Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

‘Đối thoại’ kiểu cộng sản: bắt cóc và cưỡng bức ‘đối thoại’

Lê Anh Hùng | VOA| 20.9.2017



Nhóm Nghiên cứu Thể chế là một nhóm tự nguyện, hình thành trên tinh thần nghiên cứu học thuật và tập trung vào nghiên cứu về thể chế dân chủ nhằm đưa ra dự án nghiên cứu của nhóm. Nhóm ra đời ngày 9/6/2017 tại Hà Nội và tôi là một trong bốn thành viên ban đầu.
Mặc dù chỉ thuần tuý vì mục đích học thuật, nhưng kể từ khi ra đời đến nay, nhóm Nghiên cứu Thể chế đã gặp phải sự sách nhiễu thường xuyên của nhà cầm quyền. Các thành viên đều lần lượt được cơ quan an ninh triệu tập để làm việc liên quan đến hoạt động của nhóm.
Hết triệu tập…
Ngày 25/8, cơ quan an ninh điều tra Công an Hà Nội đã phát giấy triệu tập lần thứ nhất cho tôi, yêu cầu tôi đúng 8h30 ngày 28/8 phải có mặt tại 89 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) để “làm việc liên quan đến hoạt động của nhóm ‘Nghiên cứu Thể chế’”.

Tôi đã từ chối chấp hành giấy triệu tập phi pháp nói trên, bởi theo mục b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì điều tra viên được phân công điều tra vụ án hình sự có quyền “Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án”, nghĩa là chỉ khi ai đó liên quan đến một vụ án hình sự đã được khởi tố thì mới bị công an triệu tập để làm việc. Ngoài ra, khoản 1.1 Điều 1 Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/1/2006 của Bộ Công an còn quy định: “Điều tra viên được phân công thụ lý chính điều tra vụ án được ký giấy triệu tập bị can tại ngoại để hỏi cung, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo kế hoạch đã được Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án duyệt.”

Giấy triệu tập Lê Anh Hùng lần thứ hai. Ảnh: Lê Anh Hùng
Ngày 28/8, viên cảnh sát khu vực lại đến nhà trao cho tôi giấy triệu tập lần thứ hai của cơ quan an ninh điều tra Công an Hà Nội, yêu cầu đúng 8h30 sáng ngày 29/8 tôi phải có mặt tại trụ sở cơ quan ANĐT Công an Hà Nội để “làm việc liên quan đến hoạt động của nhóm Nghiên cứu Thể chế”. Một lần nữa, tôi lại từ chối chấp hành giấy triệu tập phi pháp của Công an Hà Nội, với lý do nêu trên. Ngày 8/9, cơ quan ANĐT Công an Hà Nội lại phát giấy triệu tập tôi lần thứ ba, và tôi tiếp tục từ chối chấp hành.
…lại đến bắt cóc
Sáng 12/9, tầm 7h30, khi tôi vừa rời khỏi quán ăn sáng một đoạn thì bị khoảng chục nhân viên an ninh dưới sự chỉ huy của thiếu tá Nguyễn Thế Thanh áp sát. Họ chìa cho tôi xem giấy triệu tập lần thứ tư, nhưng tôi chưa kịp ngó qua thì đã bị cả toán cưỡng chế lên chiếc xe ô tô 7 chỗ đang chờ sẵn rồi áp giải tôi về trụ sở Công an Hà Nội. Đến nơi, khoảng hơn 8h, viên thiếu tá cùng một nhân viên an ninh dẫn tôi vào chính căn phòng tầng 1 mà ngày 10/5/2016, tôi đã bị bắt cóc và cưỡng chế đến để “làm việc” với họ về các bài viết đăng tải trên Internet.
Thiếu tá Nguyễn Thế Thanh yêu cầu tôi bỏ điện thoại ra. Tôi lấy điện thoại ra, tắt máy và để trên bàn làm việc; viên thiếu tá liền cầm lấy và để vào chiếc bàn nhỏ nằm trong góc phòng. Một nhân viên kỹ thuật mang máy quay phim vào đặt ở góc phòng và bật máy ghi hình.
Và lý lẽ “luật là tao”
Thiếu tá Nguyễn Thế Thanh nói: “Sau mấy lần phát giấy mà anh không đến làm việc. Hôm nay chúng tôi mời anh đến đây để làm việc về những nội dung liên quan đến hoạt động của nhóm Nghiên cứu Thể chế.” Tôi nói: “Đây không phải là ‘mời’. Đây là hành vi bắt cóc và cưỡng chế người trái pháp luật. Tôi phản đối việc các anh xâm phạm quyền tự do và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của tôi, cũng như việc các anh quay phim ghi hình tôi.”
Tôi viện dẫn những căn cứ pháp lý ở phần trên để nêu lý do không chấp hành các giấy triệu tập của họ. Viên thiếu tá nói: “Giống như năm ngoái, khi anh từ chối làm việc với chúng tôi với lý do là anh không liên quan đến một vụ án nào đã được khởi tố nên không thể bị triệu tập. Chúng tôi đã nói là anh hiểu chưa đầy đủ về luật. Hôm nay tôi cho anh xem cái này.”
Anh ta đưa cho tôi tập Thông tư Liên tịch số06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC về việc “Hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp & PTNT và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ban hành ngày 2/8/2013, rồi chỉ cho tôi đến Điều 10 (“Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên”) của bản thông tư. Mục b khoản 3 của Điều 10 ghi rõ là điều tra viên được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có quyền “triệu tập và lấy lời khai của những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác minh nguồn tin”.
Tiếp theo, anh ta chìa cho tôi xem qua văn bản đầu tiên trong tập hồ sơ liên quan mà anh ta giữ khư khư trên tay. Đó là công văn số 1118/STTTT-TTĐT “Về bài viết trên mạng có nội dung vi phạm pháp luật” do Sở Thông tin - Truyền thông Hà Nội gửi Công an Hà Nội ngày 29/6/2017. Nội dung công văn đại khái là Sở TT-TT phát hiện thấy sự ra đời của một nhóm mang tên “Nghiên cứu Thể chế” với trang web tại địa chỉ http://nghiencuutheche.com (kèm theo thông tin và hình ảnh các thành viên), trong đó có những bài viết có nội dung “vi phạm pháp luật”. Tôi yêu cầu anh ta cho tôi xem kỹ công văn mà Sở TT-TT “tố giác” chúng tôi, nhưng anh ta từ chối.
Tức là, theo thiếu tá Nguyễn Thế Thanh, căn cứ vào Thông tư Liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC và công văn số 1118/STTTT-TTĐT, việc cơ quan ANĐT Công an Hà Nội phát giấy triệu tập tôi đến làm việc về hoạt động của nhóm Nghiên cứu Thể chế là đúng pháp luật.
Tuy nhiên, tôi đã mạnh mẽ phản bác lại lập luận của anh ta. Thứ nhất, quyền triệu tập những đối tượng liên quan của điều tra viên đã được quy định tại mục b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và được giải thích cụ thể hơn tại khoản 1.1 Điều 1 Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/1/2006 của Bộ Công an; mục b khoản 3 Điều 10 Thông tư Liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC không chỉ ra đời sau mà còn trái với các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11), vì thế nó mặc nhiên vô hiệu, không có giá trị pháp luật.
Thứ hai, ngay cả khi mục b khoản 3 Điều 10 của Thông tư Liên tịch kia là đúng pháp luật đi nữa thì khoản 1 Điều 9 của thông tư đó cũng đã quy định rõ: “Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu.” Vì vậy, tôi yêu cầu anh ta chỉ cho tôi thấy việc chúng tôi thành lập nhóm Nghiên cứu Thể chế, cũng như nội dung các tài liệu đăng tải trên website của nhóm, vi phạm pháp luật hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở chỗ nào, theo điều nào của luật nào, mà cơ quan ANĐT đã dựa vào để “triệu tập” chúng tôi. Dĩ nhiên, anh ta không thể trả lời được câu hỏi đó.
Ngoài ra, trong buổi “làm việc”, tôi cũng nói rõ với thiếu tá Nguyễn Thế Thanh là tôi không còn niềm tin vào lực lượng công an nữa, bởi tôi là người đã tố cáo những tội ác khủng khiếp của một loạt lãnh đạo chóp bu suốt từ năm 2008 đến nay; mặc dù 9 năm đã trôi qua nhưng vụ tố cáo công khai, đúng pháp luật và đặc biệt nghiêm trọng của tôi vẫn chưa được nhà chức trách giải quyết đúng pháp luật; và trong khi người tố cáo lẽ ra phải được bảo vệ thì tôi lại thường xuyên bị sách nhiễu, khủng bố, trả thù với đủ mọi hình thức. Trước lập luận không thể bác bỏ được của tôi, anh ta đành chống chế là vụ tố cáo của tôi đang tạm gác lại (!).
Với những lý do nêu trên, tôi đã từ chối làm việc với cơ quan an ninh điều tra Công an Hà Nội, không trả lời các câu hỏi khi họ lập biên bản làm việc, và không ký vào biên bản. Cuối cùng, đến gần 16h30, họ đưa tôi lên ô tô và áp giải về nhà.
Thật mỉa mai, việc Công an Hà Nội triệu tập các thành viên nhóm Nghiên cứu Thể chế, một nhóm thuần tuý học thuật, hay  bắt cóc và cưỡng chế tôi đến “làm việc” với họ lại diễn ra trong bối cảnh chỉ mới vài tháng trước, ông Võ Văn Thưởng, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền của Đảng CSVN, còn trịnh trọng loan báo: “Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.
Không còn nghi ngờ gì, cách đối xử mà Công an Hà Nội dành cho nhóm Nghiên cứu Thể chế nói chung cũng như cá nhân tôi nói riêng đã cho thấy, đằng sau thông điệp “đối thoại” của nhà cầm quyền Việt Nam là lời cảnh báo: Hãy “đối thoại” với cộng sản theo cách họ muốn, nếu không muốn bị cưỡng bức “đối thoại” trước khi bị tống vào tù.

  • Lê Anh Hùng
  • Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Vì sao Võ Kim Cự lại được trọng dụng?

Lê Anh Hùng | VOA| 14.9.2017



Từ việc tội đồ được trao thêm chức vụ…
Võ Kim Cự là một trong những tội đồ đứng đằng sau thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra ở Miền Trung năm 2016.
Dưới áp lực của dư luận, ngày 21/4/2017 nhân vật đầy tai tiếng và nhơ nhuốc này đã bị Ban Bí thư kỷ luật bằng hình thức xoá bỏ tư cách ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2005 - 2010 và nhiệm kỳ 2010 - 2015 (bao gồm cách chức cả các chức vụ: Bí thư Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh theo quy định), trước khi buộc phải xin thôi nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết cho thôi nhiệm vụ ĐBQH khóa 14 vào ngày 15/5/2017) rồi bị Thủ tướng Chính phủ xoá tư cách nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2005 - 2010 và nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 vào ngày 16/8/2017.

Với những sai phạm đặc biệt nghiêm trọng mà báo chí đã phanh phui, những tưởng việc ông Võ Kim Cự bị cách nốt chức vụ Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chỉ còn là vấn đề thủ tục, bởi đầu tháng 5/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giao Bộ Nội vụ xem xét cách chức Chủ tịch Liên minh HTX của ông ta. Ấy vậy nhưng, ông ta không những không phải rời khỏi chiếc ghế quan trọng kia mà, đùng một cái, ngày 7/9 vừa qua, một loạt cơ quan truyền thông chính thống của Việt Nam còn loan tin là ông ta đã trở thành Phó ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Kinh tế Tập thể và Hợp tác xã (!).
…đến phản ứng của Hà Nội trước cuộc tập trận của Trung Quốc  
Ngày 1/9, báo Thanh Niên đưa tin “Trung Quốc tập trận rầm rộ ở Biển Đông”. Bài báo cho biết, website của Cục Hải sự Trung Quốc thông báo nước này tiến hành cuộc diễn tập quân sự từ ngày 29/8 đến 4/9 trên một vùng biển rộng tới 11.000km2 mà một phần nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thậm chí chỉ cách Đà Nẵng 75 hải lý. Ngoài ra, Trung Quốc còn thông báo tiến hành 3 cuộc tập trận bắn đạn thật từ ngày 31/8 đến 2/9 tại các khu vực nằm gần các đảo Phú Lâm, Quang Hòa và Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Trước một sự kiện leo thang quân sự chưa từng có và gây chấn động dư luận như vậy, nhưng mãi đến ngày 5/9, tức sau khi Trung Quốc đã chấm dứt cuộc tập trận được một ngày, Bộ Ngoại giao Việt Nam mới lên tiếng phản đối hành động phi pháp của Trung Quốc. Phản ứng của Bộ Ngoại giao Việt Nam có mấy điểm đáng chú ý sau: (i) Lên tiếng muộn màng bằng một bản thông cáo báo chí, chứ không phải thông qua một cuộc họp báo chính thức (tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng được thể hiện qua một bản thông cáo báo chí gửi đến các cơ quan truyền thông); và (ii) Mức độ phản ứng yếu ớt khác thường trước một sự kiện đặc biệt nghiêm trọng (chủ quyền quốc gia bị xâm phạm).
Theo thông lệ quốc tế, các phản ứng ngoại giao mà Việt Nam đưa ra luôn dựa trên cấp độ: lấy làm tiếc (như phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng trước phát biểu ngày 2/8/2017 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức, liên quan đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh); quan ngại; phản đối; triệu đại sứ đến để trao công hàm phản đối, v.v. Việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam rõ ràng là đặc biệt nghiêm trọng; vậy nhưng phản ứng của Hà Nội lại chỉ dừng lại ở việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao lên tiếng “phản đối”, và thậm chí chỉ “mạnh mẽ phản đối”, chứ không phải “cực lực phản đối”.
Trước đó, trong thời gian Trung Quốc tập trận trên Vịnh Bắc Bộ (từ 1/8 - 23/8) thì phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam im lặng. Khi Trung Quốc đang tập trận ở vùng biển Hoàng Sa và ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (cách bờ biển Đà Nẵng 75 hải lý) từ ngày 29/8 - 4/9 thì ngày 31/8, bà Thu Hằng bày tỏ thái độ “quan ngại” trước việc Trung Quốc tập trận ở Vịnh Bắc Bộ! Và một ngày sau khi Trung Quốc tập trận xong ở Hoàng Sa và ngoài khơi Đà Nẵng, bà Thu Hằng mới mạnh dạn lên tiếng “mạnh mẽ phản đối”! Thậm chí, trong chương trình thời sự VTV 19h ngày 5/9, tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ được phát ở phút thứ 35, tức là gần cuối chương trình.

Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN chỉ được phát sóng ở phút thứ 35
chương trình thời sự VTV 19h ngày 5/9. Ảnh: Lê Anh Hùng
Xin dẫn ra đây một vài ví dụ để cho thấy phản ứng của Bộ Ngoại giao Việt Nam hiện nay là khác xa so với trước kia:
1) Ngày 27/6/2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện ĐSQ Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối việc Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mở thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Trước đó một ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh, Việt Nam “cực lực phản đối” và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên.
2) Ngày 3/12/2012, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã triệu Đại sứ Trung Quốc đến để trao công hàm phản đối việc tàu cá Trung Quốc gây đứt cáp tàu Bình Minh 02 ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ ngày 30/11/2012.
3) Sau khi Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 vào trong vùng biển Việt Nam ngày 1/5/2014, Việt Nam đã liên tục đối thoại, giao thiệp với Trung Quốc ở nhiều cấp độ khác nhau nhằm phản đối Trung Quốc. Và trong cuộc họp báo ngày 15/5/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam cực lực phản đốiviệc Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan trong vùng biển chủ quyền và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.”
4) Chiều 16/6/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết Việt Nam “cực lực phản đối” việc Trung Quốc xây dựng trái phép ở Gạc Ma.
Và sự trỗi dậy của “thế và lực” Trung Quốc tại Việt Nam
Hai diễn biến khác thường trên đây có điểm gì chung?
Xin thưa, chúng cùng chia sẻ những điểm chung sau. Thứ nhất, chúng đều là những sự vụ mà TBT Nguyễn Phú Trọng là người có tiếng nói cuối cùng. Thứ hai, chúng thể hiện ảnh hưởng không thể chối cãi của “thế và lực” Trung Quốc tại Việt Nam (Formosa Hà Tĩnh tiếp tục là đại hiểm hoạ quân sự - kinh tế - môi trường “made in China” lơ lửng trên đầu dân tộc, mà ông Nguyễn Phú Trọng chính là người phải chịu trách nhiệm cao nhất). Và thứ ba, chúng diễn ra sau thời điểm Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang, thủ lĩnh nhóm chống Tàu trong bộ máy kể từ khi Trương Tấn Sang quy thuận Bắc Kinh giữa năm 2013, biến mất đầy bí ẩn từ ngày 25/7/2017 trước khi “tái xuất” vào ngày 28/8/2017.
Và bộ dạng nhợt nhạt, mất hết phong độ và nhuệ khí của ông Trần Đại Quang khi “tái xuất” trước công chúng báo hiệu điều gì nếu không phải là một tương lai đầy u ám cho Việt Nam, khi phe nhóm đại diện cho “lợi ích Tàu” do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu không còn đối thủ nào đáng kể trên chính trường?


  • Lê Anh Hùng
  • Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

VAT và cơ hội cho chính phủ Nguyễn Xuân Phúc

Lê Anh Hùng | VOA| 12.9.2017


Tăng thuế và lý lẽ của “dân chi phụ mẫu”
Tại cuộc họp báo chiều 15/8, Bộ Tài chính đã đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) theo hai phương án: (i) tăng từ 10% lên 12% kể từ ngày 1/1/2019; và (ii) tăng theo lộ trình, lên 12% từ ngày 1/1/2019 và 14% từ ngày 1/1/2021.
Lý do để Bộ Tài chính đưa ra đề xuất này là mức thuế VAT 10% hiện tại tương đối thấp, không phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia. 
Theo lập luận của Bộ Tài chính thì số lượng quốc gia áp dụng thuế VAT ngày càng tăng, từ khoảng 140 nước năm 2004 lên 160 nước năm 2014, và 166 nước năm 2016. Song song với điều đó, xu thế tăng thuế suất VAT cũng diễn ra phổ biến. Từ năm 2009-2016, các nước đều tăng thuế suất phổ thông. Cụ thể thuế suất VAT trung bình tại EU năm 2000 là 19%, đến năm 2014 lên mức xấp xỉ 21,5%. Các nước OECD cũng có xu hướng tăng thuế suất VAT từ mức bình quân 18% năm 2000, lên khoảng 19% năm 2014, và hơn 19% vào năm 2016.

Và sự thật đằng sau
Mặc dù Bộ Tài chính không nói thẳng ra, nhưng ai cũng hiểu, nguyên nhân bức bách nhất khiến cơ quan chủ quản ngân khố quốc gia phải đề xuất tăng thuế chính là tình trạng thâm thủng ngân sách, thu không đủ bù chi, vốn đã kéo dài nhiều năm nay, trong bối cảnh nợ công đã lên đến mức báo động (theo một chuyên gia của Liên Hợp Quốc là 210% GDP tính đến hết năm 2016) và vẫn đang trên đà gia tăng.
Bất chấp việc một số quan chức trong bộ máy lên tiếng trấn an dư luận, cho rằng người nghèo không bị ảnh hưởng nhiều, hoặc thậm chí là không bị ảnh hưởng bởi việc tăng thuế, đề xuất tăng thuế VAT của Bộ Tài chính vẫn vấp phải phản ứng gay gắt của dư luận, cả trên truyền thông “lề đảng” lẫn “lề dân”. Đơn giản, những lời giải thích của các quan chức kia hoặc là thiếu hiểu biết, hoặc là nguỵ biện. VAT là một loại thuế gián thu, không phân biệt người giàu hay người nghèo, nam phụ hay lão ấu, thế nên tất cả mọi người, bất kể giàu nghèo, đều bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, với mức thu nhập thấp hơn, người nghèo chắc chắn sẽ chịu nhiều ảnh hưởng hơn người giàu.
Ngoài ra, mức thuế suất VAT bình quân trên thế giới dao động với biên độ rất lớn, từ 0% (khoảng 27 nước không áp đặt thuế VAT) đến mức 5% như ở Đài Loan, Kuwait cho đến mức 25% (thậm chí 27%) như tại nhiều nước EU. Vì vậy có thể nói, cái gọi là “thông lệ quốc tế” về thuế suất VAT như lập luận của Bộ Tài chính đơn giản là không tồn tại. Bên cạnh đó, so với các nước trong khu vực (Đài Loan và Nhật Bản 5%; Thái Lan và Singapore 7%; Campuchia, Indonesia, Malaysia, Lào và Hàn Quốc 10%; Philippines 12%; Ấn Độ 12,5%; Trung Quốc 17%), thuế suất VAT 10% hiện nay của Việt Nam cũng nằm ở mức trung bình, chứ không hề thấp.
Đặc biệt, theo PGS.TS Trần Đình Thiên thì thu từ thuế và phí (không kể thu từ dầu thô) của Việt Nam hiện đang ở mức rất cao so với các nước trong khu vực. Cụ thể, trung bình trong giai đoạn 2007-2012, tỷ lệ này ở Việt Nam là 21,6% GDP, Trung Quốc là 17,3%, Thái Lan và Malaysia là 15,5%, Indonesia là 12,1% còn Ấn Độ chỉ là 7,8%. “Như vậy, những chính sách bảo hộ và thuế chồng lên thuế đang khiến mỗi người dân Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực”, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết.
Tóm lại, những lời giải thích của các quan chức Bộ Tài chính đều là lấp liếm, nguỵ biện, không che dấu được bản chất của việc tăng thuế suất VAT lần này là tiếp tục bòn rút sức dân, những “ông/bà chủ” vốn đã còm cõi vì phải gánh chịu đủ loại thuế phí trên trời dưới đất. Với việc thuế suất VAT tăng lên 12%, gánh nặng thuế phí/GDP lại càng đè nặng lên đôi vai họ.
Cơ hội cho chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
Tiếng nói của người dân ngày càng có ảnh hưởng đến công tác hoạch định chính sách của chính phủ. Đó là thực tế không cần phải bàn cãi. Lý do là vì dân chúng Việt Nam ngày càng bạo dạn hơn trong việc bày tỏ chính kiến, đặc biệt là những gì liên quan đến chuyện cơm áo gạo tiền hàng ngày, mà vụ BOT Cai Lậy vừa rồi là một minh chứng nóng hổi. Ngoài ra, bản thân chính phủ Việt Nam cũng đã phải trả nhiều học phí đắt giá khi bất chấp phản ứng của công luận, mà vụ Bauxite Tây Nguyên là một ví dụ điển hình.
Trước làn sóng phản ứng mạnh mẽ của dư luận, trong cuộc họp chính phủ thường kỳ tháng 8/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo: “Với tinh thần năm 2017 là năm giảm chi phí cho doanh nghiệp, trước mắt, chưa đề cập việc tăng các loại thuế, phí, lệ phí, ảnh hưởng đến doanh nghiệp.”
Chỉ đạo của người đứng đầu chính phủ, có thể nói, phần nào đã cho thấy sự lắng nghe phản ứng của dư luận, trước khi “chuyển hoá” thành chỉ đạo điều hành. Tuy nhiên, nếu tất cả chỉ dừng lại ở chừng đó không thôi thì chưa rõ ràng và chưa đủ.
Chưa rõ ràng là vì việc tăng thuế suất VAT trước hết ảnh hưởng đến người dân. VAT là thuế gián thu, đánh vào người tiêu dùng, doanh nghiệp chỉ đơn giản là thu hộ cho nhà nước. VAT làm cho giá hàng hoá tăng lên, khiến sức mua của người tiêu dùng giảm đi, nhưng với những mặt hàng thiết yếu thì mức suy giảm gần như bằng không. Trong khi đó, chỉ đạo của Thủ tướng Phúc lại mới chỉ quan tâm đến doanh nghiệp, mà cũng không chỉ đích danh loại thuế đang khiến dư luận bất bình là VAT.
Chưa đủ là vì “chưa đề cập đến việc tăng các loại thuế, phí, lệ phí” mới chỉ là một giải pháp tình thế trước áp lực của dư luận, mà chưa kèm theo những giải pháp căn cơ, rốt ráo nhằm giáp bớt áp lực ngân sách đang ngày một đè nặng lên hệ thống và quan trọng hơn là quyết tâm chính trị để hiện thực hoá chúng.
Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright: “Với thuế suất VAT phổ thông hiện nay là 10%, thì nguồn thu từ thuế VAT đã chiếm tới 27,5% tổng thu ngân sách của Việt Nam. Trong khi đó, với mức thuế suất trung bình cao hơn hẳn là 21,3%, VAT cũng mới chiếm trung bình 21,4% tổng thu ngân sách của các nước EU.”  Khi thuế suất VAT tăng lên thì một mặt sức mua của người dân sẽ giảm; mặt khác, tình trạng trốn lậu thuế lại càng diễn ra phổ biến. Cả hai yếu tố đều ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. Nghĩa là, việc tăng thuế suất VAT không đồng nghĩa với việc vai trò của sắc thuế này trong tổng thu ngân sách sẽ được cải thiện tương ứng.
Vì thế, để giải quyết một cách căn cơ tình trạng thâm thủng ngân sách và nợ công ngất ngưởng trong bối cảnh dư luận phản ứng gay gắt trước đề xuất tăng thuế suất VAT hiện nay, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cần nhân cơ hội thúc đẩy mạnh mẽ nghị trình cải cách kinh tế, mà trọng tâm và gai góc nhất là việc tinh gọn và lành mạnh hoá khu vực kinh tế nhà nước: (i) cổ phần hoá/tư nhân hoá DNNN: nhằm giải phóng nguồn lực trong khu vực kinh tế nhà nước, khu vực nắm giữ phần lớn nguồn lực quốc gia nhất nhưng hiệu quả lại thấp nhất; (ii) thị trường hoá/phi điều tiết hoá, đặc biệt là những lĩnh vực còn bị can thiệp nặng nề như điện lực, xăng dầu, v.v… và dịch vụ sự nghiệp công; (iii) tinh gọn bộ máy, cắt giảm biên chế; và (iv) cải cách đầu tư công (minh bạch, kiểm soát và thắt chặt đầu tư công; thực hiện nguyên tắc ngân sách cứng, chấm dứt hiện tượng “đội vốn”; đảm bảo nguyên tắc độc lập giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp thực hiện đầu tư).

  • Lê Anh Hùng
  • Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

Ông Trần Đại Quang đang đóng vai gì?

Lê Anh Hùng | VOA| 9.9.2017



Số phận ông Trần Đại Quang đã an bài?
Cuộc “tái xuất” bất ngờ
Sau đúng 1 tháng 3 ngày vắng bóng trên truyền thông, ông Trần Đại Quang đã xuất hiện trong một loạt sự kiện liên tiếp: tiếp Đại sứ Cuba và Chánh án Toàn án Tối cao Hàn Quốc ngày 28/8; tham dự Hội nghị Quân uỷ Trung ương và tiếp Đại sứ Slovakia và Đại sứ Áo ngày 29/8, v.v.
Sự vắng mặt suốt hơn 1 tháng của người đứng đầu nhà nước Việt Nam đã khiến báo chí trong và ngoài nước tốn rất nhiều giấy mực, còn dân chúng thì bàn tán xôn xao và đưa ra vô số giả thuyết để lý giải cho sự kiện chưa từng có tiền lệ trên sân khấu chính trị “thời đại Hồ Chí Minh”. Cuộc “tái xuất” khiến nhiều người bất ngờ đến ngỡ ngàng của ông Trần Đại Quang đã giúp giải toả được một số “băn khoăn” mà dư luận từng nêu lên, chẳng hạn khả năng ông bị đầu độc rồi bị loại khỏi cuộc chơi, như trường hợp Nguyễn Bá Thanh năm 2015, đã không xẩy ra. Tuy nhiên, sự kiện này lại làm dấy lên những câu hỏi khác, bên cạnh những câu hỏi trước kia mà đến nay vẫn còn để ngỏ.  
Tựu trung, câu hỏi quan trọng nhất ở đây là: vị thế chính trị của ông Trần Đại Quang hiện nay là thế nào, hay chính xác hơn là ông ta đang sắm vai gì trên sân khấu chính trị Việt Nam?

Không còn làm chủ tình hình?
Trong thời gian ông Trần Đại Quang vắng mặt, tên ông vẫn xuất hiện trên truyền thông qua những sự vụ như Chủ tịch nước gửi điện mừng Quốc khánh Cộng hoà Trung Phi hay Quốc khánh Đại Hàn Dân Quốc, v.v. Điều này không khiến người ta phải thắc mắc nhiều, bởi đó đơn thuần là những nghi thức trong bang giao quốc tế, Chủ tịch nước không phải trực tiếp nhúng tay vào.
Sự xuất hiện khiến nhiều người quan tâm và bình luận nhất là việc ngày 20/8, một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đã đăng bài "Tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong tình hình mới". Đây là chủ đề bàn tán khá rôm rả của cộng đồng mạng, mà chủ yếu là theo chiều hướng phê phán. Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn thậm chí còn bình luận: “Bài viết của ông Quang hoàn toàn không có lời nào của ‘ông Chủ tịch nước’. Mà chỉ thể hiện trí tuệ tầm thường của anh công an quèn.” Và vì thế mà ai cũng trù ông “chết phứt cho rồi”.
Đây là lý do khiến người ta tin rằng ngài Chủ tịch nước đã không còn làm chủ được cuộc chơi, dù chỉ là việc cho công bố một bài viết tử tế dưới tên mình ngay giữa lúc đang cần đến sự ủng hộ tinh thần của công chúng nhất. 
Thêm một “ông phỗng”?
Trong bài “Vụ Trịnh Xuân Thanh: Tương lai nào cho Trần Đại Quang” ngày 8/8/2017, chúng tôi đã đưa ra 4 kịch bản cho tương lai của đương kim Chủ tịch Việt Nam là: (i) Trước áp lực của Đức cũng như dư luận quốc tế, cộng với sự phản công của đối thủ, TBT Nguyễn Phú Trọng chấp nhận lùi bước, và những lời khai của Trịnh Xuân Thanh liên quan đến ông Trần Đại Quang sẽ bị xoá bỏ. Ông sẽ “thoát hiểm”, ung dung trở lại và “lợi hại hơn xưa”; (ii) Ông Trần Đại Quang đầu hàng Trung Quốc và phe phái thân Tàu trong bộ máy để được tiếp tục an vị trên chiếc ghế Chủ tịch nước và thậm chí vẫn còn cơ hội trở thành Tổng Bí thư nếu chấp nhận làm tay sai cho Bắc Kinh; (iii) Ông Trần Đại Quang bị xử lý trong nội bộ Bộ Chính trị, chấp nhận vai trò một “ông phỗng” và “ngồi chơi xơi nước” trên chiếc ghế Chủ tịch nước để “giữ bình”; và (iv) Ông Trần Đại Quang bị xử lý công khai và phải rời khỏi chiếc ghế Chủ tịch nước.
Cuộc tái xuất của ông Trần Đại Quang khiến cho cả 4 kịch bản trên đều có khả năng xẩy ra, ít nhất là trên lý thuyết. Tuy nhiên, cho dù bao nhiêu giả thuyết đi nữa thì rốt cuộc cũng chỉ có một kịch bản diễn ra trên thực tế.
Bây giờ chúng ta sẽ thử phân tích xem khả năng nào là lớn nhất.
Kịch bản thứ nhất và thứ hai nêu trên chỉ xẩy ra khi vụ Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc về Việt Nam kèm theo lời khai “nóng” của anh ta về vai trò của ông Trần Đại Quang chưa được đưa ra Bộ Chính trị. Song điều đáng tiếc là các diễn biến liên quan lại chỉ khiến người ta đi đến kết luận ngược lại.
Ngày 7/8, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an đã ra lệnh tạm giam Trịnh Xuân Thanh để “điều tra về hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Động thái này diễn ra trong bối cảnh vụ Trịnh Xuân Thanh đang được dư luận quốc tế dõi theo sát sao, còn dư luận trong nước thì đang nóng ran nóng rẫy trước sự kiện chưa từng có đó. Theo “thông lệ” của nền “pháp quyền XHCN” ở Việt Nam, vụ việc phải được đưa ra Bộ Chính trị và quy trình tố tụng đối với Trịnh Xuân Thanh chỉ được khởi động sau khi tập thể Bộ Chính trị nhất trí. Điều này có nghĩa là ông Trần Đại Quang không còn cơ hội nào để lật ngược tình thế được nữa, ít nhất là bởi trong Bộ Chính trị không chỉ có ông ta mà còn không ít kẻ đang nhòm ngó chiếc ghế của TBT Nguyễn Phú Trọng, kể cả khi một ứng cử viên sáng giá là Đinh Thế Huynh đã bị loại khỏi cuộc đua, như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chẳng hạn.
Việc ông Trần Đại Quang đột ngột biến mất suốt hơn một tháng trước khi “tái xuất” với một bộ dạng nhợt nhạt, mất hết thần sắc và phong độ là bằng chứng cho thấy TBT Nguyễn Phú Trọng cùng thuộc hạ đã ra “đòn độc” với đối thủ theo kiểu “đập phát chết luôn”. Cách duy nhất để làm điều đó là đưa ngay vụ Trịnh Xuân Thanh ra Bộ Chính trị khi anh ta vừa được áp giải về tới Việt Nam, khiến ông Trần Đại Quang không kịp trở tay và rơi vào tình thế “hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”.
Như vậy, chỉ còn kịch bản thứ ba và thứ tư là có khả năng xẩy ra với ông Trần Đại Quang. Tuy nhiên, kịch bản thứ tư lại chỉ xẩy ra khi vụ Trịnh Xuân Thanh được đưa ra xét xử công khai và những sai phạm của ngài Chủ tịch nước được công bố trước bàn dân thiên hạ, một lựa chọn có thể dẫn đến những hệ luỵ khó lường đối với bộ mặt vốn đã nhem nhuốc của chế độ cũng như sự vận hành vốn đã chuệch choạc của hệ thống, trong khi nếu bị dồn vào đường cùng thì bất kỳ ai cũng trở nên nguy hiểm, nói gì đến một cựu Bộ trưởng Công an.
Tóm lại, kịch bản thứ ba là khả năng lớn hơn cả. Nghĩa là, số phận chính trị của ông Trần Đại Quang coi như đã an bài. Vụ Trịnh Xuân Thanh cùng lời khai liên quan đến ngài Chủ tịch nước đã được ra Bộ Chính trị; sau một thời gian chống cự trong bối cảnh bị quản thúc, ông ta đã đầu hàng để được sắm vai một “ông phỗng” trên chiếc ghế Chủ tịch nước hầu đảm bảo an toàn và “uy tín” cho mình, đồng thời “giữ bình” cho ngài TBT.[i]
_______
Ghi chú:
[i] Ở Việt Nam, việc một nhân vật chóp bu buộc phải sắm vai “ông phỗng” không phải bây giờ mới xẩy ra, mà đã từng có tiền lệ lịch sử.
Cuối thập niên 1960, Hồ Chí Minh từng bị Bộ Chính trị dưới sự khuynh loát của Lê Duẩn viện lý do sức khoẻ để gạt ra khỏi vòng quyền lực. Gần đây hơn, điều này cũng lặp lại với Nông Đức Mạnh, người đã bị gạt sang một bên từ tháng 4/2009 (tức gần 2 năm trước khi chính thức bàn giao chiếc ghế Tổng Bí thư cho Nguyễn Phú Trọng) do liên quan đến một vụ tố cáo đặc biệt nghiêm trọng.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

Vụ 8B Lê Trực: Hoàng Trung Hải phản đòn?

Lê Anh Hùng| VOA| 6.9.2017    



Bí thư Thành uỷ Hà Nội (gốc Tàu) Hoàng Trung Hải
Tháng 9/2015, vụ việc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Phát triển Kinh Đô (Kinh Do TCI Group) xây dựng toà nhà Discovery Complex II tại địa chỉ 8B Lê Trực (quận Ba Đình, Tp Hà Nội) bắt đầu gây xôn xao dư luận trên báo chí “lề đảng” trước khi lan sang báo chí “lề dân”.
Ngày 24/3/2014, Sở Xây dựng Hà Nội cấp Giấy phép Xây dựng số 11/GPXD-SXD cho công trình toà nhà 8B Lê Trực, theo đó chiều cao công trình là 53m, với 18 tầng nổi và 4 tầng hầm. Tuy nhiên, vào thời điểm công trình gần như đã hoàn tất thì người ta mới tá hoả khi phát hiện ra toà nhà trong thực tế lại cao tới 69m (vượt giấy phép 16m) và gồm 19 tầng nổi (vượt 1 tầng so với giấy phép).
Quan trọng hơn, với chiều cao vượt trội so với các toà nhà xung quanh, gần gấp đôi lăng Hồ Chí Minh và sát ngay một bên trung tâm đầu não Ba Đình, toà nhà Discovery Complex II trông chẳng khác gì một toà tháp canh khổng lồ, cho phép giám sát mọi động tĩnh xung quanh khu vực đặc biệt nhạy cảm về an ninh quốc gia này.

Dư luận lại càng hết sức lo ngại khi những thông tin liên quan đến dự án cũng như chủ đầu tư được báo chí phanh phui: ngoài dự án trên, Kinh Do TCI Group còn là chủ đầu tư một số dự án bất động sản toạ lạc tại những vị trí hết sức nhạy cảm về an ninh, chẳng hạn như dựán Capital Garden tại ngõ 102 Trường Chinh (gồm 2 tòa tháp cao hơn 115m và chỉ cách Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân mấy bước chân), hay dự án Hoàng Quốc Việt Towers (gồm 2 tòa tháp cao 46 tầng và 50 tầng) tại góc đường Hoàng Quốc Việt - Phạm Văn Đồng, tức chỉ cách trụ sở mới của Bộ Công an vài trăm mét. Đặc biệt, Phó Thủ tướng Hoàng TrungHải, người phê duyệt dự án trong vai trò Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng Thủ đô (nay đã trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội), lại là một người Hán trá hình.
Hai năm đã trôi qua kể từ khi báo chí lên tiếng về dự án 8B Lê Trực, và số phận của nó tưởng như đã được định đoạt sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đích thân lên tiếng chỉ đạo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 30/6/2016. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành xử lý giai đoạn 1 (cắt tầng 19) vào tháng 10/2016, việc tháo dỡ phần vi phạm giai đoạn 2 vẫn “dậm chân tại chỗ”, với đủ thứ lý do từ phía chủ đầu tư cũng như đơn vị ký hợp đồng tháo dỡ (Công ty CP Tập đoàn Phương Bắc).
Không những vậy, ngày 29/8 vừa qua, chủ đầu tư dự án còn cho biết là họ đã khởi kiện UBND quận Ba Đình ra tòa 1 năm nay; tòa đã thụ lý nhưng chưa có ý kiến gì với doanh nghiệp. Lý do mà họ khởi kiện là (i) toà nhà 8B Lê Trực được xây dựng phù hợp với quy hoạch chi tiết 1/500 do UBND thành phố phê duyệt, trong khi đó Giấy phép Xây dựng số 11/GPXD-SXD lại không đúng quy hoạch đó; (ii) việc cưỡng chế phá dỡ không căn cứ vào quy hoạch chi tiết mà chỉ căn cứ vào giấy phép xây dựng là không đúng quy định; và (iii) ngoài ra, công trình cũng thuộc đối tượng không phải đề nghị cấp giấy phép xây dựng.

Toà nhà 8B Lê Trực
Nắm chắc lẽ phải như vậy, nhưng khi được hỏi là tại sao tại thời điểm bị hồi tố, cấp giấy phép không đúng với quy hoạch chi tiết mà phía doanh nghiệp không có phản hồi ngay, ông Lê Văn Hùng – Phó TGĐ Công ty CP May Lê Trực (công ty con của Kinh Do TCI Group) – lại hồn nhiên thổ lộ: “Chúng tôi không kêu ngay từ đầu mà thậm chí khi bị kết luận sai phạm còn xin phá dỡ tầng 19 là để cho êm chuyện, để không có lùm xùm ra ngoài. Nhưng giờ khổ như vậy, bức xúc lắm nên chúng tôi phải nói ra. Đó là cách giải quyết của chúng tôi.”
Liệu có ai tin nổi lời bộc bạch dễ thương trên đây của “khổ chủ” hay không? Nếu không thì vì lý do gì mà mãi 2 năm sau khi bị báo chí “đánh” đồng loạt và 1 năm sau khi đã cắt ngọn 1 tầng, chủ đầu tư mới bỗng nhiên nổi hứng cho công chúng biết là họ đã khởi kiện UBND quận Ba Đình từ… một năm trước, đồng thời đưa ra những bằng chứng khó bác bỏ. Và chỉ hai ngày sau đó, Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã giao Sở Xây dựng phối hợp với các ban, ngành như Thanh tra TP, Sở Tư pháp, UBND quận Ba Đình tiến hành rà soát lại thủ tục, pháp lý trong việc xử lý toà nhà 8B Lê Trực.
Trước hết, cần khẳng định rằng, không một vụ tiêu cực nào ở Việt Nam nằm ngoài sự bảo kê, thậm chí sự chỉ đạo trực tiếp, của một thế lực chính trị nào đó. Và khi sự vụ đó được đưa ra ánh sáng thì lý do quan trọng nhất không phải là vì nó trái pháp luật – bởi nếu chỉ đơn giản thế thì nó đã bị vạch trần và ngăn chặn ngay từ đầu – mà là vì sự đấu đá giữa các phe nhóm hoặc vì mưu đồ chính trị của kẻ khởi xướng.
Dự án toà nhà 8B Lê Trực cũng không phải là ngoại lệ. Tác giả của nó, như phần trên chúng tôi đã trình bày, không phải ai khác mà chính là cựu Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, “cha đẻ” của hàng loạt hiểm hoạ “made in China” khác trên khắp Việt Nam. Và việc dự án này bị báo chí đồng loạt cảnh báo về những hiểm hoạ tiềm tàng của nó không lâu trước khi Đại hội XII Đảng CSVN diễn ra chính là vì có (những) thế lực muốn qua đó để ngăn chặn ngài PTT có lý lịch đầy mờ ám này.
Câu hỏi không thể không đặt ra ở đây là: Liệu ngài cựu PTT có biết là dự án do mình phê duyệt đã bị xử lý oan hay không, và nếu biết thì tại sao ông ta lại không để cho thuộc hạ lên tiếng ngay từ thời điểm đó, mà đến bây giờ mới lên tiếng?
Xin thưa, ngài Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế cùng cả dàn thuộc hạ hùng hậu chắc chắn không ngây thơ đến mức không biết, nhưng vào thời điểm vô cùng nhạy cảm trước thềm Đại hội XII, ông ta đã khôn ngoan chọn kế sách “lùi một bước” và “nín thở qua sông”. Sau khi đã trở thành thành viên ban lãnh đạo tối cao, thống lĩnh bộ máy đảng - chính quyền - quân đội của một Hà Nội “ngàn năm văn hiến”, ông ta mới “bật đèn xanh” cho đàn em “rón rén” khởi kiện chính quyền (bị đơn chỉ là UBND quận Ba Đình). Và chỉ một ngày sau khi Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang tái xuất “bằng xương bằng thịt” với một bộ dạng nhợt nhạt trên truyền thông – bằng chứng cho thấy thủ lĩnh phe nhóm chống Tàu trong bộ máy đã đầu hàng Nguyễn Phú Trọng cùng phe nhóm thân Tàu và chấp nhận sắm vai một “ông phỗng” trên sân khấu chính trị Việt Nam – thì “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải mới chỉ đạo đàn em công khai lật lại vấn đề trên truyền thông.
Nếu người ta cứ vin vào cái gọi là “quy trình” hay “thủ tục” để biện minh cho sự tồn tại của một hiểm hoạ như Discovery Complex II ngay sát nách trung tâm đầu não chính trị quốc gia thì phải gọi “quy trình” hay “thủ tục” đó là gì nếu không phải là quy trình/thủ tục bán nước?
Bất luận thế nào, một khi Chủ tịch Hà Nội đã yêu cầu rà soát lại việc xử lý toà nhà 8B Lê Trực – một công trình mà công luận lên tiếng phản đối TRƯỚC HẾT là vì mối đe doạ tiềm tàng về mặt an ninh quốc gia của nó và đích thân Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu dỡ bỏ – thì xem ra không còn ai đủ sức ngăn cản cặp bài trùng Hoàng Trung Hải - Nguyễn Phú Trọng nữa.

  • Lê Anh Hùng
  • Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.
Nguồn: VOA

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

BOT Cai Lậy, ‘hoạ sỹ’ Hoàng Trung Hải và bức tranh giao thông VN

Lê Anh Hùng| VOA| 21.8.2017 


Từ dự án BOT đường tránh Cai Lậy…
Mấy hôm nay, dư luận Việt Nam đặc biệt xôn xao trước một sự kiện hy hữu mà giới truyền thông ví von là “Cai Lậy thất thủ”.
Để phản đối việc chủ đầu tư thu phí giao thông bất hợp lý trong dự án BOT “Đầu tư xây dựng công trình quốc lộ 1 qua đoạn tránh thị trấn Cai Lậy và tăng cường mặt đường đoạn Km 1987+560 - Km 2014+000” tại Tiền Giang, các tài xế đã sử dụng chiêu thức dùng những tờ tiền mệnh giá thấp để mua vé. Việc kiểm đếm tiền lẻ mất nhiều thời gian khiến giao thông bị ùn tắc kéo dài trên quốc lộ 1A. Kết quả là chỉ sau 15 ngày đi vào hoạt động, trạm thu phí BOT Cai Lậy đã phải 5 lần xả trạm do tình trạng ùn tắc kéo dài. Cuối cùng, rạng sáng ngày 15/8, chủ đầu tư dự án là Công ty TNHH BOT Cai Lậy đã phải rút toàn bộ nhân viên khỏi trạm thu phí.
Hai lý do khiến giới tài xế phản đối trạm thu phí BOT Cai Lậy là mức phí cao khác thường và đặc biệt là nó được đặt ngay trên quốc lộ 1, khiến những phương tiện không đi vào đường tránh cũng buộc phải trả phí. (Nhà chức trách và chủ đầu tư thì biện minh cho việc đặt trạm thu phí tại vị trí hiện nay là do trong dự án có hợp phần “tăng cường mặt đường đoạn Km 1987+560 - Km 2014+000”.)
Ngày 16/8, Bộ GTVT đã họp với Công ty TNHH BOT Cai Lậy và UBND tỉnh Tiền Giang. Ba bên đã đi đến thống nhất giảm giá vé cho ô tô qua trạm từ loại 1 đến loại 5 cũng như miễn giảm cho một số đối tượng thuộc 4 xã lân cận. Mặc dù giá vé đã giảm nhưng thời hạn thu phí lại tăng lên và đặc biệt là lãnh đạo Bộ GTVT vẫn nhất quyết không thay đổi vị trí đặt trạm, nên vấn đề xem như vẫn chưa được giải quyết. Người dân, nhất là những tài xế thường xuyên đi qua trạm thu phí, lại tiếp tục kêu gọi nhau chuẩn bị khối lượng lớn tiền lẻ mệnh giá thấp để thanh toán khi qua trạm. Những bất ổn tại trạm thu phí BOT này xem ra sẽ còn kéo dài.
…đến các dự án BOT giao thông trên toàn quốc
Những tai tiếng của dự án BOT đường tránh Cai Lậy hoàn toàn không phải là một hiện tượng cá biệt. Ngược lại, đây là một dự án tiêu biểu cho những khuất tất đằng sau các dự án BOT giao thông tại Việt Nam nói chung.
Bài “BOT dày đặc, kinh tế không tụt hậu mới lạ” trên trang Một Thế Giới ngày 20/8/2017 cho biết, cả nước hiện có 88 trạm thu phí BOT, riêng trên quốc lộ 1A có 37 trạm, trung bình 62km/trạm, trong khi quy định khoảng cách tối thiểu giữa các trạm là 70km. 
Các dự án này cùng chia sẻ những đặc điểm sau:
1)     Không phải là những tuyến đường mới. Hầu hết các dự án BOT giao thông đều là những dự án nâng cấp, cải tạo các tuyến đường cũ. Vì thế, người dân không có lựa chọn nào khác ngoài việc buộc phải đi vào các tuyến đường mà trước kia họ vẫn thường đi và phải trả phí thay vì miễn phí như trước. Điều này đã đi ngược lại nguyên tắc của dự án BOT – đó là quyền lựa chọn sử dụng hay không sử dụng của người dân. 
2)     Không qua đấu thầu công khai. Mặc dù các dự án BOT là dự án công nhưng theo kết luận mới đây của Thanh tra Chính phủ, trong 78 dự án BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) và BT (Xây dựng – Chuyển giao) từ trước tới nay (từ năm 2011 đến nay là 58 dự án BOT và 4 dự án BT) thì Bộ GTVT không lựa chọn được nhà đầu tư nào theo hình thức đấu thầu; 100% đều là chỉ định thầu với lý do chỉ có một nhà đầu tư tham gia hoặc do tính cấp bách của dự án.
3)     Thời hạn thu phí tuỳ tiện, vượt quá thời gian hoàn vốn. Trong 27 dự án BOT giao thông giai đoạn 2011-2016 được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán thì có đến 26 dự án phải điều chỉnh giảm thời gian thu phí hoàn vốn (từ 10 tháng đến 13 năm).
4)     Trạm thu phí đặt sai vị trí (quá gần nhau, hoặc theo kiểu “giăng lưới lùa xe”) và mức phí quá cao.
5)     Tình trạng “tự tung tự tác” của các nhà đầu tư. Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Nguyễn Quang Thành đã dùng từ “tự tung tự tác” để mô tả hoạt động của các nhà đầu tư BOT, và đồng tình với nhiều ý kiến về vai trò rất mờ nhạt của công tác quản lý nhà nước (gần như đứng ngoài phương án tài chính của các dự án, nhà đầu tư tự chọn thiết kế, tự thi công và tự khai doanh thu).
6)     Thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước (phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt và chỉ đạo dự án) của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành GTVT.

Tất cả các dự án BOT giao thông đều thuộc thẩm quyền chỉ đạo, phê duyệt
của PTT Hoàng Trung Hải. Ảnh: Cổng TTĐTCP
…và bức tranh giao thông Việt Nam
Không chỉ là người chịu trách nhiệm cao nhất về các dự án BOT giao thông, mà với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế ngành, trong đó có ngành giao thông, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành GTVT, ông Hoàng Trung Hải còn là “thợ vẽ” để lại dấu ấn đậm nét nhất trên bức tranh giao thông Việt Nam giai đoạn 2007-2016. Và dưới đây là những gam màu chủ đạo trên bức tranh nham nhở đó.
Chất lượng kém. Tình trạng công trình giao thông nhanh xuống cấp đã trở thành một hiện tượng phổ biến, và điều này đã gây ra nhiều phản ứng tiêu cực trong công chúng; các dự án giao thông trở thành những cỗ máy ngốn ngân sách, gây lãng phí thời gian sửa chữa khắc phục.
Chi phí cao nhất thế giới. Ông Nguyễn Quang Khai, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) nhận xét: “Một con đường đẹp như mơ của Dubai với 12 làn xe có chi phí xây đường là 4 triệu USD/km, dùng trong 50 năm. Còn ở Việt Nam, chi phí xây đường trung bình là hơn 20 triệu USD/km, dùng trong 2 năm, thử hỏi làm sao phát triển được.”
Quy hoạch tệ hại. Tình trạng ùn tắc giao thông thường xuyên xẩy ra ở hai trung tâm đô thị lớn nhất cả nước là Hà Nội và Sài Gòn đủ cho thấy chất lượng của công tác quy hoạch giao thông dưới thời PTT Hoàng Trung Hải.
Đặc biệt, trong khi nhà cầm quyền Bắc Kinh cấm làm đường gần biên giới thì Việt Nam lại mở toang cửa ngõ biên giới với Trung Quốc: các hướng tiến quân chính của Trung Quốc trong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 (Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu) đều đã hoặc sắp có đường cao tốc nối từ biên giới Việt -Trung về Hà Nội. Những năm qua, điều này đã góp phần quan trọng giúp Trung Quốc giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc xâm lăng kinh tế Việt Nam.
Và trong khi hạ tầng giao thông các tỉnh thành từ Hà Nội lên biên giới phía bắc nhận được sự ưu ái đặc biệt, phát triển nhanh chóng thì hạ tầng giao thông các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lại rất tệ hại và chậm phát triển, một nguyên nhân quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, kìm hãm sự phát triển kinh tế của khu vực Tây Nam Bộ.
Chưa hết, trong 9 năm nắm giữ vị trí quan trọng thứ hai trong chính phủ (chỉ sau Thủ tướng), ông Hoàng Trung Hải cũng đã góp phần quyết định vào “thành tích” băm nát quy hoạch Hà Nội, hay “dâng” 90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia cho Trung Quốc, v.v.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Nhờ những “thành tích” nêu trên hay vì lý do gì khác mà ngài cựu Phó Thủ tướng đã đường hoàng bước vào Bộ Chính rồi thống lĩnh bộ máy đảng - chính quyền - quân đội của một Hà Nội “ngàn năm văn hiến” từ Đại hội XII?
Và sau sự kiện “Cai Lậy thất thủ” khiến hàng loạt ung nhọt của ngành giao thông bị phơi bày, liệu ông ta có bị hề hấn gì không hay vẫn tiếp tục “bình chân như vại” như trong vụ đại thảm hoạ môi trường mang tên “Formosa Hà Tĩnh” mà ông ta là chính danh thủ phạm?
Trong bối cảnh TBT Nguyễn Phú Trọng đang hớn hở “nhóm lò” hiện nay, nếu ông ta lại một lần nữa “thoát hiểm” thì có lẽ ai cũng phải thốt lên: “Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!”[i]
____________
Ghi chú:
[i] Vừa rồi đã xuất hiện một số bài báo “chạy tội” cho ngài cựu PTT. Họ cho rằng, lỗi ở đây là do lãnh đạo Bộ GTVT làm sai ý kiến chỉ đạo, bởi trong Công văn số 1908/TTg-KTN ngày 11/11/2013, PTT Hoàng Trung Hải chỉ đồng ý chủ trương xây dựng tuyến tránh quốc lộ 1 đoạn qua thị trấn Cai Lậy, chứ không đề cập đến hợp phần tăng cường mặt đường QL1.
Tuy nhiên trên thực tế, ngày 4/12/2013 Tổng cục Đường bộ đã có tờ trình số 95 về việc trình duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình tuyến tránh QL1 và tăng cường mặt đường trên QL1 đoạn qua thị trấn Cai Lậy theo hình thức BOT (việc bổ sung hợp phần cho dự án dựa trên ý kiến đồng thuận của các cơ quan chức năng tỉnh Tiền Giang ngày 4/11/2013). Trong khi đó, công văn số 97/TTg-KTN (v/v chỉ định nhà thầu thực hiện dự án) lại được PTT Hoàng Trung Hải ký ngày 15/1/2014, trên cơ sở đề nghị của Bộ GTVT tại công văn số 13450/BGTVT-ĐTCT ngày 10/12/2013).
Quan trọng hơn, trong quản lý có một nguyên tắc: “Quản lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý.” Vì thế, nếu cho rằng cấp dưới làm sai chỉ đạo thì hoặc là ông Hoàng Trung Hải đã vô trách nhiệm (ký xong rồi là “sống chết mặc bay”) hoặc ông ta đã đồng loã với họ (biết mà không xử lý).

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một cựu phiên dịch thân cận – Phần II

Lê Anh Hùng | VOA| 16.8.2017 



Đại tá Đoàn Sự. Ảnh Lê Anh Hùng
Ngày 15/8/2017, VOA đã đăng bài “Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một cựu phiên dịch thân cận”, ghi lại cuộc trò chuyện giữa tác giả với Đại tá Đoàn Sự, người từng làm phiên dịch cho ông Hồ Chí Minh. Đây là phần tiếp theo của câu chuyện, đặc biệt là nhằm trả lời câu hỏi mà nhiều người quan tâm: “Hồ Chí Minh có phải là Hồ Tập Chương không?”[i]
“[…] Thứ hai, Cụ sống rất là keo kiệt. Nói thật là thế. Cho nên gần Cụ thì vinh dự nhưng mà sợ lắm. Ăn uống, sinh hoạt rất là khổ. Không có được cái gì tự do cả. Bác bảo, ‘Cái hoàn cảnh tôi ngày xưa… thực ra con quan thật đấy, nhưng mà nghèo lắm, đói lắm… Các chú biết không, Nghệ Tĩnh có câu “dân cá gỗ mà”...”
“Bác hỏi thì mình trao đổi, mình nói nhưng mình không dám nói hết. Thực ra, tôi thấy Bác có mấy chỗ này. Thứ nhất, Bác rất máy móc trong việc thiểu số phục tùng đa số. Cho nên trong Cải cách Ruộng đất, trong Nghị quyết 9, trong tất cả các thứ, Bác không đồng ý, nhưng mà khi mình là thiểu số thì Bác vẫn thuận theo. Nhưng mà sau này thấy sai rồi, đáng lẽ Bác phải can đảm, dùng cái uy lực của mình để chặn cái chuyện đó lại thì lúc ấy Bác lại không làm. Bác coi như một cuộc thí điểm, mà thí điểm tai hại không biết chừng nào. Thứ hai, thực ra mà nói, cả cuộc đời mình, ông cụ đi từ lòng yêu nước thôi, sang đến bên kia Cụ mới giác ngộ giai cấp, Cụ vào Đảng Xã hội, sau đó Cụ mới vào cái đảng của Lenin, trong đó có vấn đề đấu tranh cho thuộc địa mà… Trong vụ khủng bố Bukharin - Zinoviev [tức Vụ án Moskva], Cụ đã thấy rằng ở Nga có vấn đề. Cụ đã có suy nghĩ rồi. Cho nên tư tưởng của Cụ, tuy rằng theo Marx-Lenin nhưng ngả dần về phía Tôn Dật Tiên, về chủ nghĩa tam dân…”
“Vừa rồi tôi sang địa chỉ của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tôi giở những tài liệu giảng dạy ra. Trong đó có 3 người dạy. Người thứ nhất là ông Lưu Thiếu Kỳ, lúc bấy giờ là Chủ tịch Công hội Trung Quốc. Ông đến giảng về phong trào công đoàn. Người thứ hai là ông Bành Bái, lãnh tụ phong trào nông dân. Ông giảng về phong trào nông dân của Trung Quốc. Còn ông cụ, tất cả bài giảng của ông cụ là con đường cách mạng, trong đó phảng phất chủ nghĩa tam dân. Tuy rằng cũng có lồng chủ nghĩa Marx-Lenin đấy, nhưng mà nó có hơi hướng của chủ nghĩa tam dân. Bây giờ còn lại bút tích như thế. Thế cho nên mình mới thấy là ông cụ cũng có cái khác, củng cố nhận thức của tôi, là Cụ theo chủ nghĩa Marx-Lenin, Cụ dùng Marx-Lenin làm phương tiện, nhưng còn mục đích thì Cụ không nói.”
“Cho nên vừa rồi ông Trương Minh Tuấn có viết cái bài về việc Bác Hồ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [bài “Kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo ra phát triển ngoạn mục cho đất nước” của Bộ trưởng TT-TT] thì tôi bảo là không phải đâu. Câu ấy là người ta ghép cho Cụ Hồ thôi, chứ trong Di chúc, Cụ có nói gì về chuyện ấy đâu. Cụ có nói gì đến chuyện xây dựng CNXH đâu. Chính Cụ lại do dự chuyện ấy. Cho nên vừa rồi ông [GS] Chu Hảo và cả ông [GS Nguyễn Khắc] Mai nữa đã nói rằng, đến giai đoạn giải phóng dân tộc là Cụ bắt đầu bế tắc…”
“Có những trường hợp Cụ biết, như vụ Xét lại này này. Cụ biết chứ sao không biết, là vì xử trí ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký của Cụ; xử trí ông Võ Nguyên Giáp là tay chân của Cụ, v.v. Cụ biết cả. Nhưng lúc bấy giờ Cụ bị sức ép. Sức ép thứ nhất là do đã phải dựa vào Trung Quốc, cho nên nó chỉ đạo, nó ép Cụ. Sức ép thứ hai là bộ phận tả khuynh của ta đã tranh thủ điều đó để nắm lấy quyền lực. Cụ thấy như thế cho nên trong những trường hợp đó, với vị trí của Cụ, Cụ cũng gần như là để thí điểm xem nó thế nào. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm cũng thế. Cụ để cho ông Tố Hữu và ông Nguyễn Chí Thanh làm, chứ Cụ có dính gì đâu. Nhưng mà cái dở nhất của Cụ là thế này, sau khi biết làm có kết quả sai rồi thì phải mạnh dạn nhận ra mà trấn chỉnh cái đó lại thì Cụ lại không dám làm. Và Cụ bị ảnh hưởng [bởi] cái đó rất mạnh…”
“Khi ra Nghị quyết 9, chuyển sang đấu tranh vũ trang chính thức ở Miền Nam thì Cụ không tán thành. Và lúc bấy giờ Trung Quốc khuyên thế này: Đánh nhau thì đánh, có lực lượng thì chuẩn bị, cứ dần dần mà làm, nhưng mà không nên làm quy mô lớn. Vì nếu làm quy mô lớn lên thì Mỹ sẽ nhảy vào đấy. Kinh nghiệm Triều Tiên mà. Cho nên Cụ cho rằng vẫn tổ chức đấu tranh ở Miền Nam, vẫn thế này thế khác, nhưng mà gây dựng dần dần về ý thức, như vết dầu loang thôi, chứ chưa phải đánh nhau lớn được. Nhưng mà các cụ nhà ta lại hăng hái quá, cứ kiên quyết phải đánh, rồi thì là lập Đường 559... Cụ không tán thành.”
“Hôm bỏ phiếu Cụ bỏ ra ngoài, không tham gia bỏ phiếu. Ông Võ Nguyên Giáp, Ung Văn Khiêm, v.v. không tán thành, cho nên bị kỷ luật cả nút đấy. Nhưng mà đa số, ông Duẩn, ông Thọ, ông Trường Chinh… thì lại theo quan điểm này rồi. Thế thì khi xẩy ra, Cụ rất đau lòng. Lúc bấy giờ ông [Võ Nguyên] Giáp giao cho ông [Lê Trọng] Nghĩa và ông Đỗ Đức Kiên [Cục trưởng Cục Tác chiến] chuẩn bị một cuộc chiến đấu có quy mô lớn, chứ chưa phải cuộc tổng phản công – một cuộc chiến đấu về vấn đề chiến lược, đánh mạnh để tạo áp lực, chứ chưa phải tổng phản công, vì điều kiện chưa đầy đủ. Thế nhưng các cụ nhà ta lại nghe các báo cáo ở Miền Nam ra – bây giờ khắp nơi tốt lắm rồi, bây giờ nổi lên một cái là nó lật nhào ngay… Nhân thể đó đả luôn ông Giáp, bắt một loạt tay chân của ông Giáp, từ Cục trưởng Tác chiến, Chánh Văn phòng, Cục trưởng Tình báo… kể cả ông Nguyễn Văn Vịnh, Trung tướng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất. Và cô lập Cụ, không cho Cụ tham gia gì cả, cứ lấy lý do là Cụ ốm đau mà, rồi tống Cụ đi.”
“Chính sai lầm đó mà sau này một bà nhà văn Pháp đã viết một cuốn sách mà ta có dịch ra nhưng cắt phần đó đi. Bà nói, chính sai lầm Mậu Thân đã dẫn đến cái chết của ông Hồ Chí Minh. Chứ với điều kiện ấy, ông Hồ Chí Minh [lẽ ra] chưa chết đâu. Nhưng vì ông bị thất bại quá nhiều, trong việc thí điểm, nào là vụ Nhân văn, v.v. rồi dồn đến cái cuối cùng là không thực hiện được ý đồ, mà bị các ông kia lấn át, cho nên ông suy nghĩ, suy sụp và dẫn đến cái chết của ông.”
“Ngay từ hôm chuẩn bị Tết Mậu Thân, ông cụ đi máy bay từ Bắc Kinh về Hà Nội, xuống đến sân bay thì sân bay xẩy ra sự cố [ông Vũ Kỳ từng kể về sự cố bí hiểm có thể dẫn đến tai nạn này – đèn chỉ huy trên sân bay bị chệch 15 độ – trong bài “Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy” trên Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998]. Lúc đó ra đón chỉ có ông Duẩn, ông Đồng, ông Thọ thôi…”
“Đến Tết, theo quyết định của Bộ Chính trị, Cụ lại đi [Trung Quốc] nghỉ. Cụ đi nghỉ mà có mang gì đâu, mỗi một ông Vũ Kỳ thôi. Hệ thống điện đài, hệ thống thông báo cho Cụ đều bị cắt hết. Cho nên Cụ có biết gì đâu. Vì vậy Cụ rất khổ tâm trong chuyện này. Cho nên ở trong Cụ Hồ nếu nhìn cho kỹ thì nó có cái bi kịch, bi kịch cuộc đời, không đơn giản đâu. Nhưng bây giờ tôi rất phản đối có những người với ý đồ xấu [với Cụ], hết chuyện này chuyện nọ…”
“Cậu đã có cuốn ‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’ chưa? Tôi sẽ cho cậu một cuốn… Là vì thế này, khi tôi sang  Quảng Châu [thăm trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội], tôi vào cái buồng mật thì [ở đó] có cả cuốn này. Người ta [những người phụ trách di tích] hỏi tôi, ‘Cụ thấy cuốn này thế nào?’ Tôi hỏi lại, ‘Các vị thấy thế nào?’ Họ bảo, ‘Làm gì có cái chuyện này. Đây là họ phịa ra thôi, nhưng mà chúng tôi lưu lại đây để tham khảo.’”
“Trên gác hai di tích trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội có một buồng rất to, ảnh rất nhiều. Lúc mình đến, đầu tiên họ không cho vào. Mình mới trình bày thì họ hẹn: ‘10h ngày mai mời Cụ đến’. 10h hôm sau mình đi ô tô đến thì mình thấy họ đã sắp xếp lại. Những ảnh nào có những người thân thiết với Cụ Hồ nhà mình thì họ để, nào là Mao, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ… còn những người nào mà mình không khoái (như Đặng Tiểu Bình) thì họ cất đi. Nhưng họ lại để nhiều hình ảnh của ông Hoàng Văn Hoan, khi sang Trung Quốc thế nào. Khi xem thì tôi chỉ xem qua, vì tôi biết rồi. Bà phụ trách (ở đó chỉ 2-3 người thôi) nói: ‘Ở đây còn một buồng mật, chúng tôi chỉ mở cho một số cán bộ nghiên cứu, cần biết thì xem thôi. Ông có muốn xem không?’ ‘Ồ, thế thì hay quá!’ ‘Nhưng chỉ ông xem thôi nhé. Những người đi với ông không vào được đâu nhé.’ Thế là họ mở, buồng nhỏ thôi. Trong đó có cả ‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’, có cả những tài liệu của Hoàng Văn Hoan và những tài liệu khác… Mình xem qua một lượt xong thì họ hỏi mình, mình bảo: ‘Tôi thì tôi nói thật tôi tuy không lâu nhưng cũng đã tiếp xúc với Cụ Hồ. Và ngay từ thời kỳ đó tôi thấy là không thể đóng giả Cụ Hồ được. Đóng giả Cụ Hồ thế nào được. Sau này [gặp] bà Tống Khánh Linh, bà… v.v. rồi về phụ trách lớp học cán bộ cao cấp của ta ở trường đảng thì những Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… đều biết Cụ Hồ chứ sao không biết. Chuyện đó không giả được, mà chỉ là phịa thôi…”
“Hiện nay tôi có 2-3 bản [Hồ Chí Minh sinh bình khảo] gì đấy. Nếu cậu thích thì lấy về tham khảo thôi. Chứ còn tất cả tài liệu đó, nó viết nó phịa lắm, mà nó có những cái vô lý lắm. Vừa rồi ông Hà Tuấn Trung [nguyên Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, TBT Tạp chí Kiểm tra] đã vạch ra cái sai trái của chuyện này rồi. Nhưng ông mới chỉ vạch sơ sơ thôi...”
“Đứng về chữ nghĩa mà nói, Cụ Hồ chỉ có 4 thứ tiếng giỏi thôi… Còn những thứ tiếng khác nói thế thôi chứ không giỏi đâu… Cụ giỏi Tiếng Pháp nhất. Sau rồi đến Tiếng Trung… là vì ở nhà Cụ đã học tam thư ngũ kinh Tiếng Hán rồi. Sau này sang Nga, Cụ lại học ba khoá Tiếng Nga… nên Tiếng Nga của Cụ rất khá… Từ Tiếng Pháp cụ lần ra Tiếng Anh, nhưng Tiếng Anh của Cụ thì vừa phải thôi…”
“Khi nó viết cái cuốn ấy [‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’] là nó có ý đồ xấu rồi. Cho nên nó lợi dụng tất cả các khía cạnh. Ngay trong cuốn ấy cũng có những chi tiết mâu thuẫn nhau cơ mà…”
Tác giả [Lê Anh Hùng] nói với Đại tá Đoàn Sự (về cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo”): “Đây là âm mưu của cả Trung Quốc lẫn ban lãnh đạo Việt Nam. Trung Quốc thì rõ ràng rồi. Lãnh đạo Việt Nam thì muốn trên không gian mạng, công chúng cứ cãi nhau về một chuyện vớ vẩn, vô bổ, một chuyện không có thật, làm mất thời gian và gây chia rẽ. Riêng chuyện này đã gây chia rẽ rồi. Đó là thứ nhất. Thứ hai, họ có ý đồ là muốn dân chúng hiểu rằng ‘Ừ, bây giờ Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc đấy, nhưng chúng tôi đang phải giải quyết hậu quả của cái ông Hồ Tập Chương kia để lại.’ Lý do thứ ba là họ muốn tạo điều kiện, dọn đường về dư luận cho Hoàng Trung Hải lên nữa.”
*Xem toàn bộ cuộc trò chuyện giữa Đại tá Đoàn Sự và nhà báo Lê Anh Hùng trên Youtube tại địa chỉ: https://youtu.be/2B4j2xGoAss.
_____________
Ghi chú:
[i] Lưu ý, đây là góc nhìn của một người từng làm phiên dịch cho Hồ Chí Minh, từng có thời gian sống bên cạnh ông. Về phần mình, tôi đã có hai bài viết về nhân vật này: (i) “Cái giá của tự do là sự cảnh giác thường trực”, và (ii) “Các ông trùm gây tội ác với đồng loại như thế nào?

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA