Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Trái khoáy chuyện trồng lúa ở Việt Nam

Người nông dân Việt Nam đang canh tác thứ cây trồng không còn mang lại lợi nhuận

Hanoi & Chau Doc | The Economist | 18.1.2014Người dịch: Lê Anh Hùng


Tiềm năng của núi Sam (một ngọn núi ở đồng bằng sông Cửu Long) quả là vô hạn định. Những cánh đồng lúa xanh rờn. Những con kênh tưới tiêu lấp loáng ánh mặt trời. Cứ mỗi năm ba lần, những người nông dân ở các thị tứ xung quanh lại mang ủng cao su cấy lúa trên những thửa ruộng thấp trũng. Vài tháng sau, họ lại bán các bao tải lúa cho tư thương, những người sẽ mang đến các nhà máy ven sông để xay xát. Về cơ bản, hoạt động này cũng diễn ra vô hạn định.
Trồng lúa là hoạt động đã ăn sâu vào trong tâm thức của người Việt. Tháng 9.1945, chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập với người Pháp, Hồ Chí Minh đã phát biểu với nội các của mình rằng ứng phó với vụ mất mùa trên diện rộng là nhiệm vụ ưu tiên của chính phủ. Sau đấy, ông tiến hành tập thể hoá các cánh đồng lúa. Trong thập niên 1980, những người kế tục ông đã thúc đẩy các giống lúa lai và hệ thống tưới tiêu hiện đại. Ngày nay, 4 tỷ USD gạo xuất khẩu (xem đồ thị) của Việt Nam chiếm hơn 20% lượng gạo xuất khẩu toàn cầu.
Các quan chức lãnh đạo đảng vẫn đắc ý với chính sách nông nghiệp dành ưu tiên cho lúa gạo của mình. Tuy nhiên, nông dân thì ngày càng bị tụt hậu. Một phần của vấn đề nằm ở chỗ các giống lúa của Việt Nam thường có chất lượng trung bình hoặc thấp – tương phản với một loạt giống lúa thượng hạng được gieo trồng ở Thái Lan. Chi phí nhiên liệu, phân bón và thuốc trừ sâu đang tăng lên. Trong khi đó lĩnh vực xuất khẩu gạo của Việt Nam lại chịu sự chi phối của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cùng các quan chức tham nhũng. Một số nông dân, đặc biệt là ở miền Bắc, nhận thấy là ruộng đất để hoang hoá còn có lợi hơn.
Ở An Giang, một tỉnh nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, một gia đình bình quân kiếm được 100USD mỗi tháng từ trồng lúa, tức khoảng 1/5 thu nhập của người trồng cà phê ở Tây Nguyên – Oxfam (một tổ chức cứu trợ) cho biết. Trần Văn Nghĩa, một người trồng lúa gần núi Sam, nói rằng những người trẻ ở quanh khu vực của ông kiếm thêm thu nhập ngoài đồng ruộng bằng cách khuân vác ở khách sạn hay làm công nhân xây dựng ở Tp Hồ Chí Minh và các trung tâm đô thị khác.
Những khó khăn của ngành lúa gạo Việt Nam rất có thể sẽ còn tồi tệ thêm. Myanmar, vốn là vựa lúa gạo của Đông Nam Á trước kia, lại đang nổi lên như một đối thủ cạnh tranh về xuất khẩu. Phần lớn lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam được bán trực tiếp cho chính phủ các nước, nhưng một số những khách hàng lớn nhất của họ, kể cả Indonesia và Philippines, lại đang thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước. Arup Gupta, một thương nhân ở Tp Hồ Chí Minh, bổ sung thêm rằng, như một hệ quả của chính sách trợ cấp cho nông dân trồng lúa (một chính sách ngược đời và đắt đỏ) ở Thái Lan, Việt Nam đang bị bán phá giá khi Thái Lan giải phóng các kho gạo với giá rẻ.
Các nhà khoa học cũng cảnh báo rằng đồng bằng sông Cửu Long, nơi sản xuất khoảng một nửa sản lượng lúa gạo của Việt Nam, đang cho thấy những dấu hiệu của áp lực về môi trường. Những con đê vốn được đắp để ngăn lũ cho các cánh đồng lúa lại ngăn những cơn lũ chứa đầy phù sa của sông Mê Kông bổ sung dưỡng chất cho đồng bằng.
Võ Tòng Xuân, một chuyên gia về lúa gạo và từng cố vấn cho chính phủ về chính sách nông nghiệp, tính toán rằng nhiều thửa ruộng ở các khu vực trồng lúa của Việt Nam hiện bạc màu tới mức người ta không thể ngay lập tức chuyển chúng sang mục đích sử dụng khác, chẳng hạn như trồng ngô. Những vấn đề khác, ông nói, bao gồm cả tình trạng thiếu đại diện của người nông dân trong Hiệp hội Lương thực Việt Nam, vốn đầy quyền sinh quyền sát, cũng như sự chống đối cải cách của các DNNN chuyên xuất khẩu lúa gạo, bởi cải cách đồng nghĩa với việc giảm bớt lợi nhuận của họ. Hiến pháp mới của Việt Nam, vốn được thông qua vào cuối tháng 11.2013 và quy định khối DNNN giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, đã không cải thiện được gì.
Phần lớn ruộng đất ở nông thôn bị phân thành những thửa nhỏ. Một nông dân Việt Nam bình quân canh tác chừng hơn 0,5 ha chút ít, trong khi kích thước thửa ruộng lý tưởng là từ 2-3 ha.
Dù vậy, Luật Đất đai mới bắt đầu có hiệu lực từ tháng Bảy sẽ đem lại cho nhiều nông dân quyền sử dụng ruộng đất trong 50 năm, một bước tiến lớn so với thời hạn 20 năm hiện hành. Thời hạn sử dụng đất dài hơn có thể giúp tạo ra những cánh đồng lớn hơn chuyên canh những thứ cây trồng khác ngoài lúa. Tuy nhiên, chính phủ lại vẫn cứng nhắc duy trì chính sách đảm bảo khoảng 90% đất trồng lúa hiện tại cho chuyên canh lúa.
Điều này có thể hiểu được nếu Việt Nam vẫn phải vật lộn với tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng, như đã từng xẩy ra vào đầu thập niên 1980. Tuy nhiên, 1/3 sản lượng lúa gạo của Việt Nam lại được xuất khẩu – thậm chí còn nhiều hơn thế nếu người ta tính cả giá trị xuất khẩu không chính ngạch sang Trung Quốc. Trong khi đó, gạo lại đang giảm tỷ lệ trong khẩu phần ăn của cả nước; tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy bắt đầu làm quen với sở thích thịt và bánh mì. Tháng tới tại Tp Hồ Chí Minh, con rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ khai trương cửa hàng McDonald’s đầu tiên ở Việt Nam. Đối thủ cạnh tranh nội địa của nó, chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh với sản phẩm chính là “VietMac” (một loại bánh burger từ gạo), đang phải đối mặt với nhiều khó khăn./.

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

GS Carl Thayer - Quy định đánh bắt cá mới của Trung Quốc: Cướp biển đội lốt nhà nước?

Quy định đánh bắt cá mới của tỉnh Hải Nam làm phức tạp hoá quan hệ của Trung Quốc với ASEAN
Carl Thayer | The Diplomat | 13.1.2014Người dịch: Lê Anh Hùng




Ngày 29.11.2013, tức chỉ 6 ngày sau khi Bộ Quốc phòng Trung Quốctuyên bố thiết lập Vùng Nhận diện Phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông, chính quyền tỉnh Hải Nam đã âm thầmban hành quy định đánh bắt cá mới trên Biển Đông. Quy định này được loan báo vào ngày 3.12.2013 và có hiệu lực từ ngày 1.1.2014.
Cả hai hành động này đều là đơn phương và nhằm mục đích củng cố cơ sở pháp lý cho yêu sách biển đảo của Trung Quốc trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Hành động của Trung Quốc thách thức chủ quyền quốc gia của các nước láng giềng và tiềm ẩn nguy cơ gây căng thẳng và châm ngòi cho xung đột vụ trang.

Quy định đánh bắt cá mới của tỉnh Hải Nam yêu cầu các tàu thuyền nước ngoài muốn đánh bắt cá hay tiến hành khảo sát trên những vùng biển mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền phải được sự chấp thuận trước từ “cơ quan hữu trách” của chính phủ.
Tỉnh Hải Nam khẳng định trách nhiệm quản lý hành chính đối với đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Đông Sa, quần đảo Trường Sa “và các vùng biển phụ cận”. Các vùng biển phụ cận rộng chừng 2 triệu km2 hay khoảng 57% của 3,6 triệu km2 bao quanh bởi đường lưỡi bò mà Trung Quốc đòi chủ quyền trên Biển Đông.
Những tàu thuyền đánh bắt cá hay khảo sát từ chối tuân thủ quy định sẽ bị đuổi ra khỏi khu vực hoặc bị kiểm tra, tịch thu và chịu một mức phạt lên tới 83.000USD. Chính quyền tỉnh Hải Nam cũng khẳng định quyền tịch thu hải sản đánh bắt mà họ tìm thấy trên tàu thuyền bị thu giữ.
Trung Quốc có quyền chủ quyền đối với những vùng biển và thềm lục địa nằm trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của mình. Chính quyền tỉnh Hải Nam có quyền đặt ra những hạn chế đối với tàu thuyền nước ngoài muốn đánh bắt cá trong khu vực 200 hải lý đó, nhưng họ phải tôn trọng quyền đi lại của tất cả các tàu thuyền khác.
Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền đối với vùng biển bao quanh quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam phản bác yêu sách này. Cả Trung Quốc và Việt Nam, với tư cách những quốc gia đã phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), không chỉ có nghĩa vụ phải kiềm chế hành động đơn phương mà còn phải hợp tác và kiềm chế hành vi đe doạ vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, những nghĩa vụ này từng bị vi phạm trong quá khứ.
Quy định mới của tỉnh Hải Nam cũng được áp đặt lên những vùng biển nằm trong khu vực mà yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc chồng lấn lên các vùng đặc quyền kinh tế mà Philippines và Việt Nam tuyên bố. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt chủ quyền của Trung Quốc lên những vùng biển này đều dễ khơi mào cho hành động chống trả và có thể dẫn đến xung đột vũ trang trên biển.
Tuy nhiên, khía cạnh gây tranh cãi nhất của quy định đánh bắt mới lại liên quan đến khái niệm mà người ta vẫn thường gọi là vùng biển quốc tế. Tất cả các tàu thuyền đánh bắt cá và khảo sát đều có quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế. Bất kỳ nỗ lực nào của Trung Quốc hòng gây khó dễ cho những tàu thuyền này đều có thể coi là hành động “cướp biển đội lốt nhà nước”. Điều này rất có thể sẽ kéo theo việc kiện tụng quốc tế nhằm vào tàu thuyền Trung Quốc liên quan.
Trung Quốc rất khó có thể áp đặt được lệnh cấm này trên những vùng biển mênh mông mà tỉnh Hải Nam đòi chủ quyền. Bất chấp khả năng áp đặt luật biển không ngừng tăng lên, kể cả việc sáp nhập một số cơ quan vào lực lượng cảnh sát biển mới, Trung Quốc vẫn thiếu máy bay và tàu thuyền tuần tra biển để thường xuyên giám sát cả khu vực mênh mông này. Thực tế này dẫn đến khả năng là Trung Quốc có thể “ưu tiên” áp dụng quy định trên cho ngư dân Philippines. Điều này sẽ gây thêm áp lực lên Manila và làm tăng chi phí của hành động kháng cự chính trị mà họ nhằm vào Trung Quốc liên quan đến tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên.
Quy định đánh bắt mới của chính quyền tỉnh Hải Nam cũng có nguy cơ làm xói mòn những nỗ lực ngoại giao của các quan chức Trung Quốc và Việt Nam nhằm quản lý cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên. Tháng Mười vừa qua, trong chuyến thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hà Nội, hai bên đã đồng ý thiết lập đường dây nóng giữa hai bộ nông nghiệp nhằm giải quyết tức thời những sự cố liên quan đến hoạt động đánh bắt cá. Hai nước cũng đã nhất trí thành lập một nhóm công tác về hợp tác hàng hải.
Mặc dù vẫn còn những vụ lẻ tẻ liên quan đến tàu thuyền của chính phủ Trung Quốc và tàu thuyền đánh cá của Việt Nam, song số vụ được báo cáo công khai kể từ cuối năm ngoái dường như đã giảm mạnh. Quy định đánh bắt mới làm tăng khả năng xu hướng này sẽ bị đảo ngược.
Ngay sau khi chính quyền tỉnh Hải Nam ban hành quy định mới, nhiều nước bị ảnh hưởng đã tìm kiếm lời giải thích từ phía Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Philippines là quốc gia lớn tiếng nhất trong việc chỉ trích quy định đánh bắt cá của tỉnh Hải Nam. Trong một tuyên bố ngày 10.1 vừa qua, Bộ Ngoại giao Philippines đã nêu rõ rằng quy định mới “làm gia tăng căng thẳng, phức tạp hoá tình hình trên Biển Đông một cách không cần thiết và đe doạ hoà bình và ổn định trong khu vực”.
Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng tuyên bố tương tự: “Việc áp đặt quy định mới này lên hoạt động đánh bắt cá của các nước khác trên các khu vực tranh chấp ở Biển Đông là một hành động khiêu khích và tiềm ẩn nguy hiểm.”
Tuy ban đầu tỏ thái độ im lặng, song Việt Nam cuối cùng cũng đưa ra phản ứng trước quy định đánh bắt cá mới một vài ngày sau  khi Việt Nam và Trung Quốc tổ chức vòng hiệp thương đầu tiên về hoạt động khai thác chung tài nguyên trên biển ở Bắc Kinh như một diễn biến tiếp nối sau chuyến công du của Thủ tướng Lý Khắc Cường vào năm ngoái. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gọi quy định mới này là “phi pháp và vô giá trị” và tuyên bố: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc bãi bỏ hành động sai trái nêu trên, đồng thời đóng góp thiết thực vào việc duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực.”
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản ứng trước sự chỉ trích với cái phong cách mà họ từng ứng phó với những lời phàn nàn trong quá khứ. Theo quan điểm của Trung Quốc, hành động của các cơ quan chức năng là “hoàn toàn bình thường và là một phần trong thông lệ của các tỉnh thành Trung Quốc tiếp giáp với biển nhằm thiết lập các quy tắc khu vực theo luật pháp quốc gia để điều chỉnh hoạt động bảo tồn, quản lý và khai thác tài nguyên sinh học biển”.
Hai dấu hỏi vẫn lơ lửng trên đầu những diễn biến mới trong tương lai. Đầu tiên, liệu Trung Quốc có đi đến thiết lập một vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông hay không? Tháng 11 năm ngoái, khi Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố về ADIZ trên Biển Hoa Đông, họ cũng nêu rõ là “Trung Quốc sẽ thiết lập các vùng nhận diện phòng không khác vào thời điểm thích hợp sau khi hoàn tất việc chuẩn bị”.
Câu hỏi thứ hai là diễn biến mới nhất này sẽ tác động ra sao đến các cuộc thương thảo sắp tới giữa Trung Quốc và ASEAN về một Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông. Trong quá khứ, một số thành viên ASEAN đã đứng ngoài sự chỉ trích công khai mà Philippines nhằm vào Trung Quốc. Nếu ASEAN không thể đạt được sự đồng thuận về cách thức ứng phó với sự quyết đoán mới của Trung Quốc trên Biển Đông thì điều này sẽ có lợi cho Trung Quốc./.

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Vẻ đẹp nhạt nhoà của Việt Nam

Việt Nam phải thực hiện một số cải cách thì mới khả dĩ hiện thực hoá được tiềm năng dài hạn của mình

Anthony Fensom | The Diplomat | 10.1.2014Người dịch: Lê Anh Hùng


Slogan “Vẻ Đẹp Bất Tận” của Việt Nam có thể thu hút du khách, nhưng sau 7 năm liền tăng trưởng dưới mức trung bình thì những hy vọng về một sự phát triển bùng nổ và bền vững đã trở nên nhạt nhoà. Liệu nền kinh tế XHCN đang tự do hoá này có lấy lại được sức quyến rũ của mình hay không?
Hôm thứ Ba vừa qua, vụ tai tiếng tham nhũng liên quan đến Tổng Cty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đã khơi thêm nhiều hàng tít tai hại cho hệ thống chính trị ở đây. Dương Chí Dũng, cựu chủ tịch Vinalines, khai trước một phiên toà ở Hà Nội rằng ông ta từng hối lộ một quan chức hàng đầu của Đảng Cộng sản hòng tránh bị bắt.
Dương Chí Dũng bị kết án tử hình vì tham nhũng hàng triệu dollar từ Vinalines, vụ tai tiếng gần như khiến doanh nghiệp này phá sản, trong khi em trai ông (cựu đại tá cảnh sát Dương Tự Trọng) thì bị kết án 18 năm tù giam vì giúp anh trai trốn khỏi Việt Nam.
Theo tuần báo TIME, việc báo chí tường thuật rộng rãi vụ scandal này có thể nhằm mục đích xoa dịu sự giận dữ của dân chúng trước tình trạng tham nhũng trong khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hệ thống chính trị. “Nhiều người coi tham nhũng là thủ phạm khiến nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp thời gian gần đây”, bài báo viết.
Năm 2013, GDP của Việt Nam tăng 5,4%, cao hơn so với mức 5,2% năm 2012 song vẫn thấp hơn mức bình quân 7% trong nhiều năm cũng như mục tiêu 5,5% của chính phủ.
Một quan chức chính phủ nói với báo điện tử VietNamNet rằng nền kinh tế “chưa bao giờ phát triển bền vững”, quy tình trạng suy thoái cho “những bất cân đối trên nhiều mặt của nền kinh tế, vốn đã kéo dài từ một số năm trước, cũng như tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu”.
Tháng 10.2013, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình phát biểu với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) rằng “hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp khó khăn”, kinh tế vĩ mô vẫn “chưa ổn định một cách chắc chắn”, đồng thời kêu gọi tăng cường cải cách cơ cấu và cải thiện lưới an toàn xã hội.
Ảnh: Vietnam via Piter HaSon / Shutterstock.com
Tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài và xuất khẩu, với tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng lên đến 75% từ mức 56% năm 2009 (dữ liệu của IMF). Năm ngoái, Việt Nam thu hút gần 22 tỷ USD đầu tư nước ngoài chính thức, tăng 55% so với năm 2012, trong đó Hàn Quốc chiếm vị trí dẫn đầu năm 2012 của Nhật Bản.
Xét trên phương diện này, những bài tường thuật về vụ bạo lực của công nhân tại một nhà máy mới trị giá 2 tỷ USD của Samsung mới đây có thể gây rắc rối, với việc chính phủ đang nỗ lực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách giảm thuế và chi phí nhân công thấp.
Hệ thống ngân hàng gặp khó khăn
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang có kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ tái cấu trúc DNNN trước năm 2016, trong đó có việc sử dụng một công ty quản lý tài sản để mua nợ xấu. Chính phủ vừa mới loan báo trong tuần này là các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được phép nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần trong các ngân hàng thương mại nhằm củng cố hệ thống ngân hàng vốn đang lao đao, với tỷ lệ nợ xấu cao nhất Đông Nam Á.
Chính phủ hy vọng nền kinh tế sẽ tăng trưởng ở mức 5,8%trong năm nay, cao hơn chút ít so với năm ngoái, nhờ lãi suất thấp và tỷ giá yếu.
Trong một bài nghiên cứu, chuyên gia kinh tế Eugenia Fabon Victorino của ngân hàng ANZ dự đoán Việt Nam sẽ tăng trưởng 5,6% trong năm 2014, “chúng tôi hy vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng, đặc biệt là hoạt động chế tạo liên quan đến xuất khẩu”. FDI và chi tiêu công trong xây dựng sẽ giúp bù đắp cho nhu cầu yếu ở trong nước, cùng với việc ngân hàng trung ương rất có thể vẫn tiếp tục duy trì tỷ giá ổn định, Victorino nói.
Tiềm năng tăng trưởng mới?
Dù vậy, bất chấp tốc độ tăng trưởng kém những năm qua, theo một khảo sát mới đây của Boston Consulting Group (BCG) thì triển vọng dài hạn của Việt Nam vẫn cho thấy nhiều hứa hẹn hơn.
Theo BCG, hơn 90% người tiêu dùng Việt Nam “kỳ vọng sẽ sống tốt hơn cha mẹ mình và kỳ vọng con cái họ sẽ sống tốt hơn họ” – một mức độ lạc quan thuộc vào loại cao nhất trong số 25 nước được khảo sát.
Để so sánh, tỷ lệ này ở Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia là khoảng 70%, trong khi chỉ 9% người tiêu dùng Nhật Bản nói rằng con cái của họ sẽ có cuộc sống tốt hơn.
Với tổng dân số 150 triệu người, Việt Nam và Myanmar được BCG xác định là “tiềm năng tăng trưởng mới của Đông Nam Á”.
“Việt Nam có tầng lớp trung lưu và giàu có phát triển nhanh nhất trong khu vực. Từ năm 2012 đến 2020, lớp người tiêu dùng này sẽ tăng từ 12 triệu lên 33 triệu người”, BCG nhận định.
Trong một báo cáo vào tháng Giêng 2013, công ty PwC Economics dự báo Việt Nam sẽ gia nhập tốp 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới trước năm 2050, đưa GDP (dựa trên chỉ tiêu bình giá sức mua) lên mức 2,7 nghìn tỷ USD để chiếm vị trí thứ 19 như là một trong những chú “ngựa ô” tăng trưởng nhanh nhất ngoài nhóm G20.
Tuy nhiên, để đạt tới định mệnh hứa hẹn đó, Việt Nam cần phải dọn dẹp khu vực kinh tế nội địa của mình; theo IMF, khu vực này đang phải chịu ảnh hưởng của tình trạng năng suất thấp, các nguồn lực phân bổ sai, hệ thống ngân hàng ngập trong nợ xấu và các DNNN kém hiệu quả.
“Vấn đề lớn ở đây là nền kinh tế sẽ ra sao một khi các doanh nghiệp FDI rút lui và khi các nguồn lực trong nước cạn kiệt”, một quan chức chính phủ nói.
Trong khi đó, chính phủ Việt Nam thì vẫn hy vọng rằng chiến dịch tấn công thiện cảm (charm offensive) nhằm vào các nhà đầu tư nước ngoài của họ thực sự mang lại hiệu quả bất tận.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

CUỘC TRAO ĐỔI GIỮA CÁC VỊ LÃO THÀNH CÁCH MẠNG VỚI LÊ ANH HÙNG

Lê Anh Hùng 6.1.2014


Ngày 5.5.2012, tôi (Lê Anh Hùng) đã gặp và trao đổi với một số vị lão thành cách mạng tại Hà Nội về vụ việc vợ chồng tôi tố cáo Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đây là vụ việc mà họ, những thành viên chủ chốt của “Câu lạc bộ Học và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” (CLB chống tham nhũng và tiêu cực của các vị lão thành cách mạng ở Hà Nội), đặc biệt quan tâm.
Trong cuộc gặp, lần đầu tiên tôi được các cụ cho biết một tin khiến tôi bàng hoàng, sửng sốt: Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải là người Hán (đoạn bắt đầu từ 1h04’ trong video clip dưới đây). Tám ngày sau, các cụ đã trao cho tôi bức Tâm Huyết Thư đề ngày 7.5.2007 của một số cán bộ đảng viên đã và đang công tác tại Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ và một số cơ quan trọng yếu khác của Đảng CSVN, tố cáo lý lịch người Hán của ông Hoàng Trung Hải (bố ông ta tên là Sì Sói, sinh quán tại Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc). Ngay hôm sau, ngày 14.5.2012, tôi đã công bố bức Tâm Huyết Thư đó qua mạng Internet.

Bất chấp lời cảnh báo tâm huyết của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp lo lắng cho vận mệnh dân tộc trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đặt ông Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khoá mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (kể từ ngày 2.8.2007).

PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao trực tiếp phụ trách các bộ: Bộ Công Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu: Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v.
Những gì mà ngài Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” gốc Tàu Hoàng Trung Hải đã gây ra cho đất nước Việt Nam của chúng ta không chỉ là tình trạng trì trệ của nền kinh tế trong nhiều năm qua, mà còn vô số hệ luỵ không thể đong đếm về cả kinh tế - xã hội lẫn an ninh - quốc phòng trong nhiều năm tới. Chừng nào ông ta còn ngồi đấy để lũng đoạn nền kinh tế và thao túng cả bộ máy, chừng đó Việt Nam còn lụn bại và viễn cảnh Việt Nam trở thành quận huyện của Trung Quốc càng đến gần.

   

Tin liên quan:
  1. Thư Tố Cáo lần thứ 73 và lời kêu cứu
  2. Tâm Huyết Thư của các cán bộ đảng viên tố cáo lý lịch người Hán của PTT Hoàng Trung Hải (nếu link kia không đọc được, quý vị có thể đọc ở đây, đọc bản đánh máy lại ở đây, đọc trên Facebook ở đây)
  3. Bị khủng bố, đánh đập vì tố cáo lãnh đạo
  4. Điều gì đang xẩy ra với ngành điện lực của Việt Nam?
  5. Một nền kinh tế đang trên đà ‘Hán hoá’?
  6. Một phó thủ tướng gốc Hoa khai man lý lịch, buôn bán ma tuý
  7. Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải mở đường cho giặc tràn vào Việt Nam
  8. Nhập siêu từ Trung Quốc: Cấp độ báo động ngày càng lớn và những cái tai ngày càng điếc

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Những dự báo cho Châu Á trong năm 2014



Giống như năm 2013, năm mới 2014 lại hứa hẹn là một năm với nhiều biến động và thay đổi ở Châu Á. Châu lục này không chỉ là động cơ lớn nhất của tăng trưởng toàn cầu, mà còn là trung tâm của các cuộc đàm phán thương mại tự do đa phương, là trái tim đích thực của “Mùa Xuân” dân chủ ở các nước đang phát triển, và là nơi trú ngụ của thứ chính trị vũ lực (power politics[i]) thô thiển và nguy hiểm nhất trên thế giới. Rốt cuộc thì chỉ ở Châu Á, các cường quốc với kho vũ khí hạt nhân khổng lồ mới tiếp tục dằn mặt nhau, theo kiểu chiến tranh lanh.
Vì thế, dưới đây là 7 sự kiện mà người ta sẽ đón đợi trong năm 2014 ở Châu Á:
1. Trung Quốc sẽ biết điều trở lại (ở một mức nào đó)…
Bốn năm qua, Trung Quốc ngày càng khiến phần lớn láng giềng của mình ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Bắc Á xa lánh. Sau khi bắt tay vào chiến lược can dự hữu hảo với phần còn lại của Châu Á vào giai đoạn đầu và giữa thập niên 2000 (chiến lược đã giúp Trung Quốc ký các hiệp định thương mại tự do và xây dựng mối quan hệ đối tác với nhiều nước) thì đến đầu thập niên 2010, đất nước này đã đánh mất phần lớn điểm số mà họ từng giành được. Những yêu sách tham lam của Trung Quốc trên các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, cộng với thứ ngôn ngữ sặc mùi dân tộc chủ nghĩa của họ, đã châm ngòi cho một phản ứng diễn ra trên khắp khu vực và hoàn toàn trái với những gì mà nhà cầm quyền Trung Quốc mong muốn. Các quốc gia từ Philippines, Hàn Quốc cho đến Myanmar đều hoan nghênh việc Mỹ tăng cường can dự quân sự và ngoại giao ở Châu Á, chủ yếu như một thế lực đối trọng với một Trung Quốc đang trỗi dậy.
Tuy nhiên, cuối năm 2013, người ta lại phát hiện ra một số dấu hiệu, từ các cấp lãnh đạo cao nhất, cho thấy rằng chính quyền của tân Chủ tịch Tập Cận Bình đã hiểu được sự cần thiết phải hành xử hoà nhã hơn đôi chút ở Châu Á  – ít nhất là bề ngoài – để cuối cùng cũng trở thành cường quốc chi phối của khu vực. Nếu không nhượng bộ về vấn đề Biển Đông thì trong năm 2014 Trung Quốc cũng sẽ chấm dứt thái độ công khai thù địch những quốc gia có yêu sách như Việt Nam hay Philippines, đồng thời tăng cường nỗ lực để thúc đẩy hiệp định tự do thương mại do họ khởi xướng và tiếp tục ve vãn Nga, Ấn Độ và các nước Trung Á.
2. … nhưng điều đó sẽ không ngăn được một cuộc chạy đua vũ trang
Đông Á hiện là nơi diễn ra cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt nhất trên thế giới: Trung Quốc đang hiện đại hoá quân đội; các nước Đông Nam Á đang mua sắm tàu ngầm và các vũ khí khác để bảo vệ các vùng biển tranh chấp; Hàn Quốc và Nhật Bản đang chuẩn bị để chống lại Trung Quốc và một Bắc Triều điên khùng; còn Mỹ thì đang theo đuổi chiến lược xoay trục quân sự sang Thái Bình Dương. Mặc dù năm ngoái mức chi tiêu quân sự toàn cầu giảm lần đầu tiên trong nhiều thập niên (theo Viện Nghiên cứu Hoà bình Stockholm - Stockholm Peace Research Institute), song sự suy giảm ấy lại chủ yếu là do chính sách cắt giảm ngân sách của Lầu Năm Góc. Tuy nhiên, chi tiêu quân sự ở Châu Á năm 2013 lại gia tăng, và năm 2014 sẽ chứng kiến hiện tượng gia tăng chi tiêu quân sự thậm chí còn lớn hơn.
3. Nhật Bản lại thất vọng
Năm 2013, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã bước đầu khiến cho thị trường và nhiều giám đốc điều hành ở Nhật Bản phấn chấn với kế hoạch “học thuyết kinh tế Abe” táo bạo của mình: gói kích thích tiền tệ khổng lồ + các chính sách tài khoá và kinh tế (vốn được vạch ra để nhanh chóng thúc đẩy đầu tư trong nước). Lần đầu tiên sau nhiều năm, tinh thần bầy đàn (animal spirits[ii]) ở đây dường như đã sẵn sàng dâng cao. Thị trường chứng khoán Tokyo bùng nổ, và Nhật Bản tăng trưởng gần 4% trong quý II của năm 2013, mức cao nhất cả năm.
Tuy nhiên, giống như những lần bùng nổ nhỏ lẻ khác mà Nhật Bản đã trải qua kể từ đầu thập niên 1990, niềm lạc quan này sẽ mờ nhạt dần trong năm 2014. Thủ tướng Abe chưa bao giờ khởi xướng một cuộc cải cách cơ cấu quan trọng, và năm nay người ta sẽ chứng kiến Nhật Bản thi hành một luật thuế mới – đạo luật sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng ngay cả khi gói kích thích tiền tệ vẫn vận hành êm xuôi. Abe sẽ ngày càng khiến các đối tác thương mại quan trọng như Hàn Quốc và Trung Quốc xa lánh với những lời tán dương lỗi thời mà ông ta vẫn dành cho thứ chính trị thời Thế chiến II của Nhật Bản. Thậm chí, Nhật Bản có thể lại rơi vào một cuộc suy thoái trên lý thuyết (technical recession[iii]) vào giữa năm 2014.
4. Những cải cách của Trung Quốc là ảo tưởng
Năm 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như đã phát động một cuộc cải cách kinh tế quan trọng, thân thiện với thị trường. Điều này hứa hẹn thúc đẩy đầu tư tư nhân trong nhiều ngành nghề và nới lỏng các quyền tài sản, chưa kể những thay đổi khác. Năm 2014, con quái vật khổng lồ sẽ phản đòn, khi các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hùng mạnh, vốn chi phối danh sách các doanh nghiệp lớn nhất Trung Quốc, phản đối và giảm bớt ảnh hưởng của những cải cách mà họ Tập đề xuất hay né tránh những cải cách đó. Hãy chờ xem, các DNNN sẽ sử dụng mối quan hệ của mình với các ngân hàng quốc doanh để loại trừ những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong khu vực tư nhân, vận động họ Tập bổ sung thêm nhiều lĩnh vực vào danh sách “chiến lược” và vì thế cần được chính phủ kiểm soát, đồng thời kêu gọi ân sủng để duy trì chính sách miễn giảm thuế, giao đất và những lợi thế khác cho họ.
Các DNNN khổng lồ từng sống sót sau nỗ lực cải cách DNNN gần đây nhất là vào cuối thập niên 1990, và lần này rất có thể họ lại chiến thắng trong, điều tốt cho họ nhưng lại xấu cho các nhà đầu tư và tăng trưởng.
5. Kim Jong Un sẽ còn đáng sợ hơn
Nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đánh dấu kỳ nghỉ lễ năm 2013, thường được coi là thời gian dành cho gia đình, bằng cách ra lệnh xử tử công khai ông chú và là trợ thủ hàng đầu của mình, Jang Song Thaek, kẻ bị truyền thông nhà nước cáo buộc với những tội ác như “vỗ tay thiếu nhiệt tình” cho người cháu. Trên thực tế, có lẽ Jang bị xử tử là do Kim trẻ muốn các đối thủ đe doạ ngôi báu của mình đều phải chết. (Tiếp theo, Kim đã thanh trừng hầu hết đồng minh của Jang trong khắp bộ máy.) Mặc dù người ta khó coi Jang là người tốt, song ông ta lại được cho là đã thúc đẩy những cải cách kinh tế theo kiểu Trung Quốc – đó là một lý do khiến các quan chức Trung Quốc rất lo ngại về cái chết của ông ta. Nếu thiếu một tiếng nói ủng hộ cải cách như thế, những cách tân về kinh tế đang thai nghén của Bắc Triều Tiên có thể dễ dàng rơi vào bế tắc, khiến quốc gia này thậm chí còn tuyệt vọng hơn và ban lãnh đạo của nó càng trở nên khó lường hơn.
Đáng lo ngại hơn, mặc dù có thể là Kim loại bỏ Jang để củng cố chế độ của mình, nhưng việc ông ta làm điều đó một cách công khai lại gợi lên rằng nhà độc tài trẻ vẫn rất bất an về mức độ kiểm soát quyền lực. Để củng cố hình ảnh dân tộc chủ nghĩa của bản thân và tập hợp người dân Bắc Triều Tiên xung quanh mình, rất có thể trong năm 2014 Kim sẽ tiến hành một vụ thử vũ khí hạt nhân khác hoặc phát động một cuộc tấn công nhằm vào các thuỷ thủ hay tàu thuyền của Hàn Quốc, một chiến thuật từng được nhà cầm quyền Bắc Triều Tiên sử dụng khi có biến động nội bộ.
6. Thái Lan tan chảy
Cuối năm 2013, Thái Lan – một đất  nước hết trải qua cuộc khủng hoảng chính trị này đến cuộc biến động chính trị khác trong suốt gần thập niên qua – đã chuyển từ trạng thái âm ỉ bình thường sang tình trạng sôi sục toàn diện. Những người biểu tình chống chính phủ, chủ yếu thuộc giới tinh hoa và trung lưu ở Bangkok, làm tắc nghẽn các đường phố của thủ đô. Họ chiếm trụ sở các bộ, xung đột với cảnh sát, và kêu gọi tạm dừng – hay thậm chí chấm dứt – nền chính trị dân chủ của Thái Lan, một nền chính trị luôn đưa đến những chính phủ dân tuý mà người nghèo thì ủng hộ còn người Bankok thì khinh bỉ. Trên nhiều phương diện, những người biểu tình Thái Lan tượng trưng cho một tầng lớp trung lưu rộng lớn hơn trên bình diện toàn cầu vốn thất vọng với chế độ dân chủ, thứ thể chế thường giảm bớt quyền lực của cư dân đô thị. Dù vậy, trong khi các cuộc biểu tình tương tự ở Ukraina và Thổ Nhĩ Kỳ dường như đang lắng xuống thì tình trạng bất ổn ở Thái Lan lại chỉ ngày càng tội tệ hơn trong năm nay.
Những người biểu tình Thái Lan và phe đối lập chính trong Quốc hội (Đảng Dân chủ) đang tẩy chay các cuộc bầu cử toàn quốc (theo kế hoạch sẽ diễn ra trong tháng Hai), trong khi người biểu tình và cảnh sát (lực lượng nhìn chung là ủng hộ chính phủ dân tuý) đã mệt mỏi với chiến thuật phi bạo lực. Muộn nhất là vào tháng Hai, các nhóm trong nội bộ lực lượng biểu tình sẽ phát động các cuộc tấn công mạnh hơn nhằm vào nhà cửa, cảnh sát và thậm chí cả những người đứng xung quanh. Hãy chờ xem, cảnh sát sẽ đánh trả ngày một cứng rắn hơn. Cuối cùng, tình trạng bất ổn có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc đảo chính khác, cuộc đảo chính thứ 20 trong lịch sử Thái Lan hiện đại.
7. Jokowi được bầu làm Tổng thống Indonesia, và không đảng nào giành được đa số ghế ở Ấn Độ
Hai trong số những quốc gia lớn nhất Châu Á, Indonesia và Ấn Độ, sẽ tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc trong năm 2014, nhưng chỉ có một nước cho ra kết quả rõ ràng. Ở Ấn Độ, sự sa sút của Đảng Quốc đại, sự trỗi dậy của các đảng nhỏ và mang tính chất khu vực, cùng thái độ thờ ơ ngày càng tăng trong số những cử tri trung lưu có thể sẽ dẫn đến kết cục là một cuộc bầu cử mà ở đó không một đảng phái nào dành được số phiếu quá bán. Bất kỳ đảng nào giành được nhiều ghế nhất cũng sẽ phải thành lập một liên minh đa đảng, yếu và bất ổn trong Quốc hội, một liên minh có thể không tồn tại qua nổi năm 2014.
Ở Indonesia sẽ là một câu chuyện khác. Thống đốc Jakarta Joko Widodo, thường được gọi là Jokowi, là một kiểu chính khách Indonesia mới trên nhiều phương diện: ông không phải xuất thân từ một triều đại chính trị cầm quyền lâu năm, và ông rất ghét phong cách chính trị Indonesia truyền thống, vốn xa cách và gần như mang tính chất hoàng gia, đồng thời ủng hộ cách tiếp cận dân tuý, gần gũi với người dân. Dù vậy, Jokowi thật khó mà được coi là ngây thơ về chính trị. Ông biết đích xác làm thế nào để quản lý hình ảnh của mình, làm thế nào để cho thiên hạ thấy sức cuốn hút của một gã-đáng-tin, sức cuốn hút đã cho thấy là rất hợp lòng dân trong một đất nước chưa từng biết đến một chính khách nào như thế. Mặc dù Jokowi chưa chính thức tuyên bố chiến dịch tranh cử song gần như tất cả các đồng minh và cố vấn của ông đều nói rằng ông đang chạy đua vào chiếc ghế tổng thống trong năm nay. Và trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, ông sẽ dựa vào không chỉ sức hút và bản năng chính trị của bản thân mà cả bộ máy quyền lực của Đảng Dân chủ Indonesia (PDI) của cựu tổng thống Megawati Sukarnoputri.
Một số nhà dự báo chính trị cho rằng Megawati, người đã cân nhắc việc trở lại cuộc chạy đua vào dinh tổng thống, sẽ không bao giờ đứng sang một bên để nhường chỗ cho một chính khách còn quá trẻ như Jokowi. Các nhà dự báo này đã đánh giá quá thấp mức độ mà Megawati mong muốn đảng của bà, một chính đảng đã rời xa văn phòng tổng thống một thập niên, giành lại được quyền lực. Không một ứng viên tổng thống nào sẽ đủ sức tiến gần đến vị thế của Jokowin trong cuộc bầu cử tổng thống chênh lệch nhất trong lịch sử của nền dân chủ non trẻ này.





Chú thích:
[i] Một hình thức quan hệ quốc tế mà ở đó các quốc gia bảo vệ lợi ích của mình bằng cách đe doạ sử dụng sức mạnh quân sự, kinh tế hay chính trị. (ND)
[ii] Thuật ngữ mà nhà kinh tế học John Maynard Keynes sử dụng trong tác phẩm nổi tiếng của ông, “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest and Money), để mô tả bản năng, tâm trạng và tình cảm của con người (vốn được cho là ảnh hưởng và định hướng cách ứng xử của con người), và có thể được lượng định thông qua, chẳng hạn, niềm tin của người tiêu dùng (consumer confidence). (ND)
[iii] Bắt đầu với hai quý tăng trưởng âm liên tiếp. (ND)

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

NHẬP SIÊU TỪ TRUNG QUỐC: CẤP ĐỘ BÁO ĐỘNG NGÀY CÀNG LỚN VÀ NHỮNG CÁI TAI NGÀY CÀNG ĐIẾC

Lê Anh Hùng 
VOA| Diễn đàn XHDS | Bauxite Việt Nam | 3.1.2014



Nhân viên hải quan Việt Nam bênh cạnh hàng hóa mua
bán tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn (D. Schearf/VOA)
Năm 2000 là năm gần nhất ghi nhận thặng dư mậu dịch trong quan hệ thương mại song phương Việt - Trung. Kể từ đấy, Việt Nam bắt đầu nhập siêu từ Trung Quốc và càng về sau thì tình trạng này càng diễn ra với tốc độ chóng mặt mà công luận đã nhiều lần lên tiếng báo động.
Ngay từ năm 2005, bài toán nhập siêu từ Trung Quốc đã được dư luận đặt ra một cách nghiêm túc, nhiều biện pháp đã được đề ra để cân bằng cán cân thương mại đang diễn ra bất lợi cho Việt Nam.[i] Tuy nhiên, thật trớ trêu, tình hình sau đấy không những không được cải thiện, mà ngược lại, còn xấu đi theo chiều hướng ngày càng trầm trọng – mức nhập siêu từ Trung Quốc năm 2013 đã lên đến con số kỷ lục 23,7 tỷ USD.




Đồ thị 1 - Tỷ trọng xuất nhập khẩu giữa VN và TQ trong tổng kim ngạch XNK của VN



Bảng 1 và Đồ thị 1 ở trên cho phép chúng ta rút ra một số kết luận quan trọng:
  1. Tốc độ gia tăng bình quân của kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc trong 14 năm qua cao gấp 1,53 lần (29,6%/19,3%) tốc độ gia tăng bình quân của kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc. Điều này giải thích tại sao nhập siêu từ Trung Quốc gia tăng với tốc độ chóng mặt;
  2. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam suốt 14 năm qua hầu như không thay đổi và chỉ ở mức xấp xỉ 9% (đường xu hướng của tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang TQ trong tổng kim ngạch xuất khẩu gần như nằm ngang);
  3. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam suốt 14 năm qua luôn tăng với tốc độ đáng báo động, từ 9,2% năm 2000 lên đến mức 28% năm 2013 (đường xu hướng của tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ TQ trong tổng kim ngạch nhập khẩu có độ dốc lớn). Với đà này thì chỉ ít năm nữa thôi, Việt Nam sẽ chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn nữa, phần lớn hàng hoá nhập khẩu này lại là máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu, hàng tiêu dùng độc hại… [iii] “Bệnh tòng khẩu nhập”, đây chính là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng trì trệ và đình đốn cho nền kinh tế Việt Nam suốt nhiều năm qua, chưa kể một hậu quả vô cùng tai hại về lâu dài khác là tình trạng suy thoái giống nòi do sử dụng những sản phẩm độc hại của “bạn”.
Xem ra, cụm từ “lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc” đã không còn mấy “ép-phê” với các nhà lãnh đạo Việt Nam nữa, đơn giản đó là chuyện đã rồi. Và, cùng với việc người Trung Quốc đang âm thầm thâu tóm các doanh nghiệp lớn của Việt Nam như CP Group Vietnam hay Vinacafe, rất có thể ngài Tập Cận Bình đang tính chuyện lựa chọn một thời điểm thích hợp nào đó ngay trong nhiệm kỳ thứ nhất của mình để hùng hồn tuyên bố với thế giới rằng: Việt Nam là một bộ phận “không thể tranh cãi” của nền kinh tế Trung Quốc!?
Kinh tế quyết định chính trị. Đó là một quy luật mà nhân loại đã khám phá ra với rất nhiều xương máu. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, những “đầy tớ” của nhân dân như họ tự nhận, có thể vẫn tiếp tục điềm nhiên khước từ những “ông chủ” của mình một thượng tầng chính trị phù hợp với hạ tầng kinh tế hiện tại của đất nước, nhưng với người bạn “4 tốt 16 vàng” bên kia biên giới thì xin đừng bao giờ ảo tưởng cả![iv]






[i] Báo Tiền Phong ngày 8/9/2005: Cách nào để giảm nhập siêu; Báo Tuổi Trẻ ngày 1.11.2005: Cần từng bước cân bằng cán cân thương mại Việt - Trung.

[ii] Nguồn: Niên giám Thống kê 2000 – 2012 và tính toán của tác giả; báo điện tử Một Thế Giới ngày 24.12.2013: Nhập siêu 23,7 tỷ USD từ Trung Quốc.