Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Malaysia, Trung Quốc và Việt Nam chỉ trích lẫn nhau trong khi tìm kiếm máy bay Malaysia mất tích

William Wan | Washington Post | 12.3.2014

Người dịch: Lê Anh Hùng


(BẮC KINH) — Khi nỗi thất vọng dâng cao, những lời chỉ trích nhằm vào nhau đã bắt đầu vang lên trong bối cảnh cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích của hãng hàng không Malaysia Airlines vẫn đang diễn ra. Trung Quốc phê phán cuộc điều tra do Malaysia dẫn dắt là nước này đã không tìm kiếm đủ nhanh chóng và quyết liệt. Malaysia chỉ trích Việt Nam vì đã công bố (quá sớm, Malaysia nhấn mạnh) những bức ảnh có thể là về các mảnh vỡ của chiếc máy bay bị mất tích.
Trong khi đó, một số gia đình của những hành khách trên chiếc máy bay kia lại phê phán cả ba nước về tình trạng thiếu thông tin liên lạc, đồng thời tố cáo họ về sự yếu kém nói chung, cũng như việc họ chủ yếu quan tâm đến hình ảnh của mình thay vì số phận của những người sống sót.
Trung Quốc là quốc gia lớn tiếng nhất trong 10 nước đã gửi tàu thuyền và máy bay đến hỗ trợ cuộc tìm kiếm.
Trong số 239 hành khách trên máy bay thì 154 người là người Trung Quốc hoặc Đài Loan, nhưng chính phủ Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm trước vụ việc bởi dư luận trong nước những năm qua vẫn phê phán họ là đã làm chưa đủ để bảo vệ công dân của mình ở nước ngoài.
Các quan chức Trung Quốc từ Chủ tịch Tập Cận Bình trở xuống liên tiếp đưa ra những tuyên bố nhấn mạnh cả số lượng máy móc thiết bị và nhân lực mà họ đã triển khai, lẫn mức độ chỉ trích mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhằm vào các đối tác Malaysia những ngày qua.
Hôm thứ Hai, phát ngôn viên Tần Cương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hối thúc nhà chức trách Malaysia “tăng cường nỗ lực và đẩy mạnh cuộc điều tra”, đồng thời đảm bảo rằng Trung Quốc và thân nhân của những hành khách người Trung Quốc “biết được sự thật của vụ việc càng sớm càng tốt”.
Truyền thông Trung Quốc, vốn thường bị chính quyền kiểm soát và kiểm duyệt, lên tiếng chỉ trích khá gay gắt.
Cho đến nay, Trung Quốc đã triển khai 9 tàu thuỷ và 4 máy bay trực thăng. Họ cũng đã triển khai 10 vệ tinh, gác những nhiệm vụ thường ngày để hướng vào việc hỗ trợ hoạt động tìm kiếm.

Chính phủ Malaysia loan báo là họ đã mở rộng phạm vi tìm kiếm về phía tây, sang Biển Andaman,cách xa lộ trình theo hướng đông bắc tới Trung Quốc của chiếc máy bay mất tích.
Ngoài ra, Trung Quốc còn gửi một tổ công tác đến Malaysia, bao gồm các quan chức từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và cơ quan hàng không dân dụng.
Malaysia phải hứng chịu phần lớn sự chỉ trích, chủ yếu nhằm vào chiến lược tìm kiếm của họ và thất bại của giới chức sân bay trong việc đối chiếu hộ chiếu của hai hành khách với dữ liệu của Interpol về giấy tờ đi lại bị mất cắp.
Đáp lại, các quan chức Malaysia đã công khai bảo vệ nỗ lực của mình, và đưa ra lời nhận xét tích cực của đại sứ Trung Quốc tại Malaysia về sự điều phối của họ.
Với một số người trên mạng thì không một chính phủ nào của cả ba nước phản ứng đặc biệt thành công.
Một bài đăng phổ biến được chuyển tiếp hàng ngàn lần trên phiên bản Twitter của Trung Quốc đã chế nhạo một số nước vì tìm cách chỉ trích lẫn nhau thay vì tìm kiếm chiếc máy bay: “Việt Nam thì cứ tìm kiếm. Malaysia thì cứ phủ nhận. Trung Quốc thì cứ điều tới hết thứ này đến thứ nọ. Các phóng viên thì cứ ngồi chờ tại khách sạng Lido [nơi thân nhân các  hành khách đang tập trung]… Còn chiếc máy bay mất tích kia thì đang ở đâu?”
Điều trớ trêu trong nỗ lực đa quốc gia này là ở chỗ, một số nước liên quan lại mắc míu vào những tranh chấp lãnh thổ căng thẳng, bao gồm cả Biển Đông, gần với khu vực tìm kiếm về phía đông.
Còn Trung Quốc thì được các nước trong khu vực cảm nhận như một quốc gia gây hấn đặc biệt trắng trợn trong những năm gần đây.
Sự trách cứ lẫn nhau phản ảnh tình trạng thiếu hợp tác bên trong do những căng thẳng khu vực như thế, Zhang Mingliang - chuyên gia về Đông Nam Á thuộc Đại học Tế Nam ở Quảng Châu - nhận xét.
Thay vì chỉ trích lẫn nhau trong cuộc tìm kiếm cứu nạn, “các bên liên quan có thể rút ra bài học từ vụ việc về sự cần thiết của hợp tác. …Điều đó có thể hữu ích cho quan hệ ngoại giao trong tương lai”, ông nói.
Bài viết có sự đóng góp của Gu Jing Lu và Xu Jing.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Con trai bà Bùi Thị Minh Hằng gửi Thư Kêu Cứu lần thứ hai

THƯ KÊU CỨU LẦN II
Kính gửi:
  • Toàn thể cộng đồng người Việt trong nước và quốc tế
  • Những tổ chức nhân quyền Liên Hiệp Quốc và trên thế giới
  • Các tòa lãnh sự quán Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, New Zealand và Liên Minh Châu Âu
  • Các báo, đài phát thanh, đài truyền hình quan tâm đến vấn đề Dân Chủ và Nhân Quyền ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Tôi tên Trần Bùi Trung, sinh năm 1991; địa chỉ: 106 Lê Hồng Phong - Phường 4 - Tp. Vũng Tàu Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tôi là con trai của bà Bùi Thị Minh Hằng, người đã bị công an huyện Lấp Vò - Đồng Tháp bắt một cách bất hợp pháp vào ngày 11 tháng 2, năm 2014. Mẹ tôi và những người bạn của Bà bị công an chặn đánh dã man và giam giữ trái phép cho đến hôm nay. Ngay sau khi bị bắt, Mẹ tôi đã bắt đầu tuyệt thực để phản đối sự bạo tàn và sai trái của công an huyện Lấp Vò. 
Cho đến ngày hôm nay, cuộc tuyệt thực này đã kéo dài 26 ngày. Những thông tin về tình hình sức khỏe của Mẹ tôi đều bị phía cơ quan công an Đồng Tháp chặn đứng và bưng bít. Chúng tôi lo sợ rằng sức khoẻ và tính mạng của Mẹ tôi đang bị đe dọa nghiêm trọng. Từ khi Mẹ tôi bị bắt, gia đình chúng tôi đã nhiều lần xuống tận trại giam yêu cầu được thăm nuôi,nhưng cơ quan công an huyện Lấp Vò - Đồng Tháp liên tục tránh né và từ chối yêu cầu được gặp mặt và thăm nuôi mẹ tôi theo đúng quy định. 
Trong quá trình đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam, Mẹ tôi liên tục bị chính quyền hăm dọa. Vì vậy Mẹ tôi đã chính thức ký hợp đồng với Luật Sư Trần Thu Nam để được bảo vệ pháp lý khi cần. Luật Sư Nam đã gửi đơn yêu cầu được gặp Mẹ tôi, nhưng công An Lấp Vò - Ðồng Tháp đã từ chối. 
Từ những vụ tấn công, giam giữ cũng như từ chối yêu cầu thăm gặp, và nhất là cuộc tuyệt thực của Mẹ đã kéo dài mà không có tin tức gì về sức khoẻ của Mẹ, vì vậy, nếu Mẹ chúng tôi có mệnh hệ gì thì công an Lấp Vò - Ðồng Tháp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an toàn và mạng sống của Mẹ tôi. 
Trong hoàn cảnh cấp bách, gia đình chúng tôi khẩn thiết mong mọi người lên tiếng can thiệp, buộc công an Lấp Vò - Ðồng Tháp phải trả tự do ngay tức khắc cho Mẹ chúng tôi.
Hà Nội, 9 tháng 3, 2014
Kính thư, 

Trần Bùi Trung

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

HIỂM HOẠ TRUNG QUỐC: BÀI HỌC TỪ TIỆP KHẮC VÀ UKCRAINE

Lê Anh Hùng | VOA| 4.3.2014

Bài học còn nguyên tính thời sự từ Tiệp Khắc…
Ngày 11.2 vừa qua, tác giả Trần Trung Đạo đã có một bài viết sâu sắc nhan đề “Hiểm hoạ Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc” được đăng tải trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước. Bài viết khiến dư luận phải giật mình khi nêu lên sự tương đồng giữa số phận Tiệp Khắc những năm 1930 (bên cạnh một Đức Quốc xã đã khởi động guồng máy chiến tranh với dã tâm tiến tới thống trị Châu Âu và thế giới) và Việt Nam hiện nay (sát nách một Trung Quốc với cuồng vọng “bình thiên hạ” không còn thèm che dấu). 
Theo tác giả Trần Trung Đạo, việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan: (1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức, (2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain; và một lý do chủ quan: (3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.
Sau khi phân tích hai lý do khách quan, tác giả nhận định: Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc.”
Ông Trần Trung Đạo cho rằng, nguyên nhân quan trọng nhất trong nhóm nguyên nhân chủ quan là: Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp mà đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.
Tác giả nêu lên sự tương đồng giữa Tiệp Khắc thập niên 1930 với Việt Nam hiện nay:
  1. Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á;
  2. Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ;
  3. Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.
Tuy nhiên ở đây, tác giả lại không nêu lên sự tương đồng giữa Tiệp Khắc trước kia với Việt Nam hiện nay về nguyên nhân quan trọng nhất trong nhóm nguyên nhân chủ quan nêu trên: Konrad Henlein của Tiệp Khắc khi xưa và Hoàng Trung Hải của Việt Nam ngày nay.
Konrad Henlein… hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện... Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị.
Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết.
Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten... Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland.
Tương tự như Konrad Henlein của Tiệp Khắc, bố của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải là một người Trung Quốc, còn mẹ ông ta là người Việt Nam. Tuy nhiên, khác với Konrad Henlein, bố con ông Hoàng Trung Hải lại cố tình khai man lý lịch hòng “chui sâu, leo cao” trong bộ máy lãnh đạo của Việt Nam.
Theo bài “PTT Hoàng Trung Hải và ngành khai khoáng của Việt Nam” đăng trên VOA ngày 2.2.2014 thì:
Ngay từ ngày 7.5.2007, một số cán bộ đảng viên đã và đang công tác tại Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ và một số cơ quan trọng yếu khác của Đảng CSVN, đã gửi bức Tâm Huyết Thư tố cáo lý lịch người Hán của ông Hoàng Trung Hải (bố ông ta tên là Sì Sói, sinh quán tại Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc).

PTT Hoàng Trung Hải và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo
Bất chấp lời cảnh báo đầy tâm huyết của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp lo lắng cho vận mệnh dân tộc trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đặt ông Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khoá mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (từ ngày 2.8.2007).
PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao trực tiếp phụ trách các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông - Vận tải, và Tài nguyên - Môi trường. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu: Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v. Nghĩa là ngài PTT gốc Tàu này gần như nắm trọn toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong tay, dĩ nhiên là cả ngành khai khoáng với hàng loạt mỏ khoáng sản béo bở. Không chỉ “dâng” cả ngành điện lực Việt Nam cho Trung Quốc mà trong nhiều năm qua ngài PTT này còn âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, và dĩ nhiên ngành khai khoáng cũng không thoát khỏi điều đó.
Như vậy, so với Konrad Henlein của Tiệp Khắc khi xưa thì rõ ràng Hoàng Trung Hải của Việt Nam ngày nay còn nguy hiểm gấp bội phần.
…và lời cảnh báo nóng hổi từ Ukcraine
TT Putin nói quyết định đưa quân vào Crimea, Ukraine là để "bảo vệ công dân Nga".
Việc Tổng thống Putin mới đây quyết định đưa quân vào Ukraine để “bảo vệ người dân Nga” khiến nhiều người Việt Nam phải giật mình, bởi Trung Quốc cũng hoàn toàn có thể làm điều tương tự với Việt Nam.
Trên Biển Đông, cửa ngõ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 21, Bắc Kinh vẫn kiên trì với yêu sách chủ quyền chiếm tới 80% diện tích toàn bộ vùng biển. Họ đang âm mưu lấn chiếm các hòn đảo mà Việt Nam nắm giữ ở Trường Sa, và đã nhiều lần đe doạ tấn công quân sự để độc chiếm quần đảo này, từ đó khống chế hoàn toàn Biển Đông.
Trên đất liền, nhờ sự “đạo diễn” của ngài Phó Thủ tướng Tàu Hoàng Trung Hải mà trong những năm qua, thông qua các dự án kinh tế với nhiều hình thức khác nhau, người Trung Quốc đã “lập xóm, lập phố” ở nhiều địa phương trên khắp dải đất hình chữ S này, từ các tỉnh biên giới phía Bắc vào đến Cà Mau, lên tận Tây Nguyên, rải dài các tỉnh duyên hải miền Trung, các tỉnh Đông Nam Bộ. Đặc biệt, nhờ tài “phù phép” của ngài PTT Tàu này mà Trung Quốc hiện đã và đang chiếm lĩnh được những vị trí hiểm yếu về an ninh - quốc phòng ở Việt Nam như các khu rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới phía bắc, khu vực Vũng Áng với cảng nước sâu Sơn Dương ở Kỳ Anh (Hà Tĩnh), khu vực Tây Nguyên thông qua dự án Bauxite Tây Nguyên… chưa kể họ còn đang lăm le lập căn cứ ở khu vực Cửa Việt, một vị trí trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng ở Quảng Trị, thông qua một dự án của Công ty C.P. Việt Nam (trước đây thuộc tập đoàn C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm kể từ năm 2011).
Những đội quân trá hình kể trên, cùng các cơ sở “kinh tế” của họ, sẽ là “lý do chính đáng” để Trung Quốc đưa quân vào Việt Nam nhằm “bảo vệ người Hoa và các cơ sở kinh tế của Trung Quốc”, một khi chiến sự nổ ra trên Biển Đông chẳng hạn.
Vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay
Cách đây 200 năm, Napoleon đã từng cảnh báo nhân loại: “Hãy để cho con rồng Trung Quốc ngủ yên, bởi khi thức giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Giờ đây, khi tiềm lực kinh tế và quân sự của họ đã hùng mạnh và nước này không còn che dấu cuồng vọng bá quyền nữa, Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới, chứ không riêng gì Việt Nam. Tuy nhiên, hơn bất cứ quốc gia nào khác, với vị trí sát nách người láng giềng khổng lồ, và lại án ngữ ngay cửa ngõ phía Nam, hướng bành trướng khả dĩ nhất của họ (khi mà cả ba hướng Tây – Bắc – Đông họ đều gặp phải những bức tường thành hết sức vững chãi là Ấn Độ, Nga, và Nhật Bản - Đài Loan), Việt Nam ở vào vị thế vô cùng chông chênh và hiểm hoạ bị thôn tính lại lơ lửng trên đầu kể từ khi con rồng này bắt đầu thức giấc – tình cảnh mà tổ tiên chúng ta từng nếm trải từ hàng ngàn năm trước.
Để có thể tồn tại và phát triển ngay bên cạnh người láng giềng “to xác và xấu bụng” này, Việt Nam cần cả nội lực lẫn ngoại lực, trong đó nội lực là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết. Trớ trêu thay, nền kinh tế Việt Nam, nội lực tiên quyết và quan trọng nhất của chúng ta, lại nằm trong tay một người Hán từ nhiều năm nay.
Trung Quốc là hiểm hoạ lớn nhất, đe doạ sự tồn vong của dân tộc Việt Nam. Và, tương tự như Konrad Henlein từng là nguyên nhân quan trọng nhất trong nhóm nguyên nhân chủ quan khiến Tiệp Khắc bị Hitler thôn tính năm 1938, Phó Thủ tướng Tàu Hoàng Trung Hải (người suốt 6 năm qua bị tố cáo những tội ác khủng khiếp như gián điệp, buôn bán ma tuý, giết người và trùm băng đảng) chính là vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Ông ta không chỉ là tử huyệt của chế độ hiện hành, mà còn là tử huyệt của cả dân tộc Việt Nam, khi không chỉ ngày đêm tàn phá nền kinh tế Việt Nam, mà còn hàng ngày hàng giờ âm mưu biến Việt Nam trở thành quận huyện của Trung Quốc, quê hương của ông ta./.
Bài liên quan:
  1. Tâm Huyết Thư của các cán bộ đảng viên tố cáo lý lịch người Hán của PTT Hoàng Trung Hải; nếu link kia không đọc được, quý vị có thể đọc ở đây, đọc bản đánh máy lại ở đây, đọc trên Facebook ở đây
  2. Thư Tố Cáo lần thứ 73 và lời kêu cứu
  3. Điều gì đang xẩy ra với ngành điện lực của Việt Nam? (blog Lê Anh Hùng)
  4. Một nền kinh tế đang trên đà ‘Hán hoá’? (Dân Làm Báo)
  5. Phạm Hiện: Một phó thủ tướng gốc Hoa khai man lý lịch, buôn bán ma tuý (Dân Làm Báo)
  6. Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải mở đường cho giặc tràn vào Việt Nam (Dân Làm Báo)
  7. Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng (RFA)
  8. Công nhân Bình Dương ngộp thở vì ông chủ Trung Quốc (RFA)
  9. Người Trung Quốc đã lập xóm, lập phố và sẽ lập gì nữa? (Dân Trí)
  10. Nhập siêu từ Trung Quốc: Cấp độ báo động ngày càng lớn và những cái tai ngày càng điếc (VOA)
  11. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và ngành khai khoáng của Việt Nam (VOA)
  12. Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị (VOA)

Nguồn: VOA

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

BBC Tiếng Việt có “non nớt” hay không?

Lê Anh Hùng | 4.3.2014


Gần đây, trang Chép Sử Việt có đăng một bài viết khá gây xôn xao dư luận, với nhan đề: “Một bài viết ngu xuẩn, một cách làm báo non nớt của BBC”.
Bài của trang “Chép Sử Việt” nhằm phản ứng lại bài “Nhân quyền Việt Nam: thắng thua thua thắng” của ông Trần Nhật Phong, đăng trên trang BBC Tiếng Việt, bình luận về cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về nhân quyền Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Sau khi phân tích sự xuyên tạc, với ý đồ định hướng dư luận một cách sai lệch của ông Trần Nhật Phong, Chép Sử Việt viết: “Và đương nhiên, một khi cho đăng tải một bài viết ngu xuẩn như vậy, không thể không nhận xét cách làm báo của BBC là quá non nớt, nếu như không muốn đặt dấu hỏi nghiêm trọng hơn, rằng cái gì đang được che đậy đằng sau bài báo và việc cho đăng tải nó.

Việc Chép Sử Việt nhận định bài viết trên là “ngu xuẩn” và BBC Tiếng Việt “non nớt” khiến độc giả bình luận khá nhiều. Với tôi, qua kinh nghiệm của chính bản thân mình, BBC Tiếng Việt không những không “non nớt”, mà ngược lại, còn rất “cáo” là đằng khác. Họ không những không đăng bài một cách “vu vơ”, mà ngược lại, rất có “định hướng” nữa kia, y như cái “định hướng XHCN” ở cái xứ sở “dân chủ gấp triệu lần tư bản” này vậy.
Năm 2013, tôi từng 2 lần viết bài chung với một trí thức tên tuổi ở hải ngoại (luật sư V, một cộng tác viên lâu năm của BBC) và gửi cho BBC Tiếng Việt đăng (tháng 7 & 8.2013). Họ đăng hai bài đó nhưng lại ngang nhiên tước bỏ tư cách đồng tác giả của tôi, mà chỉ ghi ở cuối bài viết là “Bài viết có sự đóng góp của blogger Lê Anh Hùng từ Hà Nội”, trước sự “rất ngạc nhiên” của tác giả còn lại. (Tôi không tiện nêu tên ông, vì không muốn ảnh hưởng đến mối quan hệ của ông với BBC Tiếng Việt.) 
Tháng 7.2013, theo gợi ý của luật sư V, tôi gửi một bài viết riêng của mình cho họ, nhưng họ cũng không đăng (điều khiến luật sư V “rất ngạc nhiên”), nhưng khi tôi chuyển bài sang cho VOA Tiếng Việt thì trang mạng này lại đăng ngay. Thực ra, trước khi cộng tác với luật sư V để viết bài gửi cho BBC Tiếng Việt, tôi cũng đã nói trước với ông là “BBC cố ý ‘né’ tôi” rồi, và dĩ nhiên, tôi chẳng hề tỏ chút “ngạc nhiên” nào cả.



Trước đấy, trong hai năm 2011-2012, tôi từng một số lần gửi bài cho họ nữa nhưng họ không những không đăng mà thậm chí còn chẳng thèm hồi âm lấy một câu. Thậm chí có lần tôi còn gửi cho họ cả mấy đoạn ghi âm các cuộc trao đổi giữa tôi với ĐBQH Dương Trung Quốc về vụ tố cáo lẫn văn bản của ĐBQH Dương Trung Quốc xác nhận việc tiếp nhận đơn thư tố cáo của tôi và chuyển cho Chủ tịch Quốc hội (thời điểm tôi chưa công bố các tài liệu này), và tha thiết mong họ đăng bài của mình để thu hút sự chú ý của dư luận đến vụ tố cáo các ông Hoàng Trung Hải, Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh, nhưng kết quả cũng chỉ là con số không tròn trĩnh.
Khi tôi bị nhà chức trách bắt cóc trái pháp luật và đưa vào trại tâm thần trá hình mang tên Trung tâm Bảo trợ Xã hội II Hà Nội từ 24.1 - 5.2.2013, mặc dù các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như VOA, RFA và RFI đều nhiều lần đưa tin, nhưng riêng BBC Vietnamese thì im bặt. Chỉ đến khi tôi được trả tự do ngày 5.2.2013 thì họ mới phỏng vấn tôi một lần duy nhất vào đúng hôm đó (chắc là vì ở vào cái thế “cực chẳng đã”, không thể không đưa một tin nào về vụ việc đang gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước đó). Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ đăng bức ảnh của tôi khi tôi gần như đang nhắm cả 2 mắt. 
Thỉnh thoảng có những bài mà BBC Tiếng Việt đã đăng từ đời tám hoánh nào rồi nhưng bỗng nhiên lại nổi lên trong mục “Bài được xem nhiều nhất” của họ. Chừng đó đủ biết là họ ý thức việc “định hướng” thông tin đến thế nào.
Mới đây, dư luận trong và ngoài nước lại nóng lên về vụ bà Bùi Thị Minh Hằng cùng hai người bạn bị công an H. Lấp Vò bắt giữ trái phép từ ngày 11.2. Trong khi các cơ quan truyền thông quốc tế quan trọng như VOA, RFI, RFA đã sớm đưa tin về vụ việc, nhưng riêng BBC Tiếng Việt thì mãi đến ngày 20.2 mới đưa tin, với một cái tít mà có lẽ đến cả báo “lề đảng” cũng chẳng thể “nhỏ nhẹ” hơn: “‘Biểu tình viên’ Bùi Hằng bị công an giữ” (các cơ quan truyền thông khác đều gọi bà là “nhà hoạt động Bùi Hằng” và dĩ nhiên không chỉ đơn giản là bị “giữ”).
Và chỉ mới hôm qua, ngay giữa lúc dư luận đang sôi sục trước hình ảnh về khối tài sản khổng lồ cùng những tai tiếng trong thời gian đương chức của ông cựu Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền thì BBC Tiếng Việt lại tung ngay một bài hòng “uốn nắn dư luận”: “Sao quan chức không được ở nhà to?” với những "lập luận" mà hẳn quan chức nào ở Việt Nam cũng cảm thấy "hả hê", “mát lòng mát dạ” và chỉ khao khát được làm “đầy tớ” của nhân dân cho đến “hơi thở cuối cùng”:
Tôi cũng nhớ một án tử hình cho anh cục trưởng cục quân nhu thời ông Hồ mới nắm quyền, anh bị tử hình, vụ việc khởi động là do anh tổ chức một đám cưới quá xa hoa được tả lại như sau:
“Trên những dãy bàn dài tít tắp (bày tiệc cưới) xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, giò chả, nấm hương, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng, hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên, ban nhạc “Cảnh Thân” được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt.”
Anh bị tử hình, chết có lẽ không nhắm được mắt, vì một đám cưới kiểu đó thì ở thời điểm hiện tại, đâu cũng có. Và anh chết, do dám ăn tiêu “xa hoa” khi dân còn nghèo. Tất nhiên, anh bị khép tội tham nhũng sau đó với một phiên tòa đầy cảm tính.
…Nhưng thực sự, nhà của ông Truyền to nhưng chưa chắc đã có giá, nếu bán cả nhà cả đất, ông chỉ mua được cái giường hoàng gia của đại gia Lê Ân hay không đến một zerô mét vuông đất phố cổ Hà Nội hoặc quận nhất Sài Gòn.
Nếu công kích các quan chức giàu, thì đó là một sự lãng phí, đồng tiền, dù tham ô mà có, nếu vẫn ở Việt Nam và sinh lời, tạo thêm công ăn việc làm, kích cầu cho xã hội thì cần được cổ vũ, hơn là chỉ trích để tạo tiền lệ xấu để các quan chức mua vàng hay đổi đô gửi ngân hàng nước ngoài, chứ không dám đầu tư hay ăn tiêu trong nước.
…Làm quan to, chỉ cần một thông tin sớm về cổ phiếu, hay một dự án về con đường mới mở v.v…, thì quan chức có thể bổ sung thêm vài hàng số không vào tài khoản mà không cần đến lương hay nhận hối lộ.
Tôi tin rằng, ở một chức vị cao, chỉ cần nhìn món đồ nào đó hơi lâu, thì khi về nhà, món đồ đó đã ở nhà rồi, do các đàn em cung tiến.

Theo BBC Tiếng Việt, nếu bán cả cơ ngơi trên diện tích gần 2ha này, ông Truyền chỉ mua được cái giường hoàng gia của đại gia Lê Ân hay không đến một mét vuông đất phố cổ Hà Nội hoặc quận nhất Sài Gòn?! Và dù cái cơ ngơi kia đồ sộ thế chứ có khủng hơn mấy đi nữa thì cái ông “nhân dân” đang gò lưng đạp xe kia cũng đừng có tỏ ra rảnh quá mà “ý kiến ý cò” gì, vì vì điều đó sẽ chỉ khiến cho khối tài sản khổng lồ của hàng trăm ngàn quan chức khác bị “lãng phí”!?

Không phải vô cớ mà dư luận lâu nay vẫn bàn tán về những gián điệp mà chính quyền cộng sản Việt Nam cài cắm vào BBC, dù dĩ nhiên là người ta chẳng thể đưa ra được bằng chứng xác thực theo kiểu “bắt tận tay, day tận trán” nào (tương tự như chuyện tham nhũng hay “chạy chức, chạy quyền” ở Việt Nam vậy).
Trang VietInfo từng đăng bài “Có hay không gián điệp của Việt Nam nằm trong BBC?”, trong đó có đoạn:
…“Riêng BBC, không những có gián điệp của Bộ Công An Việt Nam mà còn không ít phóng viên của BBC đã bị an ninh của Nguyễn Văn Hưởng 'xoa đầu'! Đặc biệt trong thời gian gần đây, phóng viên BBC thường trú tại Việt Nam và ngay cả một lãnh đạo làm việc cho BBC, người Việt Nam cũng đã nhận được lệnh của an ninh Bộ Công An cấm không được đăng bài liên quan đến một số nhân vật mà Đảng X và đồng chí X bị 'dị ứng'!”
…“Một điểm khác của những gián điệp mạng được an ninh Việt Nam điều khiển là chúng không phải đơn thuần phục vụ bảo vệ chế độ công sản vô hình, mà chúng được đào tạo với những mệnh lệnh phục vụ cho chính những cá nhân đang nắm các thế lực an ninh. Chính vì vậy, hơn hai năm qua, đội ngũ gián điệp mạng của an ninh Việt Nam xem ra chủ yếu phục vụ Đảng X.” 
Việc cơ quan an ninh Việt Nam cài người vào các cơ quan truyền thông quốc tế lớn chẳng phải là điều gì quá ghê gớm hay đáng ngạc nhiên. Điều đáng ngạc nhiên ở đây chính là mức độ lũng đoạn của an ninh cộng sản ở một cơ quan truyền thông quốc tế lớn bậc nhất thế giới như BBC, hay sự tiếp tay vô cùng hiệu quả mà BBC Tiếng Việt, một cơ quan truyền thông tên tuổi của cái mà người ta vẫn gọi là “thế giới tự do”, dành cho một chế độ cộng sản độc tài, tàn ác và nhơ nhớp như ở Việt Nam./.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Thứ nhân quyền mà giới độc tài yêu thích

Liệu khái niệm “nhân quyền” còn có ý nghĩa trong một thế giới mà ở đó mọi thứ đều phù hợp với khái niệm này hay không?

Người dịch: Lê Anh Hùng




Farida Shaheed, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về quyền văn hoá, mới thông báo là cô đang khởi xướng một nghiên cứu mới nhằm giải đáp vấn đề: Liệu các thói quen quảng cáo và tiếp thị có ảnh hưởng đến sự đa dạng văn hoá và quyền của người dân trong việc lựa chọn lối sống hay không? Bài bố cáo đăng một tấm ảnh chụp bức quảng cáo khổng lồ về bóng rổ Mỹ (với hình ảnh cầu thủ ngôi sao Kobe Bryant), bức quảng cáo choán hẳn một góc của một sân bóng rổ ở Trung Quốc.
Đây là hoạt động bình thường của văn phòng LHQ về quyền văn hoá. Khi Shaheed thăm Việt Nam tháng trước, trong cuộc thảo luận về những lo ngại liên quan đến quyền tự do ngôn luận, cô đã tranh thủ nêu bật một cuộc khủng hoảng khẩn cấp khác: đó là cồng chiêng, một chủ đề nhạy cảm. Để độc giả nào chưa nghe nói tới dễ hình dung, cồng chiêng là loại dụng cụ văn hoá độc đáo mà một số bộ tộc bản địa ở các cao nguyên xa xôi ở Việt Nam vẫn sử dụng. Giờ đây, Shaheed lưu ý, cồng chiêng đang phải đối mặt với một mối đe doạ mới: người ta “biểu diễn cồng chiêng để đáp ứng nhu cầu của du khách ở một số nơi, từ đó làm mất đi ý nghĩa văn hoá độc đáo của loại nhạc cụ này”. Cô hối thúc chính phủ bảo vệ hoạt động biểu diễn cồng chiêng trước hiện tượng “dân gian hoá” (folklorization) – mà rõ ràng là một sự vi phạm nghiêm trọng về “quyền văn hoá” của các sắc tộc bản địa.

Trông kìa! Kobe Bryant có thể đang vi phạm quyền con người của bạn đấy!
Cần lưu ý rằng Việt Nam là một quốc gia cộng sản độc tài, hoàn toàn phớt lờ quyền tự do tôn giáo, thường xuyên tống giam các thầy tu và nghệ sỹ chỉ vì họ bày tỏ quan điểm của mình, và đã bị vô số tổ chức nhân quyền chỉ trích về tình trạng tra tấn và lạm dụng quyền lực đối với những người bị giam giữ. (Trong bức ảnh trên, cảnh sát đang ngăn cản một phóng viên ảnh chụp hình bên ngoài một phiên toà ở Tp Hồ Chí Minh.)
“Việt Nam đang nhanh chóng trở thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Nam Á dành cho những người bảo vệ nhân quyền và các nhà hoạt động khác”, Robert Abbott, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam thuộc Tổ chức Ân xá Quốc tế (IA), nhận xét. Vậy nhưng, dưới nhãn quan của Shaheed, những vụ vi phạm như thế lại ngang bằng với tình trạng các phẩm vật văn hoá bị sử dụng một cách tệ hại trong ngành du lịch. Những vi phạm khác, nghiêm trọng hơn lại chỉ được dành cho một đoạn chỉ trích trong bản báo cáo của cô; rõ ràng là chúng không nằm trong phạm trù với định nghĩa mơ hồ: “quyền văn hoá”. Giờ đây, chính phủ Việt Nam có thể phớt lờ phần lớn những gì mà Shaheed đã phải lên tiếng; và gạt phăng những chỉ trích của cô, coi đó là hiệu ứng phụ của hoạt động du lịch.
Trong những năm qua, giới chỉ trích đã chế nhạo thái độ của Hội đồng Nhân quyền LHQ khi họ sẵn sàng lắng nghe những ý kiến ngược đời của các nhà độc tài tồi tệ nhất thế giới, những kẻ vẫn xuất hiện nổi bật giữa các thành viên khác của Hội đồng. (Số thành viên này thậm chí còn tìm cách cấm từ “độc tài” xuất hiện trong các văn bản hội họp của Hội đồng Nhân quyền.) Tuy nhiên, tấn hài kịch mang tên “quyền văn hoá” lại chỉ là một triệu chứng của một vấn đề trầm trọng hơn nhiều mà một số người gọi là “hiện tượng lạm phát quyền văn hoá” (human rights inflation). Các tổ chức càng ngày càng nêu tên nhiều thứ mà họ cảm thấy mình đáng được hưởng – từ phòng ngủ dự phòng cho đến viện trợ nước ngoài – là một “quyền”. Một nhóm lợi ích đặc biệt thậm chí còn đang lớn tiếng đòi trao vị thế “quyền” chính thức cho “cơ hội truy cập Internet”, như thể quyền tự do ngôn luận vẫn còn chưa đủ. Trong khi đó, nhiều đảng phái khác nhau lại khẳng định “quyền” của mình đối với dịch vụ tư vấn việc làm, nghỉ phép hưởng lương, giáo dục miễn phí đến bậc đại học, và một loại thuế tài chính toàn cầu để chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế.
Ngày nay, chúng ta đã được chứng kiến hiện tượng lạm phát quyền con người – và tất cả chúng đều được khẳng định là quan trọng như nhau và không thể chia tách. Các quyền con người không biến đi đâu. Chúng đã đánh mất giá trị của mình.
Khi Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) được ký kết vào năm 1948, nó giới hạn thế giới nhân quyền trong 30 điều khoản mà thôi. Các nhà soạn thảo cảm thấy bị thúc bách phải giữ danh mục nhân quyền sao cho ngắn gọn và mạnh mẽ. Trong số đó, 18 điều khoản được coi là quyền, những điều khoản áp đặt nghĩa vụ trực tiếp lên nhà nước ở bình diện cá nhân; 12 điều khoản về kinh tế, văn hoá và xã hội được coi là khát vọng. Loại điều khoản thứ hai này gây tranh cãi ngay từ đầu và đó là một trong những lý do giải thích tại sao UDHR không mang tính ràng buộc và không kèm theo cơ chế thực thi nào. Năm 1976, để giải quyết những vấn đề này, các quyền được chia tách một cách đúng đắn thành những hiệp định riêng rẽ mang tính ràng buộc và áp đặt lên nhà nước thông qua các cơ quan giám sát: Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá (ICESCR).
Đây là thoả hiệp chính trị ra đời từ cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Hoa Kỳ và Liên bang Soviet toàn trị, quốc gia ủng hộ các quyền xã hội, kinh tế và văn hoá với cái giá của các quyền dân sự và chính trị. Đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn ICESCR.
Hậu quả từ cuộc thoả hiệp yểu mệnh đó đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Trước năm 2014 đã có 676 điều khoản, từ quyền cá nhân cho đến quyền tập thể và thậm chí là cả quyền về môi trường. Một số quyền thậm chí còn không áp đặt nghĩa vụ trực tiếp lên nhà nước – thay vì thế, chúng được thiết lập thông qua “quá trình hiện thực hoá từng bước”, theo đó nhà nước, với nguồn lực và khả năng hữu hạn của mình, hứa hẹn là sẽ hoàn thành chúng vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Hiện tượng sinh sôi nảy nở lạ lùng này bắt nguồn từ thực tế nhân quyền là một công cụ hữu ích trong tay bất kỳ nhóm áp lực[i] nào ở vào vị thế được hưởng lợi từ sự mở rộng quyền con người – và điều đó còn bao gồm cả các nước phi tự do.
Quyền tiếp cận lương thực, chẳng hạn, đã trở thành một quyền khả dĩ phán xử trên bình diện quốc tế kể từ năm ngoái với việc thông qua nghị định thư không bắt buộc cho ICESCR. Động thái này nhận được sự ủng hộ nhiệt thành từ nhiều nước, trong đó có Iran, quốc gia đã lặp đi lặp lại trong nhóm công tác rằng “nghị định thư này đã đem lại cơ hội để tái khẳng định vị thế bình đẳng của tất cả các quyền con người”. Trong khi đó, tiếng nói tỉnh táo và mang âm hưởng tự do chủ nghĩa của Vương quốc Anh lại gần như bị phớt lờ: “Vương quốc Anh vẫn hoài nghi về lợi ích thiết thực của nghị định thư, với cân nhắc rằng các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá không phù hợp với sự phân xử theo cùng cái cách mà người ta vẫn phân xử các quyền dân sự và chính trị.”
Một số người có thể cho rằng, nhìn chung, nhà nước không muốn sinh ra nhiều quyền bởi lẽ điều đó sẽ áp đặt thêm nhiều nghĩa vụ. Tuy nhiên, chính xác là bởi tình trạng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở này mà nhiều nước lại có thể lựa chọn những quyền mà họ có thể hứa hẹn hoàn thành nghĩa vụ vào một thời điểm nào đó trong tương lai – và qua đó phô bày một hồ sơ nhân quyền “tốt đẹp”, ngay cả khi họ không bảo vệ được những quyền dân sự và chính trị cơ bản nhất. Những kết quả đáng mong muốn như nhà ở hay chăm sóc sức khoẻ – cần được hiểu là những mục tiêu chính trị – được ẩn giấu trong thứ ngôn ngữ nhân quyền hòng khiến chúng trở nên chính đáng hơn. Quyền tiếp cận một phòng ngủ dự phòng chỉ còn cách đó một bước chân nữa mà thôi.
Các tổ chức nhân quyền nghiêm túc đã mở rộng pháp luật về nhân quyền để bao hàm quyền của phụ nữ và quyền của dân tộc thiểu số cho các dân tộc bản địa, các cá nhân LGBT (đồng tính luyến ái nữ, đồng tính luyến ái nam, lưỡng tính và chuyển giới), người già và người tàn tật. Các nhóm phụ nữ và tổ chức nhân quyền ở Saudi Arabia, chẳng hạn, đã huy động lực lượng để ủng hộ “quyền lái xe”. Tất nhiên, các nhóm này cần được tôn trọng và nỗ lực của họ cần được ca ngợi – nhưng không cần phải soạn thảo những hiệp định mới hay tạo ra các quyền mới. Chỉ cần các công cụ nhân quyền truyền thống là đủ. UDHR quy định rõ ràng rằng không ai cần phải chịu đựng sự phân biệt đối xử vì “chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, xuất thân, hay địa vị khác” của họ. Bạn không có những quyền đặc biệt bởi vì bạn là một người đồng tính luyến ái nữ, một người già, một phụ nữ sống ở Saudi Arabia; bạn có quyền bởi vì bạn là con người.
Mặt trái của hiện tượng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở là ở chỗ, nó cho phép các nhà độc tài san bằng sân chơi. Hội đồng Nhân quyền LHQ bị tai tiếng là chạy theo mong muốn của các chế độ độc tài vốn háo hức với việc che đậy tai tiếng của mình. Năm 2007, sau khi từng từ chối các chuyến thăm của các đại diện đặc biệt LHQ trong hơn 18 năm, Cuba đã chào đón Jean Ziegler, báo cáo viên đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền LHQ về quyền tiếp cận lương thực. Ziegler đã ca ngợi chính phủ Cuba vì đã bảo vệ quyền tiếp cận lương thực như một “quyền con người cơ bản”, rồi đi đến đổ lỗi cho lệnh cấm vận của Hoa Kỳ trước bất kỳ sự thiếu hụt lương thực nào. Các chính sách của chế độ độc tài cộng sản 55 tuổi này – vốn không cho phép tư hữu, tư doanh, tự do đi lại và tự do ngôn luận – dường như không liên quan gì đến vấn đề lương thực. Ziegler đã xem xét quyền tiếp cận lương thực một cách biệt lập, bỏ qua cả những vụ vi phạm nhân quyền phi lương thực liên quan, và cuối cùng là giúp nhà cầm quyền Cuba thoát tội. Cuba có thể ca ngợi thành công của họ trong việc bảo vệ một quyền con người trong khi lại khéo léo phớt lờ toàn bộ nhiều thất bại khác. Những chế độ chuyên vi phạm nhân quyền quan tâm đến việc làm cho các quyền con người trở nên mờ nhạt tới mức độ mà ở đó toàn bộ khái niệm nhân quyền mất đi ý nghĩa của nó.
Jacob Mchangama, đồng sáng lập viên kiêm giám đốc điều hành của Freedom Rights Project, một tổ chức tìm cách đưa tự do trở lại với nhân quyền, nhận xét: “Thật đáng buồn, chuyện này hiện đã trở thành chuyện thường ngày mất rồi.” Gần đây, tổ chức của ông đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Quốc hội Đan Mạch về chủ đề: Chuyện gì đã xẩy ra với nhân quyền quốc tế và cách thức giải quyết.
Một trong những chủ đề trọng tâm của cuộc hội thảo là xu hướng đáng lo ngại của hiện tượng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở. Các diễn giả đã thách thức sự đồng thuận giáo điều về tính bất khả chia tách (indivisibility) của nhân quyền và học thuyết về tính cân xứng (proportionality). Emilie Hafner-Burton trình bày một nghiên cứu cho thấy là có ít ví dụ về việc một nhà nước phi tự do cải thiện nhân quyền kể cả sau khi các nhà lãnh đạo của nó ký kết một hiệp ước về nhân quyền. Tại phần lớn các nước độc tài, việc ký kết Công ước Chống Tra Tấn ít tác động đến số vụ tra tấn, và cho phép các chế độ đó tồn tại lâu hơn.
“Khi mọi thứ đều có thể được định nghĩa là quyền con người thì cái giá để vi phạm những quyền như thế lại rẻ”, Mchangama nhận xét với tôi ở Copenhagen. “Bằng cách cho thấy mình là kẻ cổ suý nhiệt thành cho những quyền con người thuộc thế hệ thứ ba này, các nước phi tự do đang tìm cách để vừa tước bỏ vị thế đạo đức cao quý của các quyền dân sự và chính trị, vừa đạt được tính chính danh chính trị. Hiện tượng các quyền con người cứ sinh sôi nẩy nở đang được các chính thể độc tài lạm dụng để ca tụng lẫn nhau, và làm mất đi sự rõ ràng về đạo đức mà các quyền con người trước kia từng có.”
Có thể chúng ta đang được chứng kiến hiện tượng bong bóng nhân quyền dần dần bị vỡ. Nếu tôi đầu tư vào giá trị của nhân quyền như một khái niệm vào năm 1996 (khi ICCPR được thông qua) thì giá trị cổ phần của tôi sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 1993. Đây là năm mà Tuyên ngôn và Cương lĩnh Hành động Vienna 1993 (Vienna Declaration and Program of Action of 1993) tuyên bố rằng tất cả các quyền con người đều khả dĩ phân xử và bất khả chia tách như nhau, một tuyên bố khiến cho sự khác biệt giữa các quyền dân sự và chính trị với các “quyền” kinh tế, xã hội và hoá trở nên vô nghĩa.
Ít nhất thì tôi cũng có thể luôn tìm thấy sự thoải mái khi chơi món cồng chiêng của mình – tức là, chừng nào không có du khách nào lấp ló gần đấy cả. Có phải vậy không, cô Shaheed?
IAN TIMBERLAKE/AFP/Getty Images





[i]Pressure group: Một nhóm lợi ích nỗ lực gây ảnh hưởng lên chính sách công nhằm đạt được những quan tâm và ưu tiên của mình. (ND)