Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Thư của Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ gửi TT Obama về chuyến thăm của Chủ tịch Việt Nam

Edward R. Royce

Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại - Hạ viện Hoa Kỳ

Lê Anh Hùng dịch




Ngày 18.7.2013
Tổng thống
Nhà Trắng
Washington, DC 20500
Thưa ngài Tổng thống!
Tôi thúc giục ngài nêu vấn đề nhân quyền như một ưu tiên hàng đầu trong chuyến thăm sắp tới của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trương Tấn Sang.
Như ngài đã biết, Việt Namtừ lâu là một trong những xã hội áp bức nhất ở Đông Nam Á. Khát vọng dân chủ, sự vận động cho nhân quyền cũng như việc tập hợp của quần chúng đều gặp phải sự đối xử tàn bạo của công an và dẫn đến những phiên toà trình diễn mà ở đó các bị cáo bị khước từ quyền được xét xử công khai và công bằng như Hiến pháp Việt Nam quy định.
Bên cạnh đó, chính phủ Việt Namcòn tăng cường đàn áp tự do ngôn luận bằng cách gia tăng nỗ lực kiểm duyệt internet, tài trợ cho các cuộc tấn công mạng và ngăn chặn việc truy cập các trang mạng. Hà Nội còn nhằm vào các cộng đồng tôn giáo đa dạng ở Việt Nam thông qua việc tịch thu và phá huỷ tài sản nhà thờ, cũng như bỏ tù các tín hữu vì tín ngưỡng của họ - thậm chí còn ép buộc một số người phải từ bỏ tín ngưỡng.
Chỉ riêng trong năm nay, hơn 50 nhà vận động cho nhân quyền Việt Nam đã bị bắt giam tuỳ tiện. Theo lời một nhân chứng từng điều trần trước Tiểu ban Châu Á vào đầu năm thì “trong 6 tuần đầu tiên của năm 2013, số người bị kết án trong các phiên toà chính trị đã ngang với con số của cả năm 2012”. Những số liệu thống kê này thực sự gây lo ngại sâu sắc, và phản ảnh thái độ không khoan dung đối với nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
Sự tiếp tục thụt lùi về thành tích nhân quyền này của chính phủ Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước này đang tăng cường sự can dự vào cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nếu hai nước chúng ta muốn xây dựng một mối quan hệ vững chắc thì Việt Nam phải tôn trọng các quyền công dân cơ bản, trong đó có quyền tự do lập hội và hội họp, quyền tự do ý kiến và quyền tự do tín ngưỡng. Tất cả các khía cạnh trong mối quan hệ của chúng ta cần được xây đắp trên nền tảng đó.
Khi ngài tiếp đón Chủ tịch Việt Nam, tôi mạo muội kêu gọi ngài tiến hành các bước sau đây để thúc ép chính phủ của ông ta thực thi những thay đổi có ý nghĩa, qua đó giúp cải thiện thành tích nhân quyền của Việt Nam:
  • Kêu gọi ngài Chủ tịch tôn trọng quyền tự do chính trị thực sự bằng cách bãi bỏ hai điều khoản về an ninh, Điều 79 và Điều 88 của Bộ Luật Hình sự, vốn ngăn cấm quyền tự do lập hội và tự do ngôn luận.
  • Kêu gọi trả tự do cho những người bảo vệ nhân quyền cũng như tất cả các tù nhân lương tâm khác, trong đó có luật sư Lê Quốc Quân, nhạc sỹ Việt Khang cùng hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.
  • Yêu cầu nới lỏng những hạn chế về internet, trong đó có việc chấm dứt biện pháp sử dụng công nghệ lọc, tấn công mạng nhằm vào giới blogger, và chính sách ngăn chặn việc truy cập vào các phương tiện truyền thông xã hội.

Thưa ngài Tổng thống, chuyến thăm của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Washingtonlà một cơ hội hiếm hoi để khích lệ những người Việt Nam vẫn đang khao khát tự do. Tôi mạo muội đề nghị ngài tận dụng tối đa cơ hội này bằng cách lên tiếng ủng hộ một nghị trình nhân quyền.
Cám ơn ngài đã xem xét quan điểm của tôi.
Trân trọng

Edward R. Royce
Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

THƯ NGỎ GỬI BỘ TRƯỞNG CÔNG AN TRẦN ĐẠI QUANG

Kính gửi: Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang
Trước hết, cho phép tôi được gửi tới ông lời chào kính trọng!
Tôi xin được giới thiệu sơ qua về bản thân. Tôi là Lê Anh Hùng, sinh ngày 27.8.1973; CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15.7.2004; HKTT: Tổ 2 – Cụm 5 – Khương Đình – Thanh Xuân – Hà Nội; hiện tạm trú tại: Khu phố 7 – P5 – Đông Hà – Quảng Trị.
Như ông đã biết, tôi là người suốt hơn 5 năm qua đã 72 lần gửi thư tố cáo các ông Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải và Nông Đức Mạnh qua đường Internet, cũng như đã trực tiếp gửi đơn thư và làm việc với Công an Quảng Trị và Công an Hà Nội một số lần từ năm 2011 và 2012. Đặc biệt, ngày 6.6.2012, tôi đã gửi đơn thư tố cáo trực tiếp cho Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc và ngày 19.6.2012, ĐBQH Dương Trung Quốc đã chuyển đơn thư của tôi đến tận tay ông Chủ tịch Quốc hội. Ông Dương Trung Quốc còn cho tôi biết là ông đã lưu ý ông Bộ trưởng Công an về vụ việc này.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa hề có cơ quan có trách nhiệm nào trả lời đơn thư tố cáo của tôi cả, mặc dù đây là một vụ việc hết sức nghiêm trọng, bởi thông tin về vụ tố cáo đã tràn lan trên mạng Internet suốt mấy năm nay. Nghiêm trọng không kém, trong khi người ta vẫn bất chấp pháp luật để phớt lờ vụ tố cáo của tôi thì suốt mấy năm nay, vợ chồng tôi là nạn nhân của những trò hèn hạ từ phía những kẻ bị chúng tôi tố cáo: bắt tôi vào trại tâm thần; cướp bóc, bắt cóc, hành hung, hãm hiếp, tiêm thuốc độc vợ tôi (chúng muốn làm cho nhân chứng sống của vụ tố cáo bị mất trí nhớ), triệt đường sống của chúng tôi (chúng tôi làm ở đâu cũng bị chúng phá)… Chúng tôi đã nhiều lần kêu cứu nhưng tất cả đều rơi vào sự im lặng đáng sợ, trong khi lẽ ra chúng tôi phải được bảo vệ theo Điều 36 của Luật Tố cáo hiện hành.
Gần đây nhất là sáng hôm nay, 13.7.2013, vào hồi 9h30, khi đang đi trên đường Trần Hưng Đạo, Đông Hà, Quảng Trị, vợ tôi lại bị hai tên thanh niên chặn xe máy, hành hung và suýt nữa thì lại bị chúng tiêm thuốc vào người (xem Đơn Tường Trình của vợ tôi dưới đây).
Vì vậy, qua thư này, tôi KHẨN THIẾT đề nghị ông, với tư cách người đứng đầu Bộ Công an, phải có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ tính mạng và sự an toàn của chúng tôi theo đúng quy định của pháp luật.
Xin trân trọng cám ơn ông!
Quảng Trị, ngày 13.7.2013
Lê Anh Hùng
Mobile: 01243210177; Blog: www.leanhhung.com; Email: lehunglpa@gmail.com; Skype: lehunglpa; Facebook: facebook.com/lehunglpa


Đơn Tường Trình của vợ tôi (bấm vào để xem cho rõ):
Một số tin nhắn chúng gửi qua điện thoại để đe doạ, khủng bố tôi ngày 26.6.2013:






Các tài liệu liên quan khác:
  1. Thư Tố Cáo lần thứ 72;
  2. Một số cuộc trao đổi với ĐBQH Dương Trung Quốc (từ đầu đến 1:26 – điện thoại với ĐBQH Dương Trung Quốc ngày 10/6/2012; từ 1:28 ÷ 2:23 – điện thoại với ĐBQH Dương Trung Quốc ngày 20/6/2012; từ 2:25 ÷ hết – nội dung cuộc trao đổi với ĐBQH Dương Trung Quốc tại văn phòng làm việc của ông, 216 Trần Quang Khải, Hà Nội ngày 22/6/2012);
  3. Các văn bản mà ĐBQH Dương Trung Quốc đã gửi ông Chủ tịch Quốc hội về vụ tố cáo của tôi, trong đó, ông Dương Trung Quốc có nói rõ là đã lưu ý ông Bộ trưởng Công an về vụ việc;
  4. Nội dung cuộc trao đổi giữa ĐBQH Dương Trung Quốc và Lê Anh Hùng ngày 26.10.2012 (từ phút thứ 1 đến phút thứ 2, ĐBQH DTQ nói là ngày 25.10.2012, ông đã gặp Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng để hỏi về vụ việc mà ông đã chuyển tận tay cho ông Chủ tịch QH ngày 19.6.2012, nhưng ông Chủ tịch QH cho biết là "đang xem xét" và nói đây là "vụ việc phức tạp lắm").
  5. Chương trình Từ Cánh Đồng Mây (Hoa Kỳ) phỏng vấn vợ chồng Lê Anh Hùng ngày 18.5.2013 về vụ tố cáo;
  6. Video clip Lê Thị Phương Anh thuật lại vụ bị bắt cóc ngày 27.2.2013;
  7. Lê Anh Hùng trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (RFI) ngày 25.6.2013: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130625-viet-nam-bat-them-mot-blogger-chong-trung-quoc-banh-truong-o-bien-dong; trả lời phỏng vấn Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) 4.6.2013: http://www.voatiengviet.com/content/truyen-thong-vietnam-da-kich-nguoi-bieu-tinh-chong-trung-quoc/1674852.html (cô gái đội mũ bò cầm biểu ngữ “BẢO VỆ LÃNH THỔ VIỆT NAM” trong hình là vợ tôi), và ngày 10.7.2013: http://www.voatiengviet.com/content/tranh-cai-ve-vu-an-cua-luat-su-le-quoc-quan/1700861.html

Bức Thư Ngỏ này đã được gửi đến các địa chỉ sau:


Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam <webmaster@qh.gov.vn>; Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ <thucongdan@chinhphu.vn>; Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam    <mttqvn@mattran.org.vn>; Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao <htqt@vks.gov.vn>; Toà án Nhân dân Tối cao <tatc@toaan.gov.vn>; Hộp thư Tố giác Tội phạm - Bộ Công An    <togiactoipham@canhsat.vn>; Đài Truyền Hình Việt Nam  <thoisuvtv@vtv.vn>; Đài Tiếng Nói Việt Nam <toasoan@vovnews.vn>; Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam    <dangcongsan@cpv.org.vn>; Báo Nhân Dân <nhandandientu@nhandan.org.vn>; Báo Quân Đội Nhân Dân <dientubqd@gmail.com>; Báo Thanh Tra <thanhtradientu@thanhtra.com.vn>; Tạp chí Tuyên Giáo – Ban Tuyên giáo TW <tctg@tuyengiao.vn>; Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương    <thiduakt@thiduakhenthuongvn.org.vn>; Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng <xttm@ckt.gov.vn>; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam  <tttt@hoilhpn.org.vn>; Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam <thongtin@vusta.vn>; Hội Nông Dân Việt Nam <tonghophnd@gmail.com>; Hội Nhà báo Việt Nam <hnbvietnam@gmail.com>; Hội Nhà văn Việt Nam <vanvn.net@gmail.com>; Hội Sinh viên Việt Nam <hoisinhvien@hsvvn.vn>; Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam <vnf-unesco@fpt.vn>; Thành Đoàn Hà Nội  <hanoituoitre@gmail.com>; Ban Thư ký - Thông Tấn Xã Việt Nam    <btk@vnanet.vn>; Báo Bảo Vệ Pháp Luật - Viện KSND Tối cao <baovephapluat_vksndtc@yahoo.com>; Báo Công Lý - Toà án ND Tối cao    <baocongly@fpt.vn>; Báo Công An Nhân Dân  <candonline@gmail.com>; Báo An Ninh Thủ Đô <antdonline@anninhthudo.vn>; Báo Biên Phòng    <banthukybaobp@gmail.com>; Báo Đại Đoàn Kết <toasoan@baodaidoanket.com.vn>; Báo Cựu Chiến Binh Việt Nam    <ccbvietnamdientu@gmail.com>; Báo Hà Nội Mới <webmaster@hanoimoi.com.vn>; Báo Sài Gòn Giải Phóng <sggponline@sggp.org.vn>; Báo Tuổi Trẻ    <toasoan@tuoitre.com.vn>; Báo Tiền Phong <online@tienphong.vn>; Công Báo <info@congbao.vn>; Tạp chí Quản Lý Nhà Nước    <tcquanlynn@yahoo.com.vn>; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng QH <nclp@qh.gov.vn>; Tạp chí Truyền Hình - Đài THVN    <tapchith@vtv.org.vn>; Tạp chí Nhà Văn <tapchinhavanhnv@gmail.com>; Tạp chí Quốc phòng Toàn dân <quocphongtoandan@viettel.vn>; Tạp chí Thế Giới Phụ Nữ    <admin@thegioiphunu-pnvn.com.vn>; Thời báo Kinh Tế Việt Nam <vneconomy.vn@gmail.com>; Thời báo Kinh Tế Sài Gòn  <sgt@thesaigontimes.vn>; Báo Công Thương <congthuongonline@gmail.com>; Báo Đầu Tư <baodautu.vn@gmail.com>; Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp <baodientu@dddn.com.vn>; Báo Đất Việt <datviet108@gmail.com>; Báo điện tử Vietnamnet    <tuanvietnam@vietnamnet.vn>; Báo điện tử VnExpress    <webmaster@VnExpress.net>; Báo điện tử Dân Trí <info@dantri.com.vn>; Báo Giao Thông Vận Tải <baogiaothong@fpt.vn>; Báo Giáo Dục & Thời Đại    <gdtddientu@gmail.com>; Báo Phụ Nữ Tp HCM <toasoan@baophunu.org.vn>; Báo Du Lịch <baodulichdientu@gmail.com>; Báo Khoa Học & Đời Sống <tkts@bee.net.vn>; Báo Kinh Tế Nông Thôn <hungktnt@gmail.com>; Báo Lao Động <toasoan@laodong.com.vn>; Báo Người Lao Động <online@nld.com.vn>; Báo Nông Nghiệp Việt Nam <baonnvn@hn.vnn.vn>; Báo Nông Thôn Ngày Nay <baodanviet@gmail.com>; Báo Pháp Luật Tp HCM  <baophapluat@phapluattp.vn>; Báo Sài Gòn Tiếp Thị <sgtt@sgtt.com.vn>; Báo Thể Thao & Văn Hoá <ttvhonline@thethaovanhoa.vn>; Báo Thế Giới & Việt Nam    <webmaster@tgvn.com.vn>; Báo Tin Tức <toasoantintuc@gmail.com>; Báo Văn Hoá    <baovanhoa@fpt.vn>; Báo Tài nguyên & Môi trường <baotainguyenmoitruong@gmail.com>; Báo Vietnamnews <vnnews@vnagency.com.vn>; Đài VOA <suckhoedoisong2007@gmail.com>; Báo Việt ngữ - Đài BBC    <vietnamese@bbc.co.uk>; Đài Á Châu Tự Do <vietweb@rfa.org>; Nhóm nữ nghị sỹ Việt Nam <nnsvn@qh.gov.vn>; Trang mạng Bauxite Vietnam <bauxitevn@gmail.com>; Blog Nguyễn Tường Thuỵ <tuongthuy52@gmail.com>; blog Nguyễn Xuân Diện <lamkhanghn@yahoo.com.vn>; Blog Phạm Viết Đào <Thuykhue40@gmail.com>; Thông Luận <info@ethongluan.org>; Blog Anh Ba Sàm <basamvietnam@gmail.com>; VANGANH.INFO <vanganh.contact@gmail.com>; Dân Làm Báo <lienlacdanlambao@gmail.com>; Radio Chân Trời Mới <lienlac@radiochantroimoi.com>; Chương trình Từ Cánh Đồng Mây <theheviet@verizon.net>; Đàn Chim Việt <bbt.danchimviet@gmail.com>; Quan Làm Báo <vualambao@gmail.com>; Báo Người Việt <news@nguoi-viet.com>; ĐBQH - nhà sử học Dương Trung Quốc <quocxuanay@yahoo.com>; Đại biểu QH Trần Hoàng Ngân <ngannh@ueh.edu.vn>; Đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa <nghia.truong@ykvn-law.com>; GS Chu Hảo <haochu2008@gmail.com>; PGS.TS Hồ Uy Liêm <houyliem@vusta.vn>; TS Lê Đăng Doanh <ledangdoanh@gmail.com>; Ông Vũ Quốc Tuấn <tuanvuquoc@gmail.com>; nhà báo Trần Đăng Tuấn <trandangtuanvfc@yahoo.com>; Ông Nguyễn Trung <nguyentrungvt@gmail.com>, Ông Bùi Đức Lại <buiduclai@yahoo.com.vn>; Bà Phạm Chi Lan <phamchilan@gmail.com>; Nhà báo Tống Văn Công <vcongtong@gmail.com>, Thiếu tướng Lê Văn Cương <tuanla295@gmail.com>, GS Tương Lai <tnglai@gmail.com>; nhà văn Phạm Đình Trọng <phamdinhtrong2006@yahoo.com.vn>; GS Đặng Vũ Minh <gsdangvuminh@yahoo.com.vn>

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Trục xoay nửa vời

Greg Rushford
Người dịch: Lê Anh Hùng




TT Barack Obama chào đón Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và phu nhân dự bữa tiệc tối tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC ở Waikiki, Hawaii ngày 12.11.2011
Bài viết này sẽ xem xét kỹ chính sách “xoay trục” sang Châu Á của Tổng thống Barack Obama.

Nhìn từ các thành phố thủ đô quan trọng của Châu Á – Tokyo và Bangkok, Manila và Hà Nội, Dacca và Phnom Penh, cũng như Jakarta – trục xoay này hiện trông giống kiểu trục xoay nửa vời nhiều hơn. Nửa đầu tiên liên quan đến các mối quan hệ an ninh của Mỹ với Châu Á. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương – với Hạm đội 7 Hoa Kỳ, Lực lượng Không quân Số 5 và Lực lượng Hành quân Đặc biệt – vẫn đang duy trì hoà bình ở Thái Bình Dương suốt hơn nửa thế kỷ qua. Theo nghĩa đó, chẳng có gì là đặc biệt mới với trục xoay của Obama cả, có lẽ ngoại trừ vòng xoay. Dù vậy, cần ghi nhận việc Nhà Trắng ủng hộ các quan chức Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc, bởi họ vẫn đang quán xuyến các mối quan hệ ngoại giao và an ninh truyền thống của Mỹ.

Tuy nhiên, cũng chính Nhà Trắng đó lại thất bại trong việc kết nối chính sách thương mại của Mỹ với phần chính trị - quân sự của trục xoay. Kết quả tìm kiếm một chính sách thương mại nhất quán của Mỹ trong khu vực lại là một loạt chính sách nhất thời, thiếu gắn kết. Trong chừng mực tồn tại một mô thức chung ở đây thì nó lại liên quan đến tiêu chuẩn kép quen thuộc của Washington. Nhà Trắng đòi hỏi các đối tác thương mại của Mỹ phải huy động ý chí chính trị để mở cửa thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của Mỹ. Nhưng khi nước khác yêu cầu nâng cao cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ thì một Washington với cái tai điếc âm điệu lại hầu như chẳng nghe thấy gì. Cho dù đây chắc chắn không phải là trò chơi do Obama phát minh ra thì cũng công bằng khi nói rằng dưới sự giám sát của ông, các đối tác thương mại của Mỹ không còn quan tâm nhiều đến việc phục tùng tuyệt đối siêu cường này nữa.

Đấy chắc chắn không phải là cái cách mà Nhà Trắng muốn người ta cảm nhận về chính sách Châu Á của mình. Trong bài phát biểu trước Hội Châu Á (Asia Society) tại New York ngày 11.3 vừa qua, cố vấn an ninh quốc gia của Obama, Tom Donilon, đã khẳng định rằng chính sách xoay trục – mà ông ta ưa gọi là một sự “tái cân bằng” – vẫn đang thúc đẩy các mối quan hệ an ninh và kinh tế tăng cường của Mỹ với Châu Á. Ngày tiếp theo ở Washington, Obama lặp lại lời khẳng định mà chính quyền của ông đã đưa ra rằng các cuộc đàm phán thương mại của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) – trọng tâm chính sách thương mại của ông ở Châu Á – liên quan đến việc định nghĩa “những chuẩn mực cao” mới, chúng sẽ hiện đại hoá hoạt động thương mại quốc tế và “tạo ra hàng tỷ dollar trong hoạt động thương mại cùng hàng triệu việc làm” ở thế kỷ 21.

Song, như tua khảo sát quanh các thủ đô quan trọng ở Châu Á của chúng ta sẽ giúp minh hoạ, thứ ngôn ngữ hoa mỹ kia của Hoa Kỳ dường như lại chẳng ăn nhập gì với dữ liệu kinh tế trong thực tế. Hậu quả từ chính sách thương mại thiển cận của Mỹ, vốn là động cơ để các đối tác thương mại Châu Á loại Chú Sam sang một bên, đang trở nên rõ ràng.

Thái Lan, chẳng hạn, là một đồng minh an ninh lâu đời của Mỹ. Song Nhà Trắng lại chưa làm việc nghiêm túc để chào đón người Thái vào các cuộc đàm phán thương mại ưu đãi trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Với cấu trúc hiện thời thì một TPP thành công sẽ chuyển hướng các dòng chảy thương mại khỏi các quốc gia quan trọng ở Châu Á như Thái Lan.

Khi Obama gặp Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra tại Bangkok ngày 18.11.2012, mối quan tâm mà Yingluck từng tuyên bố về việc tham gia các cuộc đàm phán TPP thậm chí còn không nằm trong nghị trình, nhà lãnh đạo Thái Lan đã nói với các phóng viên ở Bangkok như vậy. Ngày 19.11, trong một bản thông cáo báo chí chung với Yingluck, Obama nói rằng “chúng tôi sẽ làm việc với nhau khi Thái Lan bắt đầu đặt nền móng cho việc tham gia các hiệp định thương mại với tiêu chuẩn cao, chẳng hạn như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương”. Dịch từ ngôn ngữ ngoại giao lịch sự: điều đó sẽ không xẩy ra sớm.

Trong khi đó, cộng đồng doanh nghiệp Thái Lan lại bị chia rẽ về triết lý tăng cường quan hệ thương mại với Mỹ bằng bất cứ giá nào. Người Thái đã ký kết hiệp định thương mại ưu đãi với Trung Quốc và New Zealand, đồng thời cũng đang làm việc để tự do hoá hoạt động thương mại khu vực trong phạm vi Asean.

Không có các cuộc đàm phán TPP nhiều ý nghĩa với người Mỹ, Yingluck thay vì thế đã quyết định thương thảo một hiệp định thương mại khác của Thái với một Liên minh Châu Âu đáng tin cậy hơn. Người Nhật cũng vậy.

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe thì đang hối thúc một Nhà Trắng lưỡng lự của Obama chấm dứt việc ngăn cản Nhật tham gia đàm phán TPP. Trong khi đó, Abe cũng đang nói chuyện với Trung Quốc và Hàn Quốc về việc thiết lập tam giác thương mại Seoul – Bắc Kinh – Tokyo.

Điểm dừng tiếp theo: Tokyo.

“Thuế nhập khẩu gà” nhằm vào Tokyo


Trên mặt trận an ninh, tin tốt lành là mối quan hệ Mỹ - Nhật vẫn bền chặt. Và bao giờ cũng vậy, tầm quan trọng của liên minh an ninh Mỹ - Nhật không nên bị đánh giá thấp. Cả hai nước đều không có liên minh quân sự nào quan trọng hơn thế. Liên minh Mỹ - Nhật đã được đánh dấu với nguồn năng lượng mới dưới thời Obama, do mối quan ngại của cả hai bên trước tình trạng tranh chấp căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản về mấy hòn đảo nhỏ trên Biển Hoa Đông, nơi mặc dù không có người ở nhưng lại dồi dào nguồn cá và cũng nhiều tiềm năng như thế về dầu và khí. Cần ghi nhận Nhà Trắng của Obama đã hiểu ra tầm quan trọng đó.

Tuy nhiên, suốt hơn hai năm qua, Obama cùng phụ tá chính sách kinh tế quốc tế hàng đầu của mình, Mike Froman – người vẫn đang đóng vai trò chính trong việc hoạch định chính sách thương mại của Mỹ - lại hờ hững với sự tham gia của Nhật vào TPP. Người ta sẽ nghĩ rằng Nhà Trắng hẳn đã háo hức chào đón sự tham gia của người Nhật. Rốt cuộc, nếu thiếu Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới – TPP chỉ là một cuộc chơi nhỏ. Trong khi độc giả rồi sẽ được thấy nhiều bài báo đầy phấn khích, ra sức khuếch trương TPP như một hiệp định thương mại dạng “khủng”, thì điều đó lại khác xa sự thật.

Hoa Kỳ hiện đã có các hiệp định thương mại ưu đãi với Singapore, Australia, Chi Lê, Canada và Mexico. Nhà Trắng cũng chẳng háo hức gì với việc tự do hoá các hiệp định này trong các cuộc đàm phán TPP (chẳng hạn như mở cửa thị trường cho số lượng đường nhập khẩu tăng lên từ Australia, một chủ đề mà đến nay người Mỹ vẫn từ chối dù chỉ là thảo luận). Các đối tác đàm phán TPP còn lại là bốn nền kinh tế nhỏ, nếu chúng đáng tôn trọng: Brunei, Malaysia, Việt Nam và New Zealand. Bóng dáng của một hiệp định thương mại dạng “khủng” lại là thế này hay sao? Trung Quốc, Australia, New Zealand, Nhật Bản – tất cả đều đã có hoặc đang thảo luận về hiệp định thương mại ưu đãi với toàn khối ASEAN. 

Chúng ta sẽ xem xét một trong những nguyên nhân chính giải thích cho thái độ lưỡng lự của Nhà Trắng trong việc chào đón đồng minh Thái Bình Dương quan trọng nhất của Mỹ vào TPP. Điều này hoá ra lại chẳng liên quan gì đến cái gọi là những quy tắc thương mại tiên phong, chuẩn mực vàng, tuyệt hảo của thế kỷ 21 cả. Nó chỉ liên quan đến những hàng rào thuế quan kiểu cũ. Và một hàng rào thuế quan bảo hộ nói riêng sẽ minh hoạ cho trọng tâm của Nhà Trắng.

Hãy tìm hiểu hoạt động vận động hành lang của ngành công nghiệp ô tô Detroit. Ford, General Motors và Chrysler lo sợ rằng họ sẽ đánh mất thị phần nội địa vào tay người Nhật trong một thoả thuận TPP bãi bỏ mức thuế suất 25% đối với xe tải nhập khẩu. Bảo vệ hàng rào thuế quan đó – chủ yếu là với Nhật Bản, song cũng liên quan đến Thái Lan, nơi mà các nhà máy ô tô ngoại quốc đã nhảy vào – đã trở thành một ưu tiên hàng đầu của Nhà Trắng. 

Vấn đề nằm ở chỗ: chưa có bất kỳ một sự biện giải kinh tế nào cho mức thuế suất 25% mà người Mỹ áp đặt lên xe tải nhập khẩu. Mức thuế suất nhập khẩu đó ra đời từ cuối năm 1963 và là một quyết định được Tổng thống Lyndon Johnson đưa ra trong một cuộc tranh cãi thương mại không liên quan vào thời đó (khi mà Barack Obama còn là một chú bé chưa đầy 2 tuổi).

Tức giận trước việc người Châu Âu sẽ không mua đủ số gà của Mỹ, Johnson bèn trả đũa bằng cách áp đặt mức thuế suất nhập khẩu 25% lên xe tải – gấp 10 lần so với mức thuế suất 2,5% thông thường của Mỹ đối với ô tô. Cái gọi là “thuế nhập khẩu gà” nhằm mục đích trừng phạt các sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng lúc bấy giờ của Đức là xe van hippie (hippie-era van). Xin nhắc lại: cho đến nay, chưa có ai trong chính phủ Mỹ từng giả bộ rằng thuế nhập khẩu gà có bất kỳ nội dung kinh tế nào.

Hơn thế, thuế nhập khẩu xe tải mang màu sắc bảo hộ kia đã có “tác dụng” hàng thập niên qua tương tự như cái cách mà lệnh cấm vận thương mại của Mỹ chống Cuba đã thành công trong việc lật đổ anh em nhà Castro. Toyota và các nhà sản xuất ô tô khác của Nhật – vốn không phải là mối đe doạ cạnh tranh dưới thời Lyndon Johnson – đơn giản là lách khỏi thứ thuế đó bằng cách sản xuất xe tải ngay tại các bang của Mỹ như Texas, những nơi mà thuế nhập khẩu không thể áp dụng. Detroit và nghiệp đoàn United Autoworkers vẫn còn tức giận trước việc người Nhật đã tạo ra một phân khúc thị trường phi nghiệp đoàn (và được trả lương cao) trong ngành công nghiệp ô tô “Hoa Kỳ”. Obama nay đã trở thành vị tổng thống thứ tám của Mỹ sau Johnson bảo vệ thứ thuế nhập khẩu thiếu cơ sở kinh tế đó.

Nhưng chờ đấy, tình hình vẫn còn tệ hơn thế nữa. Chúng ta sẽ hướng sang Jakarta để tìm hiểu một ví dụ khác về cái cách mà chính sách công nghiệp ô tô thiển cận đã khiến Chú Sam phải đối mặt với rủi ro ngày càng bị gạt ra ngoài lề.

Indonesia: Tiếp tục cuộc hành trình mà không cần tới người Mỹ


Indonesia, nơi Obama đã sống vài năm thời thơ ấu, từng được cho là thu được nhiều lợi ích từ mối quan hệ thương mại tăng cường giữa Washington và Jakarta. Nay thì chẳng còn ai nói thế nữa. Obama không quan tâm đến việc kết nạp nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á vào TPP. Người Indonesia – những người gần đây đã rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa dân tộc về kinh tế – cũng không tỏ dấu hiệu nào cho thấy họ quan tâm nhiều đến những gì mà người Mỹ vẫn nghĩ. 

Kênh NewsAsia, một kênh tin tức truyền hình ở Singapore được theo dõi rộng rãi khắp khu vực (và cả ngoài khu vực, nhờ trang channelnewsasia.com), đưa tin ngày 17.3 vừa qua rằng Indonesia đã áp đặt mức thuế suất 40% lên ô tô nhập khẩu. Tuy nhiên, Toyota, Nissan, Mitsubishi và Daihatsu lại “chiếm khoảng 95% thị trường ô tô Indonesia”, bản tin lưu ý. Không cần phải thắc mắc làm gì. Các sản phẩm ô tô nhập khẩu của Nhật, nhờ một hiệp định thương mại ưu đãi mà Nhật đã ký kết với Indonesia, được miễn thuế ở đây.

Một Liên minh Châu Âu với mối quan tâm chính đáng thì đang thương thảo với Indonesia về một thoả thuận thương mại ưu đãi nhằm “cho phép các công ty của Châu Âu cạnh tranh trên một sân chơi công bằng” ở đây, bản tin bổ sung thêm.

ASEAN cũng đương bận bịu với việc đàm phán các quy tắc thương mại mới nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động buôn bán ô tô trên khắp Đông Nam Á.

Trong khi đó, Nhà Trắng của Obama, sau khi đã đặt cược hết các quả trứng đàm phán vào trong chiếc rổ TPP, lại bị gạt ra ngoài. Trung Quốc, nước đã ký kết thoả thuận thương mại ưu đãi với ASEAN – cũng như Australia và New Zealand – đang ở vào vị thế tốt để thắt chặt thêm mối quan hệ thương mại với Indonesia.

Điểm dừng tiếp theo: Manila – để xem những cơ hội nhỡ nhàng khác trong chính sách thương mại của Mỹ lại trở thành món quà hào phóng cho một người bạn cũ.

Con hổ Châu Á tiếp theo


Toạ lạc dọc theo các tuyến thương mại huyết mạch trên Thái Bình Dương, Philippines – với dân số đang tiến đến mốc 100 triệu, cộng đồng dân cư nói tiếng Anh lớn thứ ba trên thế giới – là đất nước rất dồi dào về khái niệm mà các nhà kinh tế học gọi là “nguồn vốn con người”. Vì vậy, mối quan hệ với Manila thường có ý nghĩa quan trọng đối với bất kỳ tổng thống Mỹ nào, thậm chí cả khi thuộc địa cũ này của Mỹ không phải là một trong những đồng minh chiến lược lâu đời nhất của họ.

Điều đáng ghi nhận là Nhà Trắng dưới thời Obama đã khuyến khích Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao tăng cường các mối quan hệ chính trị - quân sự hiện hành với chính phủ của Tổng thống Benigno Aquino III, người được bầu lên vào năm 2010. Những yêu sách mơ hồ của Trung Quốc đối với những khu vực trên Biển Đông mà rõ ràng là nằm trong lãnh hải của Philippines cũng nêu bật vai trò quan trọng kéo dài của mối quan hệ an ninh gần gũi Hoa Kỳ - Philippines. (Chắc chắn, tình trạng tê liệt chính sách không phải là chứng bệnh của mỗi nước Mỹ. Người ta vẫn thắc mắc là liệu ban lãnh đạo mới của Trung Quốc có nhận ra thực tế là những hành động khiêu khích trên biển vụng về của Bắc Kinh sẽ nhắc nhở bất kỳ chính phủ Philippines nào về tầm quan trọng của việc gắn bó mật thiết với người bạn truyền thống Hoa Kỳ hay không?)

Từng một thời là nền kinh tế lớn thứ hai Châu Á, chỉ sau Nhật Bản, trong phần lớn nửa cuối thế kỷ 20, người Philippines – sa lầy trong nạn tham nhũng ác tính và với nền kinh tế hướng nội - đã tụt hậu một cách đáng chú ý phía sau các quốc gia láng giềng. Nhưng giờ đây Aquino đã đưa đất nước của ông trở lại quỹ đạo, phát động một chiến dịch trấn áp tham nhũng mà cựu quan chức ngoại giao Hoa Kỳ John Forbes thán phục gọi là “thực sự chưa có tiền lệ về quy mô”.

(Forbes là tác giả chính của Arankada, một ấn bản của Liên hiệp Các phòng Thương mại Nước ngoài ở Philippines - Joint Foreign Chambers of the Philippines - www.arangkada.com. Arangkada, trong tiếng Tagalog có nghĩa là “chuyển động nhanh gấp đôi”, chứa đầy những bài mô tả kinh tế đáng tin cậy về những gì mà cựu “bệnh nhân” của Châu Á có thể làm để trở lại lành mạnh về kinh tế như trước.)

Quả thực, dưới sự lãnh đạo của Aquino, Philippines đã ra khỏi tình trạng cần chăm sóc đặc biệt.

Tốc độ tăng trưởng GDP năm ngoái của Philippines là 6,6% và dự đoán đạt 7% trong năm nay – cao nhất Đông Nam Á. Những chiếc cần cẩu xây dựng đan xen trên nền trời Manila. Khu vực ngay phía bắc Manila mà một thời là căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ ở Clark Field và Subic Bay đang phát triển mạnh mẽ. Sân bay Quốc tế Clark – nơi mà chỉ vài năm trước chim đậu nhiều hơn máy bay – đã cất cánh, với lượng khách đến tăng vọt từ 50.000 năm 2004 lên 1,3 triệu vào năm ngoái. Hãng hàng không Asiana của Hàn Quốc, Air Asia của Malaysia, Dragonair của Hồng Kông… đang chuyên chở khách tới Philippines từ khắp Châu Á. Hãng Emirates sẽ mở đường bay hàng ngày từ Clark đến Dubai vào cuối năm nay. Đối với bất kỳ ai vẫn nhìn vào những lợi thế hữu ích vốn xẩy ra khi các dự án đầu tư nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Philippines được chào đón, đây là điều mà họ tìm kiếm.

Quả thực, các căn cứ quân sự trước kia của Mỹ đã trở thành hình mẫu về lợi ích của việc thu hút đầu tư nước ngoài. Yokohama Tires và Texas Instruments có những dự án đầu tư trên 1 tỷ USD ở Clark; Samsung cũng có một cơ sở sản xuất chất bán dẫn quan trọng ở đây. Tập đoàn Hanshin của Hàn Quốc có xưởng đóng tàu lớn thứ tư thế giới ở Vịnh Subic. Thời kỳ đỉnh cao trong chiến tranh lạnh, các căn cứ quân sự cũ của Mỹ thuê khoảng 40.000 người Philippines. Ngày nay, dưới sự quản lý của người Philippines, số việc làm ở hành lang Clark – Subic đã tăng vọt lên trên 4 lần – hơn 160.000. “Tôi không nghĩ là người Philippines từng có thời kỳ tốt đẹp hơn thế này” – đó là nhận xét của Dennis Wright, một cựu thuyền trưởng năng động trong lực lượng Hải quân Mỹ, người đang phát triển một khu công nghiệp trị giá 3 tỷ USD tại khu vực Clark Field trước kia cho một nhóm nhà đầu tư Kuwait.

Aquino, theo quy định của hiến pháp Philippines, có một nhiệm kỳ kéo dài 6 năm, kết thúc vào năm 2016. Các nhà cải cách nhấn mạnh, đây là thời điểm cần khẩn trương đưa vào càng nhiều cải cách càng tốt. Sau năm 2016, người kế nhiệm của Aquino rất có thể sẽ là một chính trị gia khác chủ yếu quan tâm đến chuyện kiếm chác.

Đây là nơi mà vai diễn trục xoay nửa vời bước vào sân khấu. Trong khi Nhà Trắng ủng hộ mối quan hệ an ninh tăng cường với Philippines, Washington lại chưa đầu tư nhiều tâm sức vào việc thắt chặt mối quan hệ thương mại.

Chính quyền Obama chưa chào đón Philippines vào các cuộc đàm phán TPP. Liên minh Châu Âu quan tâm đến việc thương thảo một thoả thuận thương mại ưu đãi với Philippines còn Nhà Trắng thì không. Washington hiện không có kế hoạch nào để kéo Manila vào cuộc một cách nghiêm túc nhằm thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại trước năm 2016, thời điểm mà cả Obama lẫn Aquino đều không còn tại nhiệm.

Người Philippines đã lưu ý đến điều này. Tháng Chín năm ngoái, phát biểu trước một cử toạ nhiều ảnh hưởng ở Washington do Hội Hoa Kỳ - Philippines (U.S.-Philippines Society) và tổ chức đầy uy tín Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies) mời đến, Bộ trưởng Tài chính Cesar Purisima đã than vãn rằng người ta không muốn nước ông gia nhập TPP. Hiệp định thương mại đó, với cấu trúc hiện hành, bao gồm một số quốc gia Châu Á và phớt lờ số khác, sẽ làm méo mó các dòng chảy thương mại và vì thế “cản trở” mục đích đáng ca ngợi là thúc đẩy sự phát triển một nền thương mại đích thực, vị bộ trưởng giải thích. 

Trong khi đó, mỗi khi liên quan đến Philippines, Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) lại luôn ở trong tư thế “thực thi” đầy đủ.

Ngày 28.3, cảnh sát thương mại của USTR sẽ chủ trì việc phân xử những đơn khiếu nại về các vụ lạm dụng quyền của người lao động giai đoạn 2001-2007 mà thủ phạm gây ra dưới thời Tổng thống Gloria Arroyo – các vụ sát hại các nhà tổ chức công đoàn chẳng hạn. Mối đe doạ hàm ý ở đây là nếu Tổng thống Obama tự mình xác quyết rằng Aquino đã không làm việc đủ chăm chỉ để dọn sạch đống rác mà ông được thừa hưởng, Obama có thể chấm dứt ưu đãi miễn thuế dành cho Philippines theo chương trình GSP (Generalized System of Preferences: chương trình giảm thuế suất nhập khẩu cho những nước kém phát triển nhất trong số các nước thành viên WTO – ND).

Điều này dĩ nhiên là lố bịch. Rốt cuộc, Aquino đã đặt Arroyo – người chưa bao giờ đánh mất những ưu đãi GSP của mình khi bà điều hành Philippines – vào tình trạng bị quản thúc tại gia trong khi bà phải đối mặt với các cáo buộc tham nhũng. Bộ trưởng Lao động của Aquino, Rosalinda Baldoz, là người được tôn trọng rộng rãi vì đức tính chính trực và sự cống hiến của mình trong việc xử lý các vụ lạm dụng dưới thời Arroyo. Không một ai, ở USTR hay Diễn đàn Quốc tế về Quyền của Người lao động (International Labor Rights Forum), tổ chức nộp đơn khiếu nại, mong muốn hay chờ đợi Obama sẽ làm mất mặt Aquino. Philippines vẫn đang “tiến bộ” về vấn đề quyền của người lao động – đó là nhận xét của Jeff Johnson, người phụ trách văn phòng Manila của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). 

Tại sao USTR lại tổ chức một vụ phân xử mà xét về bản chất thì nó làm mất mặt một đồng minh quan trọng của Mỹ? Trong khi người ta chỉ chực đổ lỗi cho các quan chức, các cảnh sát thương mại về cơ bản lại đang hoàn thành nốt vai trò dự định của họ là giám sát việc “thực thi” mà Quốc hội uỷ thác trong đạo luật GSP. Những nước như Philippines đã đăng ký chương trình GSP thì phải phục tùng sự giám sát như thế từ Washington, bất chấp những điều khiến họ phải mất mặt. Đó là một trong những lý do chính giải thích tại sao Quốc hội Mỹ lại thích chương trình GSP – luôn có một sự hiểu ngầm rằng những ưu đãi kinh tế được ban tặng thì cũng có thể bị tước đi. Và chưa một vị tổng thống Mỹ nào từng phàn nàn rằng chương trình GSP hào phóng kia còn là một thứ đòn bẩy ngoại giao mà người ta có thể luôn sử dụng, nếu cần thiết phải kiểm soát các đồng minh.

Chương trình GSP không phải đặc biệt hào phóng với Philippines theo bất cứ cách thức nào. Xin chỉ dẫn ra đây một ví dụ: mặt hàng xuất khẩu cá ngừ đóng hộp của Philippines không đủ điều kiện để được miễn thuế, vì nó “nhạy cảm” về mặt chính trị. Sự nhạy cảm ở đây liên quan đến Samoa, một lãnh thổ của Mỹ.

Chính sách chính thức của Mỹ từ lâu đã phân biệt đối xử với các nhà xuất khẩu cá ngừ Châu Á như Philippines, Thái Lan và Indonesia. Các nước xuất khẩu cá ngừ Châu Á phải đối mặt với hàng rào thuế quan bảo hộ của Mỹ lên tới 12%. Nhưng Samoa thuộc Mỹ, do là một lãnh thổ chính thức của Mỹ, lại có thể xuất khẩu cá ngừ đóng hộp sang đại lục Mỹ mà không phải chịu thuế. Nếu thiếu thuế quan bảo hộ, người Samoa không thể cạnh tranh nổi. (Để biết thêm chi tiết, xem: Charlie the Tuna’s Troubles in Pago Pago, ngày 12.7.2010, đã đăng trên www.rushfordreport.com).

Obama thừa hưởng biểu thuế suất nhập khẩu cá ngừ, vốn thiếu cơ sở kinh tế, từ người tiền nhiệm George W. Bush, người lại thừa hưởng nó từ những người tiền nhiệm của mình. Bush từng từ chối Gloria Arroyo thẳng thừng khi bà tìm cách dỡ bỏ thứ thuế kia. Chắc chắn là Obama rồi cũng sẽ gạt phăng vấn đề thuế suất nhập khẩu cá ngừ.

Tới Dacca, Phnom Penh và Hà Nội


Để nói về hàng rào thuế quan bất công của Mỹ mà các vị tổng thống Mỹ đã để lại cho người kế nhiệm mình, những người bảo vệ nó gần như tự động, chúng ta hãy hướng tới ba điểm dừng chân cuối cùng ở Châu Á, bắt đầu với Dacca.

Bangladesh cũng sẽ “lên thớt” trong buổi phân xử việc thực thi quy định của USTR vào ngày mai. Không như Philippines, Obama thực sự đang cân nhắc việc bãi bỏ những ưu đãi GSP dành cho Dacca. Và không có gì phải thắc mắc ở đây, nếu xét thành tích nghèo nàn của Bangladesh suốt bao năm qua trong việc trấn áp những hành vi vi phạm nhân quyền trong ngành dệt may. Bi kịch gần đây nhất xẩy ra chỉ trong tháng 11 vừa qua, khi ít nhất 112 công nhân may quần áo bị chết trong một vụ hoả hoạn nhà máy mà lẽ ra không bao giờ được phép xẩy ra.

Tuy nhiên, may mặc và giày dép lại không đủ điều kiện để được miễn thuế trong chương trình GSP, theo bất kỳ cách nào. (Quyết định đó ra đời từ thời Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, người thiết kế nên bản kế hoạch chính trị ban đầu về GSP trong thập niên 1970. Nixon và Kissinger phải đối mặt với một nhóm vận động hành lang trong ngành dệt may của Mỹ, với ảnh hưởng chính trị đáng kể lúc bấy giờ.) Giờ đây, dưới thời Obama, chủ nghĩa bảo hộ kiểu cũ vẫn tiếp tục vận động theo chế độ tự hành – mặc dù rất ít thứ quần áo và giày dép vẫn còn được sản xuất ở Mỹ và nhóm lobby dệt may nay đã teo tóp kia của Mỹ không còn đủ lá phiếu để đánh bại những đạo luật thương mại quan trọng.

Nhìn từ các nước đang phát triển với những người phụ nữ muốn thoát khỏi nghèo đói thì thuế suất nhập khẩu cao của Mỹ - nhìn chung xoay quanh mức 12%, nhưng có thể hơn gấp hai lần đối với một số mục – thật là độc ác. 

Tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Bangladesh sang Mỹ năm ngoái đạt 4,9 tỷ USD. Trong số đó, 4,4 tỷ USD là quần áo, và vì thế không đủ điều kiện theo chương trình GSP. Nói cách khác, 91% những gì Bangladesh bán sang Mỹ bị loại khỏi chương trình ưu đãi miễn thuế GSP, nhà phân tích thương mại ở Washington Edward Gresser lưu ý. “Đó không phải là một sự hào phóng đặc biệt”, ông nhận xét.

Gresser còn chỉ ra rằng, trong khi hàng rào thuế quan của Mỹ đánh mạnh vào quần áo và giày dép nhập khẩu từ các nước nghèo thì những sản phẩm cao cấp mà các nước giàu của Châu Âu bán sang Mỹ – máy bay, hàng điện tử, ô tô và tương tự (trừ xe tải) – lại chỉ phải chịu thuế suất thấp. Năm ngoái, chẳng hạn, Campuchia và Bangladesh xuất khẩu 7,6 tỷ USD hàng hoá sang Mỹ, chủ yếu là quần áo. Những sản phẩm xuất khẩu này phải chịu mức thuế suất tương ứng là 16,9% và 15%. Hải quan Mỹ thu được số thuế của Campuchia và Bangladesh lên đến 1,1 tỷ USD. Tổng giá trị hàng xuất khẩu của Đức sang Mỹ là 96 tỷ USD, và chỉ bị đánh thuế 1,4% - với số thuế vỏn vẹn 1,4 tỷ USD. Điều này quả là “bất công” đối với hai trong số những nước nghèo nhất trên thế giới, Gresser lập luận. Không có lời bình luận nào từ phía Nhà Trắng.

Liệu việc lấy đi của Bangladesh những lợi ích từ chương trình GSP có ý nghĩa gì với Obama hay không khi mà trên 90% giá trị hàng xuất khẩu của quốc gia đó lại không nằm trong GSP? Hãy đặt câu hỏi tương tự với người Campuchia.

Khi Bill Clinton còn là tổng thống, Campuchia đã đồng ý với đòi hỏi của các nghiệp đoàn lao động Mỹ là mở cửa các nhà máy bóc lột công nhân cho thanh tra lao động quốc tế. Điều đó đã có tác dụng. Hiện nay, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thông qua chương trình Better Factories Cambodia (Vì những nhà máy tốt hơn cho Campuchia - www.betterfactories.org) vẫn tiến hành hoạt động giám sát chặt chẽ và hữu hiệu đối với ngành dệt may ở đất nước này.

Tuy nhiên, mặc dù người Campuchia đã làm tất cả những gì có thể để đáp ứng đòi hỏi của AFL-CIO (American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations – một liên hiệp công đoàn ở Mỹ), cả Obama lẫn những người tiền nhiệm của ông kể từ thời Bill Clinton vẫn không sẵn lòng dành quy chế miễn thuế cho các sản phẩm quần áo và giày dép của Campuchia. Nhà Trắng của Obama – nay đang ở năm thứ năm của nhiệm kỳ - vẫn trước sau như một từ chối các câu hỏi về chủ đề này.

Đúng là Dacca phải đồng ý mở cửa các nhà máy bóc lột công nhân của họ cho lực lượng thanh sát của ILO. Nhưng từ quan điểm của Dacca, tại sao họ cần làm thế, bởi dù sao thì người Mỹ cũng sẽ chẳng đưa cho họ củ cà rốt kinh tế nào vì đã làm như thế cả.

Sẽ còn rất nhiều chuyện như thế, khi chúng ta kết thúc cuộc khảo sát ở Hà Nội.

Như với Philippines, chính quyền Obama cũng đang làm việc với các giới chức Việt Nam – những người có lý do chính đáng để lo ngại những động thái gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông – nhằm tăng cường mối quan hệ an ninh. Mặc dù Washington đã hoan nghênh sự tham gia của Việt Nam vào các cuộc đàm phán thương mại TPP, các cuộc thương thảo này lại đang bế tắc. Đây là câu chuyện quen thuộc đối với những độc giả thường xuyên của chuyên san này (xem: Imperial Preferences, www.rushfordreport.com). Tóm lại, Nhà Trắng đã khiến các cuộc đàm phán TPP lâm vào bế tắc bằng cách từ chối đòi hỏi của Việt Nam là phía Mỹ phải mở cửa thị trường hơn nữa cho các mặt hàng may mặc và giày dép của Việt Nam, vốn đang phải chịu thuế suất nhập khẩu cao. (Động thái bảo hộ gần đây nhất mà Washington áp đặt lên Việt Nam: tăng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm nhập khẩu cá da trơn của Việt Nam - gọi là cá basa hay cá tra trong Tiếng Việt - lên tới mức khủng khiếp 79%, cho mỗi kg. Các nhà lãnh đạo hàng đầu ở Hà Nội rất tức giận, bởi họ có lý do để tin rằng các quan chức Bộ Thương mại Mỹ cố tình nặn ra những con số phức tạp kia để trừng phạt ngành thuỷ sản của Việt Nam – thật khó mà nói là lần đầu tiên.)

Nếu có một chỉ dấu về một tin tích cực nào thì đó là: những bộ phận hiểu biết hơn trong cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ đang ngày càng bộc trực hơn về sự cần thiết đối với một chính sách thương mại hiệu quả hơn. 

Trước khi chấm dứt cuộc khảo sát và trở lại Washington, D.C., chúng tay hãy lưu ý một số phát hiện cơ bản của Rick Helfenbein và Harold McGraw III.

Helfenbein là phó chủ tịch Hiệp hội Quần áo và Giày dép Hoa Kỳ (AAFA). “Đối với những ai trong số chúng ta tham gia vào hoạt động thương mại, và đối với những ai trong số chúng ta vẫn tin tưởng rằng một chính sách thương mại năng động là điều kiện thiết yếu cho sự tăng tiến của nền kinh tế Mỹ, bốn năm qua quả là đáng thất vọng”, ông viết gần đây trong một ấn phẩm nội bộ của AAFA. “Cả chính phủ Obama lẫn Quốc hội Hoa Kỳ đều đã chứng tỏ rằng đàm phán về chính sách thương mại chỉ đơn giản là một hình thức của lối nói hoa mỹ vô tác dụng và hay thay đổi, bất chấp sự tăng trưởng kinh tế tích cực bắt nguồn từ việc đạt được một chính sách thương mại năng động. Nó khiến người ta phải tự hỏi là cớ làm sao mà một nhóm quan chức dân cử xứng đáng đến thế lại có thể làm việc thật vất vả khi bàn về một trò chơi hữu ích, nhưng rồi lại thất bại khi bắt tay vào cuộc chơi.”

McGraw, một trong những nhân vật ảnh hưởng nhất trên sân khấu thương mại, là chủ tịch Uỷ ban Khẩn cấp về Thương mại Hoa Kỳ (Emergency Committee for American Trade - ECAT). Tổng thống Obama “cần lãnh đạo bằng tấm gương”, McGraw viết trong mục ý kiến ngày 7.3 trên tờ Politico. “Việc hạn chế cơ hội tiếp cận thị trường một cách không công bằng đã phát đi một thông điệp rõ ràng tới các chính phủ khác rằng họ cũng có thể làm như vậy. Thuế nhập khẩu luỹ thoái (regressive) của Mỹ đánh vào quần áo và giày dép, những hạn chế thương mại nhằm vào đường sữa và các hàng rào khác rốt cuộc lại gây ra những chi phí đáng kể cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ, điều này phải được xử lý”, nhà lãnh đạo ECAT bổ sung.

“Chúng ta không thể yêu cầu các nước khác mở cửa thị trường cho mình trong khi lại không chịu mở cửa thị trường đầy đủ cho họ.”

Trong khi đó, Obama có thể đang suy nghĩ nghiêm túc về điều trớ trêu là vì ông chưa kết nối phần kinh tế của trục xoay Châu Á với phần chính trị - quân sự nên các mối quan hệ kinh tế trên khắp khu vực có thể sẽ thu hẹp dưới thời của ông.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG KHOẢN VAY TỪ TRUNG QUỐC

Lê Anh Hùng
1/7/2013



“Món quà” của người “bạn tốt”
Chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 19 ÷ 21.6 vừa qua của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận trong bối cảnh tình hình khu vực đang nóng lên trước một Trung Quốc không ngừng trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng bộc lộ cuồng vọng bá quyền khiến cả thế giới phải dè chừng.
Một trong những “món quà” của Trung Quốc mà phái đoàn Việt Nam mang về nước là khoản vay ưu đãi 320 triệu nhân dân tệ cho dự án hệ thống thông tin đường sắt và một hiệp định cho vay khác dành cho dự án nhà máy đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu dollar.
Việc các quốc gia phát triển cao hơn dành những khoản viện trợ phát triển hay tín dụng ưu đãi cho những quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn là một điều bình thường xưa nay. Kể từ khi bắt đầu “đổi mới”, mở cửa đến nay, cộng đồng quốc tế vẫn thường dành cho Việt Nam sự hỗ trợ như thế, đặc biệt là các khoản vay ưu đãi.
Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, kèm theo những khoản vay đó là những điều kiện mà bên cho vay đặt ra. Có những điều kiện có lợi cho Việt Nam, chẳng hạn như yêu cầu về sự công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dự án liên quan; có những điều kiện có lợi cho quốc gia cho vay: ưu tiên nhập máy móc thiết bị từ nước họ hoặc trao các gói thầu cho nhà thầu của họ. Những khoản vay đến từ các quốc gia phát triển thường đem lại hiệu quả thiết thực cho Việt Nam, bởi ngay cả điều kiện có lợi cho bên cho vay thì nhìn chung cũng chấp nhận được nếu xét đến trình độ khoa học – công nghệ và quản lý hàng đầu thế giới của họ.
Và những hệ luỵ khó lường
Đáng tiếc là thực tế trên đây lại không đúng với với người láng giềng “4 tốt, 16 chữ vàng” của Việt Nam. Người ta thường nói: “Chẳng ai cho không ai cái gì”. Câu châm ngôn này xem ra rất đúng với Trung Quốc, và càng đặc biệt đúng trong mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1950.
Ngược dòng thời gian, ngay từ những năm 1950, khi mà mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” của hai quốc gia cộng sản đang ở thời kỳ “trăng mật”, Trung Quốc đã lợi dụng danh nghĩa “giúp” Việt Nam để lấn chiếm lãnh thổ với đủ mọi thủ đoạn khác nhau.
Với những toan tính chiến lược thể hiện đúng “bản sắc” của mình, Trung Quốc luôn quan tâm đến các dự án hạ tầng quan trọng ở Việt Nam. Và họ hiện là nhà thầu thống trị các dự án trọng điểm quốc gia của Việt Nam; đồng thời, họ cũng rất “nổi tiếng” về chất lượng và tiến độ thực hiện các dự án đó. Thủ thuật thông thường của họ là đưa ra giá đấu thầu thật thấp để trúng thầu rồi sau đó sẽ tìm đủ mọi cách hòng kiếm chác, để lại những thiệt hại không thể đong đếm cho phía Việt Nam, cả về kinh tế lẫn an ninh – quốc phòng. Ngoài ra, một lá bài rất hữu hiệu khác mà họ hay sử dụng là “cho vay ưu đãi” hoặc “thu xếp vốn” để được giao thực hiện dự án, đặc biệt là những dự án nhạy cảm về an ninh – quốc phòng.
Ví dụ điển hình ở đây là dự án đường sắt đô thị của Tp Hà Nội, tuyến Cát Linh - Hà Đông. Tuyến đường sắt trên cao này được khởi công ngày 10/10/2011, với tổng mức đầu tư 533 triệu USD, trong đó nguồn vốn vay của Trung Quốc là 419 triệu USD. Không chỉ tổng thầu EPC của dự án là công ty Trung Quốc (Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt Trung Quốc) được chỉ định thầu mà nhà thầu tư vấn giám sát thi công và lắp đặt thiết bị cũng là một công ty Trung Quốc nốt (Công ty TNHH Giám sát Xây dựng Viện Nghiên cứu Thiết kế Công trình Đường sắt Bắc Kinh). Với một dự án rất nhạy cảm về an ninh – quốc phòng như vậy thì đây quả là điều hết sức khó chấp nhận, nhất là khi chúng ta biết rằng công nghệ đường sắt của Trung Quốc còn kém xa thế giới, mà vụ tai nạn tàu cao tốc thảm khốc ngày 23/7/2011 tại Ôn Châu (Triết Giang, TQ) là một minh chứng rõ ràng.
Dự án hệ thống thông tin đường sắt nói trên hầu như chắc chắn sẽ lọt vào tay nhà thầu Trung Quốc. Họ sẽ kéo theo một lô một lốc những công nghệ, thiết bị và cả con người sang Việt Nam để thực công trình biểu tượng cho “tình hữu nghị thắm thiết” này.
Và rồi chúng ta không chỉ phải đối mặt với một khả năng rất lớn là chất lượng hệ thống thông tin đường sắt không đảm bảo như ý muốn mà cả những mối đe doạ tiềm ẩn liên quan đến an ninh quốc gia. Bởi một khi xung đột giữa hai nước nổ ra – điều xem ra không dễ tránh khỏi trước cuồng vọng bành trướng không hề che dấu của Trung Quốc trên Biển Đông – thì với “biệt tài” của mình, người “bạn tốt” của chúng ta hoàn toàn đủ khả năng làm tê liệt toàn bộ hệ thống đường sắt của Việt Nam. Thiết tưởng vụ mất điện toàn miền Nam chiều ngày 22.5 vừa qua là một lời cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ về một mối đe doạ khủng khiếp khi mà Việt Nam gần như đã dâng cả ngành điện lực cho Trung Quốc suốt nhiều năm qua./.

            Vị đắng khi lệ thuộc vốn vay Trung Quốc

Tác giả: PHẠM HUYỀN | 10/01/2011 |
(VEF) - Nhiều dự án của Việt Namphải thuê nhà thầu Trung Quốc bởi một lý do “bất khả kháng”: nguồn vốn vay từ chính Trung Quốc. Và khi dự án có vấn đề về chất lượng thì các chủ đầu tư Việt Namchỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”
Cái khó xử khi nhận vốn của Trung Quốc
Trung Quốc không phải là nước thuộc nhóm cung cấp vốn hỗ trợ phát triển ODA lớn cho Việt Nam, cũng không phải là nước bỏ vốn đầu tư trực tiếp (FDI) thuộc TOP 10 ở Việt Nam.
Nếu tính theo số các dự án FDI còn hiệu lực, hơn 20 năm qua, FDI từ Trung Quốc chỉ có 3,184 tỷ USD,  đứng thứ 14 và chiếm 4% tổng vốn FDI của 92 quốc gia, vùng lãnh thổ đã đến Việt Nam. Riêng năm 2010, Trung Quốc  đứng thứ 11 với tổng vốn 364,6 triệu USD, chỉ chiếm hơn 1% tổng vốn FDI cả năm của Việt Nam.
Thế nhưng, thực chất, dòng vốn Trung Quốc chảy vào Việt Nam lại không hề nhỏ.
Cho tới nay, chưa có bộ ngành nào thống kê cụ thể, Việt Nam đã vay bao nhiêu tiền của Trung Quốc. Chỉ thấy rằng, ở hầu khắp các ngành công nghiệp, năng lượng của Việt Nam, vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Trung Quốc đang đóng vai trò rất quan trọng, chủ yếu là từ đầu mối Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank).
Đơn cử như  ở ngành điện, trong tổng số 9 dự án nhiệt điện do Tập đoàn Than - Khoáng sản làm chủ đầu tư, hiện có 4 dự án vay vốn tín dụng xuất khẩu hoặc ODA của Trung Quốc.
Đó là các dự án nhiệt điện Cao Ngạn, Sơn Động, Cẩm Phả, Mạo Khê đều chủ yếu vay tín dụng xuất khẩu của ngân hàng China Eximbank. Dự án có tổng vốn đầu tư ít nhất cũng hơn 3.500 tỷ đồng. Các dự án điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng vay từ ngân hàng này không hề ít, ví dụ như dự án nhiệt điện Quảng Ninh 1 và 2, dự án Hải Phòng 1 và 2, dự án nhiệt điện Uông Bí mở rộng…
Mới đây nhất, 18/12/2010,  Bộ Tài chính cũng đã ký hiệp định vay 300 triệu USD với China Eximbank cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (2 x600MW).
Trung bình mỗi dự án điện công suất 300MW trở lên của Việt Nam có tổng vốn đầu tư trên 500 triệu USD. Nếu dự án vay từ China Eximbank thì nguồn vốn này thường chiếm khoảng 85% tổng vốn đầu tư.
Như vậy, ước tính, tổng vốn vay của Trung Quốc chỉ riêng cho ngành điện Việt Nam đã là con số hàng tỷ USD.
Không chỉ là ngành điện, nguồn tín dụng ưu đãi của Eximbank còn có mặt ở nhiều dự án trọng điểm của các ngành công nghiệp khác. Ví dụ như ngành hóa chất với dự án đạm từ than cám Ninh Bình do Tổng công ty Hóa chất Việt Nam làm chủ đầu tư, cũng sử dụng nguồn vốn 500 triệu USD theo hiệp định tín dụng xuất khẩu ký với Trung Quốc. Dự án sản xuất khuôn mẫu và trục in nhựa của Tổng công ty Nhựa Việt Nam cũng vay tín dụng ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc trị giá 50 triệu Nhân dân tệ.
Trao đổi với PV. VEF, một lãnh đạo ở Bộ Công Thương từng chia sẻ, khi các nhà thầu Trung Quốc vào Việt Nam, nhận thấy điểm yếu là thiếu vốn, họ nhanh chóng đặt vấn đề: nếu phía Trung Quốc lo thu xếp vốn được cho dự án thì bù lại, hãy giao dự án đó để họ làm.
Với một lời đề nghị hấp dẫn như vậy thì quả thực, các chủ đầu tư Việt Namkhó lòng từ chối. Theo thông lệ quốc tế, khi đã nhận vốn vay của một nước, chủ đầu tư sẽ phải tổ chức đấu thầu hạn chế, chỉ mở thầu cho các nhà thầu nước cho vay tham gia. Đó là lý do bất khả kháng để các dự án lớn trên của Việt Nam phải chọn nhà thầu Trung Quốc và nhập khẩu lớn thiết bị, máy móc của nước này.
Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông
Nhưng lẽ thường, sự hấp dẫn của một chính sách về vốn như vậy bao giờ cũng có tính hai mặt. Chính sách vay vốn của Trung Quốc có thể rất  thông thoáng, nhưng đôi khi, cũng có vị đắng mà các chủ đầu tư Việt Nam chỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Một chuyên gia trong ngành cắt nghĩa với VEF rằng, ngân hàng của Trung Quốc - với tư cách là người thẩm định hồ sơ vay vốn, có quyền kiểm duyệt các điều kiện kỹ thuật trong dự án. Điều kiện đó liệu thích hợp với các nhà thầu của nước họ không? Từ đó, họ có quyền đòi hỏi phải hạ thấp một số tiêu chí để các nhà thầu Trung Quốc có cơ hội tham gia thì mới cho vay vốn.
Với kinh nghiệm 30 năm trong ngành điện, vị chuyên gia này phân tích, giả dụ hiệu suất lò hơi nhiệt điện trong hồ sơ mời thầu một dự án nhiệt điện than, nếu chỉ nâng lên 1% để đảm bảo chất lượng, thì ngay lập tức, hàng loạt các nhà thầu Trung Quốc sẽ bị rớt vì không đạt yêu cầu. Nhưng, chỉ cần hạ 1% hiệu suất lò hơi theo đề nghị của Ngân hàng Trung Quốc, giá thành máy móc, thiết bị đã giảm tới 20-30% . Vì yếu tố kinh tế đó, thông thường, cả bên đi vay và bên cho vay đều chấp nhận.
Một đặc điểm khác, theo vị chuyên gia này quan sát, trong hồ sơ mời thầu các dự án nhiệt điện, nếu chú trọng chất lượng, bao giờ cũng có câu,“yêu cầu thiết bị G7 hoặc chất lượng tương đương”. Nhưng với nhiều dự án nhiệt điện mà vay vốn Trung Quốc thì thường, những dòng chữ ghi điều kiện như vậy sẽ bị gạch bỏ. Đến khi dự án đi vào triển khai, chủ đầu tư Việt Nam sẽ vô cùng khó xử khi rơi vào tình huống phải chấp nhận các thiết bị kém chất lượng một cách miễn cưỡng.
Vị chuyên gia giám sát kỹ thuật tại một dự án nhiệt điện chia sẻ, căn cứ để giám sát chất lượng thiết bị nhập cho dự án chỉ có duy nhất 1 tờ giấy do nhà thầu cung cấp với tiêu đề  “QUALITY CERTIFICATE”, gọi là phiếu chất lượng. Nhưng, hình thức trình bày và  nội dung thông tin lại rất sơ sài.
Ở tờ phiếu chất lượng này, chỉ có tên thiết bị, nhà máy sản xuất, mã số đóng gói, mã số đặt hàng và dòng chữ đề thiết bị đã đạt chuẩn của nhà máy…, không có thông tin căn cứ theo một tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia nào. Phần ký xác nhận phiếu, lúc là giám đốc nhà máy ở Trung Quốc, lúc là một cán bộ thay mặt giám đốc ký.
Vị kỹ sư tại dự án này nhận định, các phiếu này giống như phiếu xuất xưởng. Nó đơn giản tới mức chẳng cần in phiếu ở Trung Quốc mà có thể in ra ngay tại công trường Việt Namnhư một loại văn bản thông thường.
Trong khi đó, hợp đồng ký với nhà thầu Trung Quốc thường chỉ ghi, thiết bị đến công trường phải có “phiếu chất lượng”, nhưng không mô tả rõ, phiếu chất lượng ấy như thế nào. Rốt cục, khi các tài liệu chứng nhận chất lượng chỉ vỏn vẹn có thế, chính những người gác cửa về chất lượng dự án trở nên tù mù, bó tay để thẩm định thiết bị, và chỉ khi nhà máy vận hành, phát sinh trục trặc mới biết thiết bị ... kém cỡ nào.
Ban đầu, các giám sát viên có thể từ chối không nghiệm thu thiết bị kém chất lượng, nhưng rồi xảy ra tranh luận với nhà thầu và những áp lực từ nhiều phía... cộng với việc nhà máy lại vay vốn của chính Trung Quốc, các giám sát kỹ thuật của Việt Nam sẽ buộc “phải” nghiệm thu công trình dù chưa đạt yêu cầu. Bởi theo vị chuyên gia này, nếu không nghiệm thu thiết bị, vấn đề giải ngân vốn của dự án cũng gặp khó khăn.
Thực tế này cũng đã xảy ra với nhiệt điện Cao Ngạn cách đây 3 năm. Mặc dù nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư rồi, nhưng nhà máy này đã phải hoạt động trong tình trạng vừa chạy, vừa sửa chữa, cải tiến tiếp.
Từng trả lời trên VEF, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương cho rằng, phải tăng cường khâu giám sát thiết bị của Trung Quốc đến công trường, nhưng những câu chuyện trên đã cho thấy, khi chủ đầu tư lại là người đi vay của phía nước nhà thầu thì mọi sự thật khó. Việc nhận bàn giao nhà máy điện hay không đã biến thành câu chuyện trở đi mắc núi, trở lại mắc sông.
Nguồn: VEF

Bài đã đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 1.7.2013 - http://boxitvn.blogspot.com/2013/07/canh-giac-voi-nhung-khoan-vay-tu-trung.html.