trên BBC bị chặn, tình dục – chứ không phải bạo lực – bị loại ra khỏi nhiều bộ phim nước ngoài mà người ta phát trong nước, còn phụ đề thì thường thay thế ngôn ngữ phản cảm bằng những từ ngữ vô hại hơn. Việc phát sóng truyền hình, bên cạnh cuộc sống về đêm và thú vui karaoke, về cơ bản bị xoá bỏ cho thấy mức độ kính trọng mà người ta dành cho vị tướng già, cũng như mức độ mà chính quyền vẫn kiểm soát nhiều phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Kênh TV nào vẫn phát sóng thì phát những mộ phim cách mạng cũ.
Các blogger thường bị tống giam vì chỉ ra những khuyết tật của nhà nước. Các nhà báo phải đối mặt với rất nhiều hạn chế từ báo chí nhà nước. Người biểu tình phản đối và người rải truyền đơn hay tổ chức đình công cũng bị tống giam. Facebook, nay đã có thể truy cập, từng bị ngăn chặn âm thầm trong nhiều năm và hiện vẫn có nhiều trang mạng mà người ta phải vượt tường lửa để truy cập. Các tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International), Phóng viên Không biên giới (Reporters Without Borders), Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), thậm chí cả Tổng thống Barack Obama, cũng đều lên án về tình trạng thiếu tự do ngôn luận ở Việt Nam.
Nhưng, bạn có biết là bạn lại không thể viết về chuyện quan hệ tình dục qua đường miệng trên các tạp chí phụ nữ hay không? Nghệ thuật, âm nhạc, các ngôi sao nhạc pop, sách, tranh biếm hoạ, biếm hoạ trên mạng, blog, tin tức nước ngoài, tạp chí về phong cách sống, phụ đề TV, bài đăng báo, hoạt động nghiên cứu, kết quả nghiên cứu thị trường, đoạn phim bất lợi, ảnh chụp, lời bài hát, sự kiện tôn giáo, sách tôn giáo, lời giới thiệu của hướng dẫn viên du lịch: tất cả đều bị nhà chức trách kiểm duyệt và giám sát chặt chẽ.
Đôi khi điều đó chỉ là việc bộ chủ quản phạt ca sỹ một khoản tiền nhỏ nhặt vì lộ nội y trong một buổi trình diễn vì điều này “không phù hợp với truyền thống tốt đẹp của Việt Nam”. Những chuyện như thế được các tờ báo và trang mạng đăng tải vào những lúc thiếu tin quan trọng và không khỏi giúp cho ca sỹ kia thêm nổi tiếng.
Quá trình này diễn ra lẻ tẻ, đầy mâu thuẫn và mập mờ. Liệu có phải là nhiều quy định thiếu rõ ràng và thường không được áp đặt hòng khiến cho mọi người phải cảnh giác? Hay đây đơn giản chỉ là những nỗ lực chuệch choạc và đôi khi còn lạc lõng mà các quan chức Việt Nam vẫn thể hiện trên cả nước? Thật khó mà nói cho chính xác.
Có một thời các hoạ sỹ phải trình bản phác hoạ bức tranh mà họ đề xuất vẽ không chỉ trước khi chúng được phết sơn lên. Giờ đây mọi chuyện kém hà khắc hơn nhưng lại bất trắc hơn. Các phòng tranh vẫn cần sự đồng ý trước khi các cuộc trưng bày được phép diễn ra; đôi khi các phòng tranh còn không tổ chức một buổi tiệc triển lãm chính thức. Bởi một người trong giới từng nói là “không có quy định như thế”.
Quyết định 97 (tháng 9/2009) của Thủ tướng Chính phủ không hạn chế ngôn luận mà giới hạn hoạt động nghiên cứu trong phạm vi 317 chủ đề đã được đồng ý trước. Một trong những hiệu ứng tức thời nhất của nó là việc Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) phải tự giải tán để phản đối. 16 thành viên của IDS là các đảng viên và những trí thức nổi tiếng, không phải là những kẻ khích động quần chúng.
Trên lý thuyết, và thường diễn ra trong thực tế, tất cả các cuốn sách Tiếng Việt đều phải chịu kiểm duyệt. Theo một số người Chàm, những tín đồ Hồi giáo, ngay cả Kinh Koran khi được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở đây cũng phải được thẩm tra trước. Các cửa hàng sách ngoại văn cũng từng bị nhà chức trách ập vào kiểm tra, điều hiếm khi xẩy ra, chẳng hạn như cuộc kiểm tra đột xuất năm 2012 nhằm tịch thu các ấn bản về Việt Nam của nhà xuất bản sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet. Các cuốn sách này có in các bản đồ Biển Hoa Nam (South China Sea), vùng biển mà trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ liên miên giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn được nhắc đến một cách dứt khoát ở Việt Nam là Biển Đông.
Randy Slocum quản lý một hiệu sách tại một thị xã du lịch ở miền Trung Việt Nam. Ông thuật lại chuyện ông từng tìm cách nhập khẩu sách khi khai trương lần đầu tiên 7 năm trước. “Khi tôi nhập khẩu 3.000 cuốn sách, họ tịch thu 450 cuốn vì lý do ‘đồi truỵ và phản động’. Nếu bạn có thể tin thì đó phần lớn là các cuốn tiểu thuyết lãng mạn hài hước. Tuy nhiên, họ lại từ chối cung cấp cho bạn một danh sách về những gì bị cấm và họ từ chối giải thích tại sao một số nhất định lại bị tịch thu.” Đáng lưu ý là Slocum là nạn nhân của chính quyền tỉnh, chứ không phải một cánh tay hà khắc của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, cơ quan chủ yếu chịu trách nhiệm giám sát nhiều mặt trong lĩnh vực văn hoá.
Lần duy nhất mà cơ chế kiểm duyệt văn hoá thu hút được nhiều sự chú ý của dư luận quốc tế là khi Bob Dylan biểu diễn tại Tp Hồ Chí Minh năm 2011. Bob Dylan quên hát bài ‘Blowin’ in the Wind’, như thường xuyên vẫn vậy. Cả tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch lẫn nhà báo Mỹ Maureen Dowd đều chỉ trích ông gay gắt vì đã đầu hàng bộ máy kiểm duyệt của nhà chức trách cộng sản. Tuy nhiên, các nguồn tin thân cận với các nhà tổ chức buổi biểu diễn lại cho biết là 100 bài hát, kể cả bài ‘Blowin’ in the Wind’, đã được duyệt. Dù sao thì nghệ thuật phúng dụ và sự thận trọng của Dylan có thể cũng khiến cho các nhà kiểm duyệt, những người mà ngôn ngữ thứ nhất không phải là Tiếng Anh, khó nắm bắt được ý nghĩa các bài hát.
Một nhà tổ chức nói: “Bạn phải hiểu rằng, những gì mà nhà chức trách tìm kiếm trên thực tế lại chỉ là sự dung tục và lời bài hát khiêu dục lộ liễu. Đây là vấn đề thuộc phạm trù đạo đức chứ không phải chính trị.”
Trong khi các phóng viên tin tức nghiêm túc có thể phải đối mặt với nguy cơ bị bắt bớ vì đưa tin về tham nhũng thì ngay cả các tạp chí về phong cách sống hay tạp chí của người nước ngoài ở Việt Nam cũng phải hành xử thận trọng.
Ấn bản đầu tiên của tạp chí Cosmopolitan (Người Thành Thị), vốn bắt đầu phát hành bản Tiếng Việt với một công ty xuất bản sở tại vài năm trước, đăng tải một bài hướng dẫn hữu ích về tác dụng của rượu đối với hiện tượng cực khoái, minh hoạ qua đồ hoạ về tỷ lệ số cốc rượu vang với hình ảnh pháo hoa (hai hoặc ba cốc là liều lượng hoàn hảo; hình ảnh pháo hoa bắt đầu ít dần sau mức đó). Tiêu đề bài viết đề cập đến chuyện “yêu” (trong dấu ngoặc), chứ không phải tình dục.
Phổ biến hơn, trong lĩnh vực xuất bản này, người ta sử dụng những từ như “cậu nhỏ”, “tam giác” hay (bằng Tiếng Anh) “Mr Happy” (trong một bài viết về kỹ thuật quan hệ tình dục bằng miệng). Ngay cả khi những thuật ngữ y khoa chính xác được sử dụng cho các bộ phận cơ thể khác nhau, các nhà kiểm duyệt cũng vẫn từ chối thẳng thừng, với lý do là điều đó “quá nhạy cảm.”
“Nhiều khi chúng tôi cố trở nên khác biệt nhưng chính quyền lại không cho phép. Chị không thể viết như thế, điều đó không phù hợp với truyền thống (nguyên văn)”, một biên tập viên giấu tên giãi bày. Bà cho biết là trên Internet thì khác, rất nhiều người viết về tình dục.
Nhìn chung, những tạp chí như thế thu hút tầng lớp trung lưu có học. Đây chính là những người mà từ lâu các nhà tự do chủ nghĩa lạc quan trên khắp thế giới đã nhận định là sẽ ủng hộ hoặc một cuộc cách mạng hoặc một sự giảm dần hạn chế chính trị trong bất kỳ chế độ áp bức nào. Một tầng lớp trung lưu có học đang trỗi dậy cũng là niềm hy vọng của chính phủ trong bối cảnh Việt Nam đang phấn đấu trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên, họ lại không được phép nhìn một hình xăm hay một chai rượu vang trong một cuốn tạp chí. Ngoại lệ ở ở đây là MỘT SỐ tạp chí đàn ông với những cô người mẫu gần như chẳng mặc gì, những hình ảnh không phải là hiếm gặp.
Ngay cả các tạp chí bằng Tiếng Anh cũng tỏ ra thận trọng. Các nhà kiểm duyệt Việt Nam có thể không để ý đến sự khác biệt tinh tế trong một bài giới thiệu quán bar (lưu ý số phụ nữ trẻ thân thiện đang sẵn sàng phục vụ bạn), nhưng một bài viết về những vấn đề mà các công nhân tình dục phải đối mặt lại đủ sức gây rắc rối khiến cho các biên tập viên phải né tránh.
Nội hàm của hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258) không bao giờ được định nghĩa rõ ràng nhưng trong thực tế chúng lại có thể là bất kể hành vi nào phê phán chính quyền. Nội hàm của hành vi “phá hoại truyền thống tốt đẹp của dân tộc” hay “không phù hợp với truyền thống Việt Nam” có thể là bất kể thứ gì từ kiểu tóc lố bịch của một ngôi sao nhạc pop cho đến thứ nghệ thuật phê phán chính quyền hay giới chóp bu một cách lộ liễu; nhưng trong bối cảnh được dành cho nhiều không gian tự do hơn ở đây, người ta lại thường vì thế mà thực sự thấy mình bối rối hơn và đôi khi còn trở nên bảo thủ hơn.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

“MỘT HÀ TĨNH ĐẦY ẮP NGƯỜI TRUNG QUỐC”: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

Lê Anh Hùng

Trang mạng của Đài Á Châu Tự Do (RFA) ngày 23.10 vừa rồi đăng bài “Một Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc” với những thông tin hẳn khiến nhiều người phải giật mình:
…“Một người dân Kỳ Anh yêu cầu giấu tên, buồn bã nói với chúng tôi rằng dân Kỳ Anh đã thật sự đánh mất mình, họ không còn là chủ của mảnh đất cũng như cảm giác là người dân bản xứ cũng không còn mà thay vào đó là cảm giác lép vế, thua thiệt trước sự giàu có và hách dịch của người Trung Quốc. Đặc biệt, tuy mới sang Kỳ Anh sống chưa bao lâu nhưng các nhóm người Trung Quốc ở đây đã tổ chức thành đội ngũ, băng nhóm và các ông trùm khá dữ dằn.”…
…“Một người tên Hùng, là cha của hai thanh niên đang nghiện ngập, đau xót nói với chúng tôi rằng ông quá bàng hoàng và tuyệt vọng trước cơn nguy biến của gia đình. Đùng một cái, mảnh đất Kỳ Anh hiền hòa, nghèo khổ và chân chất bỗng dưng trở nên chộn rộn, nhặn xị, chẳng đâu vào đâu. Bây giờ, phần đông gia đình đã bán hết đất cho người Tàu, đất thì không còn nữa mà con cái thì nghiện ngập, hư hỏng, như vậy, chỗ an thân cũng không còn mà niềm hy vọng vào tương lai cũng bị đứt gãy. Điều này phải xem lại âm mưu của người Trung Quốc. Vì trước khi người Trung Quốc có mặt ở Kỳ Anh, thanh niên ở đây không biết gì về rượu chè, đến khi họ sang làm ăn, níu kéo thanh niên Kỳ Anh chơi bời, nghiện ngập…”
Vấn đề còn nằm ở chỗ, cảng Sơn Dương mà người ta đã “vô tư” dâng cho Formosa (nay đã sang nhượng toàn bộ cổ phần cho Trung Quốc) [1] lại là một trong 4 yếu huyệt của Việt Nam trên Biển Đông:
…“Ở vịnh Bắc Bộ, cảng Sơn Dương nằm phía nam Vũng Áng thuộc tỉnh Hà Tĩnh có vị trí khá đặc biệt. Vị trí này cùng vĩ tuyến với cảng Tam Á có hạm đội nguyên tử của Trung Quốc. Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay phía bắc đèo Ngang nơi có quốc lộ 1A với đường đèo và hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương sau khi xây đê 3.000m từ mũi Ròn đến hòn Sơn Dương thì vùng cảng kín sóng gió và đạt độ sâu đến trên -16m cùng với vùng nước rộng rãi. Vì vậy cảng Sơn Dương là yếu huyệt của vịnh Bắc Bộ, kiểm sóat đường biển và đường bộ từ Nam Bộ và Trung Bộ tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam.”…[2]

Vậy ai đã ngây thơ đến mức “giao trứng cho ác” hay chính xác hơn là “rước voi về dày mả tổ” như vậy? 

Xin thưa, đó chính là ngài Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế ngành” Hoàng Trung Hải, với Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa - Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”.[3]Theo sự chỉ đạo đó, ngày 12/6/2008, Ban Quản lý Khu Kinh tế Vũng Áng đã cấp Giấy Chứng nhận Đầu tư với thời hạn hoạt động 70 năm và ngày 1/10/2010 tiến hành bàn giao 33 km2 (bằng 1,2 lần diện tích Macao) trong Khu Kinh tế Vũng Áng cho Dự án Formosa.[4]

Những biển hiệu bằng chữ Hán, không có lấy một từ
Tiếng Việt nào ở Kỳ Anh (Ảnh: Pháp luật Tp HCM)
Không những vậy, chỉ vì một dự án đầu tư nước ngoài “lợi bất cập hại” mà khoảng trên 1,3 nghìn hộ dân (tương đương 33000 dân) đã bị chính quyền tỉnh Hà Tĩnh dùng công an cưỡng bức đi chỗ khác xa xôi, hẻo lánh, với điều kiện sinh kế hết sức khó khăn, bị đẩy vào bước đường cùng của cuộc sống. Mọi thông tin về vụ việc này đang bị bưng bít, khống chế, che đậy. Nhiều người đã bị tống vào tù chỉ vì lên tiếng đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình trong việc đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư.[5]


Tuy nhiên, người ta sẽ không ngạc nhiên với những gì trên đây nếu biết rằng ngay từ ngày 7/5/2007, ông Hoàng Trung Hải (lúc bấy giờ là Bộ trưởng Công nghiệp) đã bị một số cán bộ đảng viên đã và đang công tác tại “Ban Tổ chức TW, Ủy Ban KTTW, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ TW và một số cơ quan trọng yếu cơ mật khác của Đảng, Nhà nước” tố cáo là khai man lý lịch: Bố đẻ của ông ta tên là Sì Sói, sinh quán ở Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc.[6] Ấy vậy nhưng ông ta không những không bị xử lý mà còn được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt vào chiếc ghế Phó Thủ tướng quan trọng thứ hai trong chính phủ.





Khu mộ nhà Hoàng Trung Hải ở làng Đồng Sơn, Quỳnh Giao, Quỳnh Phụ, Thái Bình
(dòng chữ trên cột vàng bên trái: Hoa Kiều Tiên Hữu Tổng Mộ)
Nghiêm trọng hơn nữa là suốt hơn 5 năm nay, ông Phó Thủ tướng người Hán này còn bị tố cáo là trùm ma tuý, trùm băng đảng, giết hại nhiều người cũng như bán tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia cho nước ngoài.[7] Và điều đã giúp ông ta cho đến nay vẫn bình an vô sự chính là sự “bảo kê” của nguyên TBT Nông Đức Mạnh (trước kia) và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (trước kia và hiện nay).
Nhờ tài phù phép của ngài Phó Thủ tướng gốc Tàu này (được Thủ tướng “ưu ái” giao nhiệm vụ phụ trách các mảng: công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải… nghĩa là gần như nắm trọn cả nền kinh tế Việt Nam trong tay) mà những năm gần đây, hầu hết các công trình trọng điểm quốc gia đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Hơn 20 năm qua, FDI từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI đổ vào Việt Nam. Nhưng nếu là tổng thầu EPC thì tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất…của Việt Nam đều do Trung Quốc đảm nhiệm.[8] Chính vì vậy mà người Tàu đã theo chân các dự án này tràn sang hầu khắp các tỉnh thành ở Việt Nam rồi tìm mọi cách để sinh cơ lập nghiệp.
Ngày 27/10 vừa qua, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Uỷ viên TW Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, sau khi đọc bài “Một Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc” trên RFA đã thốt lên: “Chả lẽ mất nước từng phần và tiếp tục bởi những mưu đồ đen tối của họ 'Bành' phương Bắc?”[9]
Việc nhà lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng như vậy là rất cần thiết, nhưng chừng ấy là chưa đủ, bởi ông vẫn chưa chỉ ra được nguyên nhân trực tiếp của thực trạng trên. Đó chính là sự thao túng và lũng đoạn hết sức ngang ngược[10] suốt bao năm qua của ngài Phó Thủ tướng Hán tặc Hoàng Trung Hải (với sự tiếp tay vô cùng đắc lực và hiệu quả của nguyên TBT Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).[11]
HÃY LÊN TIẾNG ĐỂ CỨU LẤY ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM NÀY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN! 
  • Bài liên quan:
  1. Điều gì đang xẩy ra với ngành điện lực của Việt Nam?
  2. Một nền kinh tế đang trên đà “Hán hoá”?
  3. Ông Hoàng Trung Hải lại tiếp tục ca bài mị dân





[10] Ngay giữa thanh thiên bạch nhật mà ông ta dám ngang nhiên cho đàn em xã hội đen bắt cóc người tố cáo tội ác của mình rồi tra tấn, ép buộc nạn nhân ký giấy tờ phủ nhận vụ tố cáo. May thay, dư luận trong và ngoài nước kịp thời lên tiếng nên ông ta mới buộc phải ra lệnh cho đàn em thả nạn nhận của mình trước khi dở bài tiêm thuốc độc và hãm hiếp như những lần trước. Điều này càng cho thấy cả hệ thống chính trị hiện hành ở Việt Nam đã bất lực với ông ta (hay chính xác hơn là đã bị ông ta thao túng, lũng đoạn) đến thế nào. Xem các bài: (i) Đài Á Châu Tự Do (RFA) ngày 15/10/2013: Bị khủng bố đánh đập vì tố cáo lãnh đạo; (ii) blog Lê Anh Hùng: Tường trình về vụ người tố cáo bị bắt cóc; (iii) trang Bauxite Việt Nam: Thư gửi Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc
[11] Một nhận xét trên blog Nguyễn Xuân Diện về bài viết nói trêncủa đài RFA: Nếu hỏi các quan qui hoạch ở Hà Tĩnh rằng: "Tại sao người TQ/Đài Loan lại chọn xây dựng nhà máy thép Formosa ở đó? Họ không biết rằng xây ở đó bất lợi thế nào về địa hình địa thế, về giao thông, về thời tiết khắc nghiệt ở miền Trung hay sao? Tại sao một nhà máy mà họ phải xây tường cao, hào sâu (họ đào hào sâu xung quanh nhà máy thép này như dạng hào nước ở các thành cổ ngày xưa)? Tại sao họ phải xây dựng tới 3 nhà máy điện công suất lớn trong đó? Tại sao họ phải xây dựng đủ hết hạ tầng từ nhà ở, trung tâm mua sắm, giải trí... có thể nói là gần như một pháo đài độc lập và không hề phụ thuộc một chút nhỏ nào ở bên ngoài? Khu vực biển Vũng Áng có đặc thù là bờ biển rất dốc, chỉ cần ra xa bờ chục mét là độ sâu đã đạt tới 15~20m rồi, vậy sao họ còn phải xây dựng cả một hệ thống đê vươn ra khơi cả mấy cây số, rồi nạo vét cảng Sơn Dương sâu hơn nữa? Chẳng một nhà đầu tư khôn ngoan nào lại đi làm cái việc thừa thãi, tốn kém đó chỉ để phục vụ mấy con tàu chở quặng vào và chở phôi thép của chỉ độc nhất một nhà máy thép ra?" Các ngài sẽ trả lời sao? Nhìn vào địa hình của khúc thắt nhất trên đất nước này, chỉ cần có một căn cứ hiện đại tại đây, thì hai đầu đất nước là vô phương tiếp cứu... lo lắm thay.

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Mỹ - Trung trong quan hệ với Đông Nam Á hiện nay

Với sự vắng mặt của Hoa Kỳ, Trung Quốc tận dụng thời cơ ở Đông Nam Á

The Economist | 19.10.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Hàng trăm ngàn người đứng hai bên đường trên các tuyến phố của thủ đô Việt Nam ngày 13.10.2013 khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến đây trong chuyến công du kéo dài ba ngày. Tuy nhiên, họ lại không đứng đó để chào đón ông ta. Đây là lễ tang cấp nhà nước của vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, người chỉ đứng sau Hồ Chí Minh trong ngôi đền thiêng dành cho các anh hùng dân tộc của Việt Nam. Trong thực tế, nhiều người Việt Nam nhận thấy việc Lý Khắc Cường lựa chọn thời điểm đến thăm là khá phản cảm và nghĩ rằng ông ta nên hoãn lại để tránh chọc vào nỗi đau của họ. “Thiếu tôn trọng” và “ngạo mạn” là hai tính từ được người ta sử dụng. “Tiêu biểu” là một tính từ khác.
Không hề tỏ ra bối rối, Lý Khắc Cường vẫn có thể mô tả cuộc gặp với người đồng cấp Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng là một “bước đột phá”. Sự kiện này khép lại hai tuần ngoại giao cấp cao của Trung Quốc ở Đông Nam Á, nhằm mục đích hàn gắn các mối quan hệ vốn đã xấu đi trong mấy năm gần đây bởi những yêu sách lãnh thổ quá lố và gây tranh chấp của Trung Quốc trên Biển Đông.
Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản kiêm Chủ tịch Trung Quốc, đã tới thăm Indonesia, Malaysia và dự hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Lý Khắc Cường đã tham dự một cuộc họp thượng đỉnh ở Brunei với các nhà lãnh đạo của mười nước ASEAN rồi tới thăm Thái Lan. Việc Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama dự kiến có mặt tại APEC và ASEAN nhưng rồi rút lui vì bế tắc ngân sách ở Washington khiến cho các chuyến công du của hai nhà lãnh đạo Trung Quốc càng thêm nổi bật.
Việt Nam là quốc gia ASEAN mà ở đó thái độ nghi ngại đối với Trung Quốc là lớn nhất. Sau nhiều thế kỷ thù địch và cuộc chiến tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu năm 1979, một cuộc tranh chấp lãnh thỗ vẫn đang âm ỉ – cuộc tranh chấp lớn nhất trong số 4 nước ASEAN tranh chấp với Trung Quốc (các nước còn lại là Brunei, Malaysia và Philippines). Việt Nam và Trung Quốc không chỉ cùng đưa ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa ở phía Nam, mà Việt Nam còn cho rằng họ bị xua đuổi một cách bất hợp pháp khỏi quần đảo Hoàng Sa ở phía Bắc, khi Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo này năm 1974 từ chế độ Việt Nam Cộng hoà đang ngắc ngoải ở miền Nam Việt Nam lúc đó. Các cuộc đối đầu liên quan đến hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí vẫn diễn ra thường xuyên.
Mặc dù vậy, tháng Sáu vừa qua, trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang, hai nước đã ký một “hiệp định đối tác chiến lược” mới. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam – ấy là còn chưa tính đến hoạt động buôn bán bất hợp pháp vốn diễn ra tấp nập giữa biên giới hai nước –  và cũng là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN nói chung. Bước đột phá của Lý Khắc Cường là tiếp tục lèo lái cuộc tranh chấp lãnh thổ sao cho không gây ảnh hưởng đến chuyện khác. Ông ta thậm chí còn đồng ý thành lập một nhóm công tác về “hợp tác trên biển”.
Ở Trung Quốc, điều này đã giúp người ta quên đi ký ức khó chịu của năm 2010: Trong một cuộc họp tại Hà Nội, Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lúc bấy giờ, đã bước vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông với lời tuyên bố rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” ở đó. Trung Quốc đổ lỗi cho sự can thiệp của Mỹ khi chứng kiến một Việt Nam và một Philippines mạnh dạn đối đầu với họ trên biển. Nay thì tờ China Daily, một tờ báo chính thống, đã dẫn lời một nhà phân tích người Trung Quốc: “Hà Nội đã nhận ra rằng việc dựa vào Washington để nhận được sự ủng hộ của công luận dành cho các yêu sách chủ quyền đối với một số hòn đảo là phi thực tế.”
Kiểu phân tích như thế là quá lố. Dù vậy, chuyến công du của Lý Khắc Cường, giống như chuyến công du của Tập Cận Bình, vẫn là một lời nhắc nhở cả về tầm vóc cường quốc khu vực mà Trung Quốc đã vươn tới lẫn mức độ thiếu vắng của Barack Obama. Bất cứ ở đâu họ cũng đều phô diễn ra sức mạnh kinh tế của mình. Ở Thái Lan, chẳng hạn, Lý Khắc Cường khiến chính phủ Thái vui vẻ bằng cách đề nghị trợ giúp hai lĩnh vực vốn tự gây ra tổn thất kinh tế: Trung Quốc đồng ý mua thêm gạo và cao su. Trước đó, Tập Cận Bình đã đề xuất ý tưởng thành lập một “ngân hàng hạ tầng Châu Á” do Trung Quốc lãnh đạo nhằm góp phần đáp ứng một trong những nhu cầu bức thiết nhất của khu vực. Tại Brunei, Lý Khắc Cường đã đề nghị một hiệp định mới với ASEAN, hòng hiện thực hoá tầm nhìn của ông ta về một “thập kỷ kim cương” trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc.
Không mê hoặc đến thế
Mặc dù vậy, nếu đây là một cuộc tập kích mê hoặc (charm offensive) thì có một nước ASEAN vẫn phải hứng chịu cuộc tập kích mà không được nếm trải sự mê hoặc của nó. Trung Quốc rất tức giận khi Philippines bác bỏ yêu sách lãnh thổ mơ hồ và bao trùm trên Biển Đông của họ trước toà án quốc tế về luật biển của Liên Hợp Quốc. Trung Quốc cảm thấy thoả mãn khi tìm cách cô lập Philippines. Tuy nhiên, các học giả Việt Nam lại nói rằng chính phủ của họ hoàn toàn ý thức được điều đó – và không loại trừ khả năng tham gia vụ kiện với Philippines.
Vài tuần hoạt động ngoại giao vẫn chưa thay đổi được thực tế cơ bản: Đông Nam Á coi Trung Quốc là đối tác thương mại chính và coi Hoa Kỳ là quốc gia đảm bảo an ninh quan trọng nhất. Dù vậy, những hoạt động trên cũng nêu bật một nhận thức rằng quyền lực trong khu vực đang thay đổi. Một bài bình luận trên tờ Jakarta Post, tờ báo tiếng Anh ở Indonesia, lập luận thẳng thừng: “Trung Quốc, chứ không phải Hoa Kỳ, mới là nhà lãnh đạo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ 21.” Đề cập đến sự vắng mặt của Obama cùng việc chính phủ Mỹ đóng cửa, bài báo kết luận rằng “chính sách ‘xoay trục’ sang Châu Á được quảng bá rầm rộ của Obama khiến người ta cảm thấy là nó giống với động tác xoay tròn trên ngón chân của diễn viên mua ballet nhiều hơn, qua sự nhấn mạnh thái quá vào sự can dự quân sự”.
Báo chí Trung Quốc thì tỏ vẻ hân hoan khi tạo ra ấn tượng về một sự chuyển giao quyền lực, đồng thời đưa luận điểm này vượt ra ngoài khuôn khổ Đông Nam Á. Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn chính thống của Trung Quốc, công bố một bài bình luận kêu gọi một thế giới “phi Mỹ hoá”. Bài báo lập luận rằng, với khả năng một vụ vỡ nợ quốc gia xẩy ra ở siêu cường này, “những tháng ngày đáng sợ như thế, khi số phận của những quốc gia khác lại nằm trong tay một quốc gia đạo đức giả, phải bị chấm dứt”.
Ý tưởng trên thu hút được một sự đồng cảm nào đó ở Đông Nam Á; tuy nhiên, ít người muốn trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo lại phải nhường chỗ cho một trật tự thế giới do Trung Quốc chi phối. Một số quan chức Việt Nam nghĩ rằng sự chỉ trích nhằm vào việc lựa chọn thời điểm diễn ra chuyến thăm Việt Nam của Lý Khắc Cường là bất công. Dù sao thì ông ta cũng đã đến đây đúng lúc để chia sẻ nỗi tiếc thương của cả nước. Tuy nhiên, không phải chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nơi khác, nhiều người đã sẵn sàng liên hệ động cơ của Trung Quốc với những gì tệ hại nhất.