Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

CÂU CHUYỆN TẠM GIAM Ở VIỆT NAM

Lê Anh Hùng | VOA| 9.9.2013



Mặc dù pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng thời hạn tạm giam bị can, nhưng trong thực tế, thời gian tạm giam có thể là vô hạn định, do vòng quay của quy trình “điều tra, xét xử [lại]” có thể diễn ra nhiều lần, cũng như do sự coi thường pháp luật của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật. 
Phiên toà xét xử LS Lê Quốc Quân về tội “trốn thuế” bị hoãn đột ngột ngày 8/7/2013 đồng nghĩa với việc ông tiếp tục bị tạm giam vô hạn định trong tù.
Ngày 3/9 vừa qua, LS Hà Huy Sơn, người bào chữa cho ông, đã gửi công văn đến Tòa án Nhân dân Tp Hà Nội yêu cầu trả tự do ngay cho thân chủ do đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Trước đó, ngày 13/8, LS Hà Huy Sơn cũng từng gửi công văn đến cơ quan này yêu cầu mở lại phiên toà xét xử vì đã quá thời hạn tạm hoãn phiên toà. Cho đến nay, cả hai công văn đều rơi tõm vào sự im lặng quen thuộc của nhà chức trách Việt Nam. Không ai biết “bánh xe công lý” của “nhà nước pháp quyền XHCN” trong vụ việc vẫn đang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận này sẽ tiếp tục quay như thế nào.
Quy định pháp luật về tạm giam
Theo Điều 88 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, tạm giam không phải là biện pháp bắt buộc. Điều luật này qui định là tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ Luật Hình sự qui định hình phạt tù trên 2 năm khi có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc áp dụng quy định pháp luật trên đây là rất tuỳ tiện, do bản chất định tính, tuỳ vào nhận định chủ quan của điều luật. Công an luôn có đủ lý do để muốn tạm giam bị can thì tạm giam, muốn cho tại ngoại thì tại ngoại. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực sinh sôi nảy nở, hoặc đối với các vụ án chính trị như trường hợp LS Lê Quốc Quân thì trở thành công cụ hữu hiệu để trấn áp ý chí của đối tượng.
Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng thời hạn tạm giam bị can, nhưng trong thực tế, thời gian tạm giam có thể là vô hạn định, do vòng quay của quy trình “điều tra, xét xử [lại]” có thể diễn ra nhiều lần cũng như do sự coi thường pháp luật của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Mức độ
tội phạm
Thời gian
tạm giam trong
các giai đoạn
tố tụng (ngày)

Ít nghiêm trọng
(khung hình phạt từ 3 năm tù trở xuống)
Nghiêm trọng
(khung hình phạt mức cao nhất đến 7 năm tù)

Rất nghiêm trọng
(khung hình phạt mức cao nhất đến 15 năm tù)

Đặc biệt
nghiêm trọng
(mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình)
Thời hạn điều tra
60
90
120
120
Gia hạn điều tra 
30
90
150
480
Thời hạn truy tố 
20
20
30
30
Gia hạn truy tố 
10
15
30
30
Trả hồ sơ điều tra
bổ sung 
120
120
120
120
Gửi hồ sơ cho tòa án 
3
3
3
3
Tòa án chuẩn bị xét xử 
30

45

60

120

Gia hạn chuẩn bị xét xử 
15
15
30
30
Trả hồ sơ điều tra bổ sung 
60
60
60
60
Ra quyết định xét xử 
15
15
15
15
Tổng cộng 
363
473
618
1.008
Điều tra, xét xử lại 
Quay trở lại từ đầu
Như vậy, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự hiện hành, để hoàn thành một quy trình từ khi điều tra, truy tố đến lúc xét xử sơ thẩm thì tuỳ mức độ phạm tội mà bị can có thể bị tạm giam tối đa từ 363 ngày đến 1.008 ngày (xem bảng trên). 
Tuy nhiên, trong thực tế, nếu bị cáo kháng án và được toà phúc thẩm tuyên huỷ án sơ thẩm để điều tra lại thì quy trình nói trên lại quay trở về điểm xuất phát. Và trong trường hợp này, luật lại không quy định cụ thể là được huỷ án để điều tra lại bao nhiêu lần. Chính vì thế mà thời hạn tạm giam có thể kéo dài vô hạn định, với nhiều trường hợp bị giam oan, như vụ án “vườn điều” nổi tiếng ở Bình Thuận, bà Nguyễn Thị Lâm bị giam oan đến 7 năm, hay vụ anh Nguyễn Minh Hùng ở Tây Ninh bị giam oan hơn 5 năm.
Theo Điều 22 của Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 (ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam) thì người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác, nhưng điều này lại do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. 
“Luật là tao”
Sự bất cập của hệ thống pháp luật khiến cho những ai chẳng may vướng vào vòng lao lý ở Việt Nam đều trở thành nạn nhân của sự tuỳ tiện trong công tác điều tra, xét xử của các cơ quan tham gia tố tụng, đặc biệt là công an: Từ chuyện bị tạm giam hay được tại ngoại, chuyện gặp gỡ thân nhân và thậm chí là gặp luật sư, hay chuyện toà án trả hồ sơ để “điều tra lại”, v.v.
Khi bị tạm giam, bị can bị cách ly hoàn toàn khỏi xã hội. Đang được hít thở bầu không khí tự do ở ngoài thì bị bắt rồi bị giam giữ trong một căn phòng phòng kín mít với những bạn tù lạ lẫm hay thậm chí còn bị biệt giam, bị tước hết các quyền tự do cơ bản, kèm theo đó là cảm giác tội lỗi, hối hận… nên đây là giai đoạn mà người bị bắt giam dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng tinh thần nhất trong thời gian tù tội. Tâm lý khủng hoảng cũng còn do người bị tạm giam chưa biết số phận của mình: kết quả điều tra ra sao, bị truy tố theo khung hình phạt nào, v.v.
Ở Mỹ, câu nói cửa miệng của cảnh sát khi bắt giữ tội phạm là: “Anh có quyền giữ im lặng. Bất cứ điều gì anh nói sẽ được sử dụng để chống lại anh trước toà.” Câu nói mà giới chuyên môn gọi là lời cảnh báo Miranda này thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc cơ bản nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự: một cá nhân không thể bị coi là có tội cho đến khi cơ quan công tố chứng minh được là có tội và không còn tồn tại bất cứ sự nghi ngờ hay chứng cứ nào chứng minh điều ngược lại. Đó là nguyên tắc chi phối quy trình tố tụng hình sự không chỉ ở Mỹ mà ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam thì ngược lại, bất cứ ai bị bắt cũng đều bị các cơ quan tham gia tố tụng mặc nhiên coi là có tội và tìm cách buộc tội đến cùng. Lợi dụng tâm lý khủng hoảng của bị can, trại giam trở thành công cụ hữu hiệu để công an ép buộc bị can phải nhận tội bằng những cách thức như biệt giam, không cho gặp thân nhân… mà trường hợp LS Lê Quốc Quân là một ví dụ điển hình: cho đến nay, mặc dù đã bị bắt hơn 8 tháng, ông vẫn chưa được gặp trực tiếp gia đình; trường hợp anh Nguyễn Minh Hùng kể trên cũng vậy: từ ngày bị bắt cho đến khoảng 1 năm sau gia đình mới gặp lại anh tại phiên toà sơ thẩm.
Mấy năm gần đây, nhiều vụ đột tử ở đồn công an còn phơi bày một sự thật nhức nhối khác: đó là tình trạng tra tấn và bức cung bị can trong thời gian tạm giam. Điều này giải thích vì sao Việt Nam, một nước vẫn tự vỗ ngực là “tiến bộ”, lại chưa phê chuẩn Công ước Chống Tra tấn của Liên Hợp Quốc, dù đến tháng 5/2013 đã có tới 153 nước trên thế giới phê chuẩn.


Nguồn: VOA

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Tony Blair thoả thuận cố vấn cho Việt Nam và Peru

Đế chế kinh doanh của cựu Thủ tướng Anh ký kết những thoả thuận mới nhằm cố vấn cho Việt Nam và Peru – bài viết của Edward Malnick

Người dịch: Lê Anh Hùng


Tony Blair đã mở rộng đế chế kinh doanh của mình sang Viễn Đông.
Cựu Thủ tướng Anh đã ký một thoả thuận gây tranh cãi nhằm cố vấn cho chính phủ Việt Nam trong bối cảnh Đảng CS cầm quyền ngày càng bị lên án về chính sách đàn áp tự do ngôn luận.
Tony Blair đã hội đàm với các nhà lãnh đạo Hồng Kông và Thái Lan mấy tháng gần đây, điều này làm gia tăng khả năng là ông có thể mở rộng hoạt động kinh doanh ở khu vực Viễn Đông muộn nhất là cuối năm nay.
Ông cũng đã giành được một hợp đồng cố vấn cho chính phủ Peru về cải cách khu vực công.
Các thương vụ này diễn ra trong giai đoạn ông Blair mở rộng hoạt động của Government Advisory Practice, tập đoàn kinh doanh đã kiếm được hàng triệu bảng từ hoạt động cố vấn cho các chính phủ, trong đó có chính phủ của các nước Kazakhstan, Kuwait và Colombia.
Một phát ngôn viên của ông Blair đã xác nhận về các cuộc thương thảo với “nhiều nước”.
Thông tin được tiết lộ sau khi vị cựu Thủ tướng bị phát hiện có mặt trên những chiếc siêu du thuyền ở Địa Trung Hải vào tháng trước để “gặp gỡ nhiều người”, như phát ngôn viên của ông mô tả.
Trong thương vụ mới với Việt Nam, một nhóm chuyên gia tư vấn của ông Blair được hiểu là sẽ làm việc với Bộ Ngoại giao để hỗ trợ quan hệ kinh tế và thương mại với Anh và Liên minh Châu Âu.
Thoả thuận đã được xác nhận sau khi ông Blair bay tới Hà Nội trong hai dịp khác nhau vào năm ngoái để thương thảo với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.
Trong chuyến thăm đầu tiên tháng Mười năm ngoái, ông đề nghị cố vấn cho chính phủ Việt Nam về những chủ đề như cải cách nền kinh tế Việt Nam, thu hút thêm đầu tư nước ngoài và thích nghi với biến đổi khí hậu, theo một bản tin trên một tờ báo Việt Nam.
Cuộc gặp diễn ra sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cảnh báo về một cuộc “đàn áp hàng loạt nhằm vào báo chí công dân ở Việt Nam”, và trong bối cảnh chính phủ Việt Nam bị phê phán vì cuộc tấn công nhằm vào các blog chính trị sau khi xuất hiện nhiều bài tường thuật phổ biến trên mạng về hàng loạt vụ bê bối kinh tế liên quan đến các đại gia có mối quan hệ gần gũi với Đảng Cộng sản cầm quyền.
Human Rights Watch, một tổ chức vận động cho nhân quyền, cảnh báo rằng chính phủ Việt Nam đàn áp “gần như tất cả mọi hình thức bất đồng chính kiến, bằng cách sử dụng một loạt biện pháp trấn áp”.
Tháng Ba năm nay, ông Blair bay sang Hà Nội lần thứ hai khi ông cam kết tiếp tục ủng hộ mối quan hệ giữa Việt Nam và EU, kể cả việc cố vấn về hợp tác công tư (PPP), điều mà ông từng cổ suý ở Anh khi còn là Thủ tướng.
Võ Văn Ái, nhà vận động cho nhân quyền người Việt Nam đang sống ở Paris, đã phê phán mạnh mẽ việc ông Blair hợp tác với chính phủ Việt Nam. Ông nói, cựu Thủ tướng Anh đang được sử dụng “như một công cụ tuyên truyền nhằm củng cố cho chế độ tham nhũng của Hà Nội”.
Công ty Government Advisory Practice cũng có một thương vụ cố vấn cho chính phủ Myanmar, mà phát ngôn viên của cựu Thủ tướng nói là “miễn phí” như “nhiều công việc khác của ông Blair”.
Tháng Sáu, ông Blair đã đàm phán với CY Leung, Trưởng Đặc khu Hành chính Hồng Kông.
Uy tín của ông Leung đã tụt dốc kể từ khi ông đảm nhiệm chức vụ vì một số vụ tai tiếng, trong đó có việc ông không khai báo toà nhà xây dựng bất hợp pháp trong khuôn viên một ngôi nhà của ông. Ông đã xin lỗi về vụ này và đổ lỗi cho tính hay quên.
Cuộc gặp của ông với ông Blair dường như có sự hiện diện của Caroline Wilson, Tổng Lãnh sự Anh tại Hồng Kông.
“Cuộc gặp gỡ tốt đẹp: Tony Blair & Trưởng Đặc khu Hồng Kông CY Leung thảo luận về những thách thức của một chính phủ hữu hiệu”, bà viết trên trang tiểu blog Twitter ngày 3.6.
Mấy ngày sau, vị cựu Thủ tướng lại bay sang Bucharest để ăn tối với Thủ tướng Romania Victor Ponta khi trên đường tới Israel, nơi ông đang thực hiện công việc của mình trong vai trò Đại diện của Bộ Tứ ở Trung Đông.
“Tôi có nhiều điều cần học hỏi từ ông ấy, một vị thủ tướng lớn của một quốc gia rất quan trọng và với một nền tảng văn hoá chính trị mà chúng tôi cần học hỏi nhiều”, ông Ponta nhận xét về ông Blair sau cuộc gặp.
Tháng trước, ông Blair được chào đón bằng các cuộc phản đối giận dữ khi ông phát biểu trong cuộc hội nghị diễn ra một ngày ở Bangkok.
Trước cuộc hội nghị, khi đề nghị giúp giảm bớt xung đột ở Thái Lan, vị cựu Thủ tướng đã có các cuộc trao đổi riêng với Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra.
Không rõ là các cuộc trao đổi này, cùng với các cuộc gặp gỡ ông Leung và ông Ponta, có liên quan đến Government Advisory Practice hay không.
Một hợp đồng riêng lẻ mà ông Blair ký với chính phủ Peru cũng sẽ tập trung vào việc hỗ trợ phát triển PPP và là hợp đồng thứ hai mà ông ký với một chính phủ Nam Mỹ.
Thương vụ này được hiểu là đã được ký kết vào tháng Giêng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thuỵ Sỹ, trong một cuộc gặp giữa ông Blair với một số nhân vật cấp cao của chính phủ Peru, có cả Bộ trưởng Tài chính Luis Miguel Castilla.
Nó sẽ củng cố sự hiện diện mà ông Blair đã có ở Nam Mỹ, với các nhóm chuyên gia tư vấn ở Brasil, nơi họ đang cố vấn cho bang Sao Paulo, và ở Colombia.
Ông Castilla nói là bên cạnh việc giúp chính phủ thiết lập thêm nhiều dự án PPP, nhóm của ông Blair còn hỗ trợ Peru đưa vào áp dụng chương trình “giáo dục kỹ thuật” tốt hơn nhằm giúp nâng cao chất lượng của lực lượng lao động ở đây.
Thương vụ được khẳng định sau khi ông Blair bay từ Colombia tới Lima trong tháng Năm cùng với Stephan Kriesel, trưởng bộ phận Government Advisory Practice.
Tiến sỹ Kriesel từng thực hiện công việc ở Lima trong vai trò cũ là chuyên viên cao cấp của McKinsey, một công ty tư vấn hoạt động khắp thế giới.
Ở Lima, ông Blair đã có cuộc gặp kéo dài 40 phút với Tổng thống Ollanta Humala, và cũng có bài phát biểu tại trường Đại học Peruana de Ciencias, một trường nằm trong mạng lưới đại học quốc tế Laureate của Mỹ (Laureate International Universities).
Trước đó, ông đã phát biểu tại năm trường đại học khác của mạng lưới đại học Laureate ở Đức, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil và Mexico.
Cùng với các cuộc gặp khác mà ông Blair tổ chức như một phần trong công việc cố vấn chính phủ đầy béo bở, các cuộc trao đổi với ông Humala cũng không được nhắc đến trên website chính thức của ông, website thuật lại chi tiết công việc của ông trong vai trò đại diện của Bộ Tứ cũng như hoạt động từ thiện của ông.
Không có sự đề cập nào đến Government Advisory Practice trên bất kỳ trang mạng nào của vị cựu Thủ tướng và các hợp đồng cụ thể của Công ty này cũng không được công bố.
Tuy vậy, Government Advisory Practice dường như đang phát triển nhanh chóng. Tháng Tư, Tony Blair Associates, được mô tả là tổ chức bao trùm lên các hoạt động kinh doanh của ông Blair, đã đăng một đoạn quảng cáo trên tạp chí The Economist để tìm kiếm nhân sự cho Government Advisory Practice ở Châu Á và Nam Mỹ.
Việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ông diễn ra sau khi ông Blair xuất hiện với vẻ thư thái trong một chuyến công tác đến Địa Trung Hải và ở trên một trong những chiếc du thuyền lớn nhất thế giới.
Đầu tiên, ông bay tới Sardinia trên một chiếc máy bay phản lực tư nhân rồi được chở bằng phà ra chiếc du thuyền dài 115m mang tên Pelorus, trước kia là của Roman Abramovich, ông chủ người Nga của CLB bóng đá Chelsea.
Chiếc du thuyền, với thuỷ thủ đoàn 46 người, nay thuộc sở hữu của David Geffen, một đại gia trong làng âm nhạc của Mỹ.
Siêu du thuyền Crazy Me, thuộc sở hữu của Naguib Sawiris, người giàu thứ hai ở Ai Cập.
Mấy ngày sau, ông Blair lại bị phát hiện ở St Tropez, nơi được biết đến như là sân chơi của các nhà tỷ phú và diễn viên. Ở đó, ông được một chiếc thuyền gắn động cơ chở ra chiếc siêu du thuyền Crazy Me, thuộc sở hữu của Naguib Sawiris, người giàu thứ hai ở Ai Cập.
Tuần trước, ông Sawiris, chủ tịch tập đoàn viễn thông Orascom, cho biết hai người đã thảo luận về cách thức khôi phục trật tự sau khi Tổng thống Mohammed Morsi bị lật đổ hồi tháng Bảy, tiếp sau cam kết gần đây của ông trùm là sẽ đầu tư hàng tỷ USD ở Ai Cập.
Ông Sawiris, người thành lập chính đảng thế tục Người Ai Cập Tự Do năm 2011, là một nhân vật gây tranh cãi ở Ai Cập và ngày 31.8 vừa qua đã khiến công chúng nổi giận khi khẳng định rằng nhà nước cần cấm các cuộc biểu tình trong hai năm “để chúng ta thở và để xây dựng đất nước của chúng ta”.
Chiếc du thuyền của ông dài 51m và có một bể bơi với đáy thuỷ tinh trên boong thượng.
Hôm thứ Sáu vừa qua, ông Blair phát biểu là ông “thất vọng” trước việc Ed Miliband (Chủ tịch Công đảng Anh, thủ lĩnh phe đối lập trong Quốc hội Anh) quyết định ngăn cản hành động quân sự chống lại chế độ của Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria. Những gì xẩy ra sau cuộc chiến tranh Iraq đã khiến nước Anh “do dự” khi can thiệp, ông nói thêm.
Một phát ngôn viên của ông Blair từ chối tiết lộ chi tiết các thương vụ của Government Advisory Practice. Ông nói: “Bộ phận cố vấn chính phủ của chúng tôi đang mở rộng và chúng tôi đang thảo luận với nhiều nước khác nhau.”

NGƯỜI TỐ CÁO LẠI BỊ KHỦNG BỐ, CƯỚP GIẬT

Kính thưa quý vị!

Khoảng 9h sáng ngày 7/9, vợ tôi, Lê Thị Phương Anh, lại bị hai trong số những tên vẫn rình rập, khủng bố suốt mấy năm qua cướp giật điện thoại. Buổi chiều cùng ngày, chúng tôi đã tới Công an Phường 5, Đông Hà, Quảng Trị để trình báo về vụ cướp giật.

Chúng tôi khẩn thiết đề nghị quý vị lên tiếng bảo vệ chúng tôi cũng như yêu cầu nhà chức trách phải trả lời về vụ tố cáo của chúng tôi, bởi nó liên quan đến vận mệnh của đất nước chúng ta: Những kẻ bị chúng tôi tố cáo (Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải – Nông Đức Mạnh) là những người đã và đang lãnh đạo đất nước; đặc biệt, ông Hoàng Trung Hải là một tên người Hán đã khai man lý lịch để chui sâu leo cao hòng phá hoại Việt Nam; việc ông ta khống chế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã biến hai ông này trở thành những tên Lê Chiêu Thống hiện đại, ngoan ngoãn làm theo chỉ đạo của Trung Nam Hải.
Mới đây, trên trang mạng của đài BBC có bài “Việt Nam sẽ bị cắt làm đôi nếu có sự cố hạt nhân”, và quý vị nghĩ sao nếu biết rằng PTT Hoàng Trung Hải chính là Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Nhà máy Điện Hạt nhân Ninh Thuận. Đó chỉ là một trong rất nhiều thảm hoạ mà tên gián điệp lợi hại nhất trong lịch sử này có thể gây ra cho đất nước chúng ta. Suốt mười mấy năm nay, ông Hoàng Trung Hải là người khuynh loát ngành điện Việt Nam (hiện nay hầu hết các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, đặc biệt là dự án điện, đều nhờ ông bàn tay ảo thuật của ông Hoàng Trung Hải mà rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc), và sự cố mất điện toàn miền Nam ngày 22.5 vừa qua là một lời cảnh báo cho thấy an ninh năng lượng nói riêng và an ninh quốc gia của Việt Nam nói chung đang nằm trong tay ai.

Xin trân trọng cám ơn quý vị!

Quảng Trị, ngày 8/9/2013

Lê Anh Hùng



Lê Thị Phương Anh đang trình báo về vụ cướp giật tại trụ sở Công an Phường 5, Đông Hà, Quảng Trị
chiều ngày 7.9.2013.

Bức thư này đã được gửi ngày 8.9.2013 đến các địa chỉ sau đây:

Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam <webmaster@qh.gov.vn>; Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ <thucongdan@chinhphu.vn>; Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam    <mttqvn@mattran.org.vn>; Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao <htqt@vks.gov.vn>; Toà án Nhân dân Tối cao <tatc@toaan.gov.vn>; Hộp thư Tố giác Tội phạm - Bộ Công An    <togiactoipham@canhsat.vn>; Đài Truyền Hình Việt Nam  <thoisuvtv@vtv.vn>; Đài Tiếng Nói Việt Nam <toasoan@vovnews.vn>; Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam    <dangcongsan@cpv.org.vn>; Báo Nhân Dân <nhandandientu@nhandan.org.vn>; Báo Quân Đội Nhân Dân <dientubqd@gmail.com>; Báo Thanh Tra <thanhtradientu@thanhtra.com.vn>; Tạp chí Tuyên Giáo – Ban Tuyên giáo TW <tctg@tuyengiao.vn>; Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương    <thiduakt@thiduakhenthuongvn.org.vn>; Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng <xttm@ckt.gov.vn>; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam  <tttt@hoilhpn.org.vn>; Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam <thongtin@vusta.vn>; Hội Nông Dân Việt Nam <tonghophnd@gmail.com>; Hội Nhà báo Việt Nam <hnbvietnam@gmail.com>; Hội Nhà văn Việt Nam <vanvn.net@gmail.com>; Hội Sinh viên Việt Nam <hoisinhvien@hsvvn.vn>; Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam <vnf-unesco@fpt.vn>; Thành Đoàn Hà Nội  <hanoituoitre@gmail.com>; Ban Thư ký - Thông Tấn Xã Việt Nam    <btk@vnanet.vn>; Báo Bảo Vệ Pháp Luật - Viện KSND Tối cao <baovephapluat_vksndtc@yahoo.com>; Báo Công Lý - Toà án ND Tối cao    <baocongly@fpt.vn>; Báo Công An Nhân Dân  <candonline@gmail.com>; Báo An Ninh Thủ Đô <antdonline@anninhthudo.vn>; Báo Biên Phòng    <banthukybaobp@gmail.com>; Báo Đại Đoàn Kết <toasoan@baodaidoanket.com.vn>; Báo Cựu Chiến Binh Việt Nam    <ccbvietnamdientu@gmail.com>; Báo Hà Nội Mới <webmaster@hanoimoi.com.vn>; Báo Sài Gòn Giải Phóng <sggponline@sggp.org.vn>; Báo Tuổi Trẻ    <toasoan@tuoitre.com.vn>; Báo Tiền Phong <online@tienphong.vn>; Công Báo <info@congbao.vn>; Tạp chí Quản Lý Nhà Nước    <tcquanlynn@yahoo.com.vn>; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng QH <nclp@qh.gov.vn>; Tạp chí Truyền Hình - Đài THVN    <tapchith@vtv.org.vn>; Tạp chí Nhà Văn <tapchinhavanhnv@gmail.com>; Tạp chí Quốc phòng Toàn dân <quocphongtoandan@viettel.vn>; Tạp chí Thế Giới Phụ Nữ    <admin@thegioiphunu-pnvn.com.vn>; Thời báo Kinh Tế Việt Nam <vneconomy.vn@gmail.com>; Thời báo Kinh Tế Sài Gòn  <sgt@thesaigontimes.vn>; Báo Công Thương <congthuongonline@gmail.com>; Báo Đầu Tư <baodautu.vn@gmail.com>; Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp <baodientu@dddn.com.vn>; Báo Đất Việt <datviet108@gmail.com>; Báo điện tử Vietnamnet    <tuanvietnam@vietnamnet.vn>; Báo điện tử VnExpress    <webmaster@VnExpress.net>; Báo điện tử Dân Trí <info@dantri.com.vn>; Báo Giao Thông Vận Tải <baogiaothong@fpt.vn>; Báo Giáo Dục & Thời Đại    <gdtddientu@gmail.com>; Báo Phụ Nữ Tp HCM <toasoan@baophunu.org.vn>; Báo Du Lịch <baodulichdientu@gmail.com>; Báo Khoa Học & Đời Sống <tkts@bee.net.vn>; Báo Kinh Tế Nông Thôn <hungktnt@gmail.com>; Báo Lao Động <toasoan@laodong.com.vn>; Báo Người Lao Động <online@nld.com.vn>; Báo Nông Nghiệp Việt Nam <baonnvn@hn.vnn.vn>; Báo Nông Thôn Ngày Nay <baodanviet@gmail.com>; Báo Pháp Luật Tp HCM  <baophapluat@phapluattp.vn>; Báo Sài Gòn Tiếp Thị <sgtt@sgtt.com.vn>; Báo Thể Thao & Văn Hoá <ttvhonline@thethaovanhoa.vn>; Báo Thế Giới & Việt Nam    <webmaster@tgvn.com.vn>; Báo Tin Tức <toasoantintuc@gmail.com>; Báo Văn Hoá    <baovanhoa@fpt.vn>; Báo Tài nguyên & Môi trường <baotainguyenmoitruong@gmail.com>; Báo Vietnamnews <vnnews@vnagency.com.vn>; Đài VOA <VOAbanlambao@gmail.com>; Báo Việt ngữ - Đài BBC    <vietnamese@bbc.co.uk>; Đài Á Châu Tự Do <vietweb@rfa.org>; Nhóm nữ nghị sỹ Việt Nam <nnsvn@qh.gov.vn>; Trang mạng Bauxite Vietnam <bauxitevn@gmail.com>; Blog Nguyễn Tường Thuỵ <tuongthuy52@gmail.com>; blog Nguyễn Xuân Diện <lamkhanghn@yahoo.com.vn>; Blog Phạm Viết Đào <Thuykhue40@gmail.com>; Thông Luận <info@ethongluan.org>; Blog Anh Ba Sàm <basamvietnam@gmail.com>; VANGANH.INFO <vanganh.contact@gmail.com>; Dân Làm Báo <lienlacdanlambao@gmail.com>; Radio Chân Trời Mới <lienlac@radiochantroimoi.com>; Chương trình Từ Cánh Đồng Mây <theheviet@verizon.net>; Đàn Chim Việt <bbt.danchimviet@gmail.com>; Quan Làm Báo <vualambao@gmail.com>; Báo Người Việt <news@nguoi-viet.com>; ĐBQH - nhà sử học Dương Trung Quốc <quocxuanay@yahoo.com>; Đại biểu QH Trần Hoàng Ngân <ngannh@ueh.edu.vn>; Đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa <nghia.truong@ykvn-law.com>; GS Chu Hảo <haochu2008@gmail.com>; PGS.TS Hồ Uy Liêm <houyliem@vusta.vn>; TS Lê Đăng Doanh <ledangdoanh@gmail.com>; Ông Vũ Quốc Tuấn <tuanvuquoc@gmail.com>; nhà báo Trần Đăng Tuấn <trandangtuanvfc@yahoo.com>; Ông Nguyễn Trung <nguyentrungvt@gmail.com>, Ông Bùi Đức Lại <buiduclai@yahoo.com.vn>; Bà Phạm Chi Lan <phamchilan@gmail.com>; VDK LAW OFFICE <vdklawyer@rogers.com>; Nhà báo Tống Văn Công <vcongtong@gmail.com>, Thiếu tướng Lê Văn Cương <tuanla295@gmail.com>, GS Tương Lai <tnglai@gmail.com>; nhà văn Phạm Đình Trọng <phamdinhtrong2006@yahoo.com.vn>; GS Đặng Vũ Minh <gsdangvuminh@yahoo.com.vn>

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

ASEAN nên bác bỏ bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông

James R. Holmes | The Diplomat | 5.9.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng


Các nước ASEAN hãy cẩn thận! Ý tôi là về một bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông. Bộ quy tắc ứng xử duy nhất đáng có là bộ quy tắc mà theo đó Trung Quốc (i) từ bỏ đường lưỡi bò cùng những yêu sách lãnh thổ liên quan, (ii) nói đi đôi với làm bằng cách rút lui khỏi những khu vực mà họ đã xâm phạm trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác, (iii) thôi khăng khăng đòi cấm một số hoạt động hải quân của nước ngoài trong phạm vi đường lưỡi bò, và (iv) đồng ý rằng mục đích của bất kỳ bộ quy tắc ứng xử nào cũng đều nhằm khẳng định Công ước LHQ về Luật Biển như là điều kiện hiện thời của khu vực.

Liệu có ai đó muốn đặt cược vào khả năng Bắc Kinh sẽ thực hiện bất cứ điều nào trong số những điều trên đây hay không? Tôi thì không đâu đấy. Tất cả những điều trên ư? Hãy quên chuyện đó đi nhé. Nếu ASEAN đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử theo bất kỳ cách nào thì trước đấy họ đã đồng ý về hiện trạng, kể cả việc Trung Quốc chiếm đóng bãi cạn Scarborough và đá Vành Khăn, vốn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Các nước Đông Nam Á trước đó đã đồng ý với một băng bảo kê cho toàn khu vực, với hy vọng rằng nếu để cho Trung Quốc giữ được những thành quả trong quá khứ thì sẽ mua được sự kiềm chế và thiện chí của họ trong tương lai.
Chúc cho sự thành công của ý tưởng đó. Đúng hơn là nó cứ như thể một kẻ ít tốt bụng và hoà nhã hơn tôi lại chỉa súng vào bạn và đòi bạn phải chi tiền để bảo vệ bạn khỏi sự xâm hại của… tôi. Những cuộc mặc cả với gia đình mafia như thế hiếm khi thành công trong các bộ phim về xã hội đen. Cuộc sống mô phỏng nghệ thuật trong trường hợp này. Đối tác bổ trợ trong quan hệ quốc tế là khái niệm mà các học giả vẫn dành cho từ “bandwagoning”[i]. Những quốc gia yếu thế vẫn ưa bắt tay với nhau để đối trọng với những quốc gia lớn mạnh và lấn lướt vẫn nhăm nhăm chà đạp lên lợi ích và an ninh của họ. Song nếu những quốc gia yếu thế không thể đối trọng nổi với một quốc gia bá chủ trong tương lai thì họ lại có thể xuôi theo cường quốc đó. Họ đồng ý với những đòi hỏi của quốc gia bá chủ kia với hy vọng mua được hoà bình trong khi giữ được càng nhiều chủ quyền và duy trì được càng nhiều lợi ích quốc gia càng tốt.
Vấn đề ở đây là, những dàn xếp kiểu như thế lại có thể đổ bể. Chúng chỉ tồn tại cho đến khi gia đình mafia kia quyết định là nó cần thêm nữa. Lúc này, những kẻ bảo kê sẽ đòi hỏi thêm. Thiết tưởng không cần phải nói rằng cái giá của sự bảo kê luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian.
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario là người hiểu được những lực lượng đang vận động trên Biển Đông. “Chúng tôi nghĩ Trung Quốc đang tìm cách vượt lên trước COC”, del Rosario nói với Reuters tuần này. COC sẽ nhìn về phía trước trong một nỗ lực nhằm tháo ngòi cho những tranh cãi trong tương lai, chứ không phải nhìn lại phía sau để đảo ngược những vi phạm trong quá khứ. Chính vì thế mà Bắc Kinh đang thúc đẩy một “nghị trình khẳng định”. Họ sẽ chiếm những gì mà họ có thể, rồi đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử giúp đảm bảo rằng họ có thể giữ những gì mà họ vừa chiếm được. Điều này đã trở thành thông lệ mới.
Tiền lệ của việc sử dụng luật pháp hay công ước quốc tế để củng cố thành quả quốc gia thì không hề thiếu. Học giả người Anh Ken Booth thuật lại rằng các quốc gia biển từng tranh giành lãnh thổ trong những năm 1970 và đầu thập niên 1980, trong khi họ đang đàm phán về UNCLOS. Và người ta nghi ngờ rằng đó mới là lần đầu tiên các quốc gia làm xiếc với luật pháp quốc tế theo kiểu như thế.
Vậy nên Manila đã đúng khi lớn tiếng phản đối nghị trình của Bắc Kinh. Bố già Tập Cận Bình cùng gia đình mafia của ông ta là hạng chỉ biết đòi hỏi mà không biết nhượng bộ. Nếu họ không để cho những từ ngữ rõ ràng của một hiệp ước – một công ước mà Trung Quốc đã chuẩn thuận – kiềm chế tham vọng của mình thì tại sao lại kỳ vọng một bộ quy tắc ứng xử sẽ làm được điều đó? Hãy cẩn thận với trò bandwagoning, hỡi các bạn ASEAN, trừ khi các bạn đã sẵn sàng đáp ứng ngay lập tức tất cả những gì mà Trung Quốc đòi hỏi – hết lần này đến lần khác.





[i] Trong quan hệ quốc tế, bandwagoning xẩy ra khi một nước xuôi theo một nước thù nghịch và mạnh hơn, đồng thời nhượng bộ cho quốc gia thù nghịch và mạnh hơn mà nay đã trở thành đối tác đó phần lợi lớn hơn bất tương xứng trong thành quả chung. Bandwagoning vì thế là một chiến lược mà các nước yếu thế hơn vận dụng. Logic ở đây là quốc gia yếu thế hơn nên xuôi theo quốc gia thù nghịch và mạnh hơn bởi dù sao quốc gia thù nghịch và mạnh hơn ấy cũng có thể đạt được những gì mà họ muốn bằng vũ lực. (ND)

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

TPP: Sự cần thiết đối với Việt Nam

David Brown | Asia Sentinel | 2.9.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng



Hà Nội rất cần đến hiệp định thương mại toàn diện này nhưng Washington sẽ đưa ra nhiều đòi hỏi khó khăn


Sự thịnh vượng của một khu vực phụ thuộc nhiều vào kết quả của các cuộc đàm phán thương mại đa phương, cho dù chúng không phải là loại sự kiện khiến người ta phải hồi hộp. Minh chứng ở đây là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP): 12 quốc gia vốn rất khác biệt gặp nhau ở Brunei từ ngày 23 đến 30.8 để tiến hành vòng đàm phán thứ 19, và rồi tin tức duy nhất sau một tuần nỗ lực khác là họ lại lần nữa trì hoãn việc đưa ra quyết định.

Sẽ không có một hiệp định nào cho các vị nguyên thủ quốc gia ký vào tháng Mười tới đây cả. Liệu đấy có phải là dấu hiệu xấu, nếu bạn là một thương nhân tự do? Một dấu hiệu tốt, nếu bạn là một người theo chủ nghĩa bảo hộ (protectionist) hay nằm trong số những người vẫn coi “toàn cầu hoá” là một từ bẩn thỉu? Hay đây chỉ là một bằng chứng cho thấy rằng những chính phủ vẫn đang giám sát đến 40% số của cải trên toàn thế giới sẽ dành bất cứ thời lượng nào để làm cho ra nhẽ thứ mà Washington gọi là “hiệp định thương mại thế kỷ 21” đầu tiên của thế giới?

12 quốc gia này quả là một nhóm khập khiểng và bất đối xứng. Chile, Peru và Mexico. Hoa Kỳ và Canada. Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam. New Zealand và Australia. Rồi giờ là cả Nhật Bản, nhưng đáng chú ý là sự thiếu vắng của cả Hàn Quốc lẫn Trung Quốc. 12 nước tham gia đàm phán, người ta nói vậy, bởi cách thức duy nhất để thuyết phục một đối tác cụ thể như Washington mở cửa thị trường hơn nữa cho những hàng hoá mà họ sản xuất tiến vào là đáp ứng đòi hỏi của những ngành công nghiệp thâm dụng tri thức ở Hoa Kỳ – ngân hàng, bảo hiểm, tài chính, viễn thông, dược phẩm, giải trí – để đổi lấy cơ hội tiếp cận bình đẳng tới các thị trường nước ngoài và sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Đây là vấn đề phức tạp và thực sự đòi hỏi tri thức chuyên sâu, điều chưa hề làm nản lòng các nhà phân tích chính sách khiến họ khỏi đưa ra những giải thích khác nhau. Hai nỗ lực nổi bật trong phạm vi 20.000 từ nằm ở đây và ở đây.

Một cách khác để hiểu được những kịch bản cố hữu trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương là xem xét cuộc đàm phán từ góc độ quốc gia – chẳng hạn như từ phía Việt Nam. Tại sao một nước vừa mới thoát ra khỏi ranh giới nghèo đói lại khát khao chạy đua với những gã khổng lồ?

Theo quan điểm của một số nhà phân tích – chẳng hạn như Greg Rushford (“Báo cáo Rushford” là một tài liệu mà các nhà vận động hành lang chính sách thương mại ở Washington không thể bỏ qua được) – đối với Việt Nam, chuyện này chỉ là về dệt may và da giày mà thôi. Kể từ khi vứt bỏ chủ nghĩa xã hội cách đây hai mươi lăm năm, Việt Nam đã tạo được một ngách thị trường chắc chắn ở Mỹ với các sản phẩm xuất khẩu là áo sơ mi, giày thể thao, v.v.

Dệt may và da giày là những ngành thâm dụng lao động và liên tục chiếm khoảng 20% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Chúng bắt đầu tiến ra thị trường thế giới những năm 1990, bởi theo chương trình quota của EU và Hoa Kỳ lúc đó thì các sản phẩm dệt may và da giày xuất khẩu của Trung Quốc bị khống chế số lượng. Một số dây chuyền sản phẩm cuối cùng được chuyển sang Việt Nam để khai thác lợi thế quota ở đây. Những nhà máy này là làn sóng đầu tiên của chính sách công nghiệp hoá lấy xuất khẩu làm động lực của Việt Nam. Chúng hoạt động hiệu quả đến mức vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chế độ quota chấm dứt và thực sự giành được thị trường.

Những sản phẩm chuyên môn hoá được các nhà bán lẻ cung cấp; họ cũng thu xếp nguồn cung cho các loại vải, da, chỉ, dây khoá kéo, cúc… chủ yếu là từ Trung Quốc; sản phẩm được gia công trong các nhà máy sử dụng nhân công giá rẻ ở Việt Nam rồi sau khi hoàn tất vận chuyển tới Hoa Kỳ, EU hay Nhật Bản. Cạnh tranh diễn ra khốc liệt.

Vài năm trước, Việt Nam được ca ngợi như một “Trung Quốc tương lai”. Người ta kháo nhau là các nhà sản xuất dệt may và da giày ở Quảng Đông sắp sửa chuyển hàng loạt sang Việt Nam, trước sự cuốn hút của mức chi phí nhân công chỉ bằng 30% ở Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đó đã không xẩy ra. Với công việc cắt may, hoá ra là lực lượng lao động thậm chí còn rẻ hơn lại sẵn có ở Campuchia, Bangladesh hay Myanmar, địa chỉ ưa thích mới. Với mọi thứ còn lại, các nhà máy ở Trung Quốc đơn giản là hoạt động hiệu quả hơn.

Các nhà sản xuất theo đơn hàng ở Việt Nam phải chịu áp lực cắt giảm lương rất lớn. Công nhân thì vẫn không ngừng đòi hỏi lương thưởng cao hơn, trong khi chỉ một số ít chủ nhà máy dệt may hay da giày là có khả năng đầu tư vào những máy móc thiết bị hiệu quả hơn. Đối với họ, TPP giống như chiếc phao cứu sinh. Hà Nội nhận thấy cơ hội khác thường để mở rộng thị phần của mình trong thị trường trang phục thể thao mênh mông của Mỹ mà kẻ chịu thiệt hại là Trung Quốc – tức là, nếu Washington hợp tác.

K-Mart và Wal-Mart, Nike và Levi Strauss, cũng như các nhà bán lẻ khác vẫn tìm nguồn hàng từ nước ngoài đang thúc đẩy các nhà đàm phán thương mại Hoa Kỳ trở nên hữu ích. Các công ty vẫn đang quay sợi bông ở Mỹ thì lại không. Họ đang gây áp lực rất lớn lên Washington là đòi duy trì một hệ thống gọi là “yarn forward”[i] và giữ nguyên chế độ bảo hộ thuế quan đối với ngành dệt may của Hoa Kỳ, hiện đánh thuế bình quân 17% lên hàng hoá của Việt Nam. Tương tự, các nhà sản xuất giày cuối cùng của Mỹ cũng đang gây sức ép đòi duy trì thuế suất nhập khẩu từ 11 đến 70%.

Nguyên tắc “yarn forward” đòi hỏi mọi công đoạn của quy trình sản xuất một sản phẩm dệt may phải diễn ra hoặc ở Hoa Kỳ hoặc ở mối đối tác thương mại được hưởng quy chế ưu đãi, chẳng hạn, nếu TPP có hiệu lực, như ở Việt Nam hay các thành viên TPP khác. Ngay cả một mẩu thành phần ngoài TPP cũng khiến cho sản phẩm may mặc đó không còn đủ điều kiện để hưởng thuế suất 0% nữa. Yêu cầu “yarn forward” sẽ phá vỡ các chuỗi giá trị vẫn cung ứng vải, da, chỉ, dây khoá kéo, cúc… của Trung Quốc cho các nhà máy gia công ở Đồng bằng Sông Hồng và vùng ngoại ô Tp Hồ Chí Minh. Các nhà đàm phán Việt Nam phản đối rằng “yarn forward” là điều khoản khiến đàm phán bế tắc. Nhưng, nếu tin đã được tiết lộ trên truyền thông Việt Nam là chính xác thì bên Việt Nam đã được Washington đống ý đến một giai đoạn điều chỉnh kéo dài 3 năm. Và nếu Việt Nam nhanh nhạy thì đó là tất cả những gì mà họ cần để được chén bữa ăn trưa của Quảng Đông.

Trong kịch bản này, trớ trêu thay, những người được hưởng lợi lại không phải là các nhà sản xuất sợi của Mỹ mà lại là những doanh nhân Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc có thể đã cấp tập di chuyển các nhà máy sản xuất chỉ, vải, cúc và khoá kéo vào Việt Nam, trước sự khích lệ từ các khách hàng Mỹ của mình. Nếu không có gì thay đổi, thu nhập từ xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng lên rất lớn. Viện Peterson (Peterson Institute) dự đoán, đến năm 2025 Việt Nam sẽ giàu có hơn 14% so với mức độ nếu họ không tham gia TPP. Đó là trừ khi Trung Quốc cũng tham gia TPP, không phải là một triển vọng trong tương lai gần nhưng cũng không phải là điều mà người ta không thể nghĩ tới. Thiết tưởng không cần phải nói thêm ở đây rằng các nhà phân tích thương mại thống nhất là trong số 12 nước đang tham gia đàm phán, Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhiều nhất từ sự ra đời của TPP.

“Chẳng có bữa ăn trưa miễn phí nào cả”

Theo các nhà phân tích, Việt Nam được chào đón vào TPP chính xác là vì họ không phải là Trung Quốc. Họ lập luận rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận những “nguyên tắc” cơ bản của hiệp định thế kỷ 21 này: một sân chơi bình đẳng cho các chủ thể trong và ngoài nước, việc thực thi chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ, các nghiệp đoàn tự chủ, quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa sự vụ ra một ban trọng tài quốc tế để phán xét Bắc Kinh nếu nhà đầu tư đó tin rằng quyền lợi của mình đã bị tổn hại.

Một số người phỏng chừng rằng TPP, giống như phần còn lại trong chiến lược “xoay trục” của Hoa Kỳ, là nhằm kiềm toả siêu cường đang nổi lên đầy quyết đoán kia. Một cách lý giải tinh tế hơn ở đây cũng có cơ sở: với Việt Nam như một đại diện biết phục tùng, Washington muốn cho Bắc Kinh thấy điều gì là khả dĩ nếu họ lựa chọn hợp tác thay vì đối đầu.

Bất kể theo cách lý giải nào người ta cũng có lý do để băn khoăn là không biết liệu Việt Nam có sẵn sàng tiến tới các nguyên tắc kia hay không, liệu Việt Nam có thực sự đủ năng lực chính trị hay năng lực hành chính để san bằng sân chơi cho các nhà đầu tư nước ngoài hay không.

Hệ thống kinh doanh của Việt Nam chỉ là bán tự do, và chính ở đây có một trở ngại. Suốt hai thập niên, các nhà cải cách kinh tế và những kẻ dàn xếp quyền lực khục khặc với nhau. Bên cạnh một khu vực kinh tế tư nhân năng động và định hướng xuất khẩu thì khu vực DNNN vẫn chi phối nền kinh tế nội địa của Việt Nam. Khu vực DNNN khai thác 60% tổng tài sản quốc gia nhưng lại chỉ sản xuất ra được 40% của cải. Được Ngân hàng Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) khích lệ, các nhà cải cách khao khát chia tách và tư nhân hoá các DNNN, nhưng họ thường xuyên phải thất vọng trước liên minh mật thiết giữa giới quan chức cùng các chiến hữu trong khu vực DNNN.

Một số người phỏng đoán rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chính phủ của ông muốn đưa Việt Nam tham gia vào TPP chính xác là vì điều đó cho phép họ khắc chế được phe cánh muốn duy trì hiện trạng trong Đảng CS cầm quyền và ép buộc những thiết chế thủ cựu phải thay đổi. Điều đó có thể đúng; đây không phải là chuyện dễ dàng gì. Cái giá mà Việt Nam phải trả để được tham gia TPP là những cam kết hết sức khó thực thi. Đó là:
  • Một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hà Nội sẽ phải chấm dứt việc dành cho các DNNN cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng, nguồn tài trợ dưới chuẩn thị trường, ưu đãi thuế, vốn bổ sung, những ưu đãi mua sắm công và những lợi thế khác khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài bị bất lợi về cạnh tranh.
  • Xoá bỏ thuế suất nhập khẩu hiện ở mức bình quân gần 10% xuống 0% đối với hàng hoá của các đối tác TPP. Áp đặt mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ. Các doanh nhân Việt Nam có đầu óc kinh doanh vẫn thản nhiên sao chép và bán lại bất kể thứ gì mà họ thấy hợp với mình, trong khi những luật lệ về bảo hộ bản quyền và patent lại không được thực thi. Đó là một thông lệ thực sự gây khó khăn cho các ngành công nghiệp âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, phần mềm và dược phẩm của Mỹ.
  • Quyền tự chủ cho các nghiệp đoàn. Các nghiệp đoàn lao động của Việt Nam và tất cả các tổ chức dân sự khác là những công cụ kiểm soát của nhà nước. Quyền thương lượng tập thể với giới chủ cũng như quyền đình công bị giới hạn. Tuy nhiên, TPP sẽ đòi hỏi các thành viên phải đáp ứng các chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Bảo vệ môi trường. TPP sẽ đòi hỏi Việt Nam phải trấn áp nạn buôn bán các loài động thực vật đang bị đe doạ tuyệt chủng.
  • Giải quyết tranh chấp doanh nhiệp - nhà nước. Bản dự thảo TPP sẽ cho phép những doanh nghiệp nước ngoài nào tin rằng hành động của chính phủ – kể cả những chuẩn mực bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng đã được cải thiện – đã gây tổn hại đến vị thế cạnh tranh mình được quyền yêu cầu trọng tài quốc tế phân xử. Australia kiên quyết chống lại điều khoản này, vì thế họ có thể sẽ không xuất hiện trong bản thảo cuối cùng.
  • Tôn trọng nhân quyềnNgoài việc yêu cầu các thành viên tôn trọng quyền tự do của lao động để tổ chức và thương lượng tập thể, TPP sẽ không xử lý thông lệ nhân quyền của các thành viên. Tuy nhiên, một nhóm ngày càng đông dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ lại có cái nhìn tiêu cực về cách thức Hà Nội vẫn đối xử với những người bất đồng chính kiến và có thể nêu những hạn chế về tự do ngôn luận như một lý do để phản đối việc phê chuẩn TPP, hoặc thay vì thế, để loại trừ Việt Nam.

Sáu năm trước, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được ca ngợi như một bước đi đảm bảo cho sự cạnh tranh thành công của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu. Điều đó đã không hoàn toàn diễn ra như thế. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đã ồ ạt đổ vào Việt Nam như kỳ vọng, song quá nhiều dòng tiền lại được chuyển hướng sang các DNNN để rồi chúng lại vung vãi vào các dự án đầu cơ.

Sau hai cơn lạm phát mạnh mẽ và một nỗ lực vô vọng hòng duy trì tốc độ tăng trưởng cao trước ảnh hưởng của cuộc suy thoái toàn cầu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài mới đã cạn kiệt và nền kinh tế Việt Nam lâm vào suy thoái. Chính phủ rốt cuộc thắt chặt tín dụng vào năm 2011, điều này tránh thêm nhiều vụ vỡ nợ nhưng lại khiến cho khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam rơi vào tình cảnh thiếu hụt nguồn vốn mà nó cần để hưởng lợi từ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu. Giờ đây các nhà tư bản nội địa đoản vốn của Việt Nam vẫn đang phải vật lộn trong khi, trớ trêu thay, khu vực đầu tư nước ngoài lại đang bùng nổ.

Như vậy, bên cạnh việc phải ứng phó với sự kháng cự của những thành phần thủ cựu trong bộ máy, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn phải đương đầu với sự hoài nghi rằng TPP sẽ không đáp ứng được những kỳ vọng mà người ta đã quảng bá từ trước. Phần lớn các chuyên gia kinh tế và doanh nhân Việt Nam sẽ vui mừng khi được chứng kiến những cải cách mà hiệp định TPP bắt buộc song lại nghi ngờ rằng chúng sẽ được hiện thực hoá. Đồng thời, ý thức rõ về những rào cản mà người Mỹ nặn ra để hạn chế tôm và cá da trơn nhập khẩu của Việt Nam, họ cũng băn khoăn là không biết liệu cụ thể ở đây là Hoa Kỳ có thực hiện đúng những cam kết mở cửa thị trường của mình hay không.

Bất chấp những nghi ngại, dường như Hà Nội đã quyết tâm hướng về phía trước. Những bài bình luận trên các phương tiện truyền thông gần gũi với chế độ thừa nhận những thách thức nhưng đồng thời cũng bày tỏ niềm lạc quan. “Hiệp định TPP là một sân chơi tốt để những nền kinh tế như chúng ta thúc đẩy sự phát triển của những lĩnh vực then chốt như dệt may, da giày và nông sản”, Đài Tiếng nói Việt Nam nhận định. “Sau khi chúng ta tham gia hiệp định, dòng hàng hoá và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ đổ vào Việt Nam, đem lại động lực mới để đất nước tăng trưởng mạnh hơn.” Và, nhiều người hy vọng, động lực để cải cách mạnh hơn nữa.
  • David Brown là quan chức ngoại giao hồi hưu của Mỹ, người chuyên về Đông Nam Á và đặc biệt lưu ý đến những vấn đề của Việt Nam





[i] Tạm dịch: tính từ sợi. Đây là nguyên tắc xuất xứ hàng hoá cơ bản của ngành dệt may trong Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA – gồm Hoa Kỳ, Canada và Mexico). Điều này có nghĩa là sợi để sản xuất ra vải, thứ sau đó có thể được sử dụng để sản xuất quần áo hay các mặt hàng dệt may khác, phải có nguồn gốc từ một nước thuộc NAFTA thì sản phẩm dệt may ấy mới được coi là có nguồn gốc từ nước thuốc NAFTA đó. Như vậy, một chiếc áo sơ mi sản xuất ở Canada từ vải dệt ở Canada mà sợi len (wool yarn) dệt vải lại do Argentina sản xuất thì chiếc áo đó sẽ không được coi là có xuất xứ từ một nước thuộc NAFTA. Tuy nhiên, nếu sợi bông Argentina được nhập khẩu vào Canada và cuốn thành sợi len ở đây rồi được dùng để dệt vải thì chiếc áo sơ mi đó sẽ được coi là có xuất xứ từ Canada. (ND)

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

CNN: Các tổ chức nhân quyền chỉ trích những quy định mới về Internet của Việt Nam

Peter Shadbolt | CNN | 2.9.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng




Các tổ chức nhân quyền nói những quy định Internet
là nhằm trấn áp những người bất đồng chính kiến
(CNN) – Một văn bản pháp luật tai tiếng hòng ngăn chặn người sử dụng Internet ở Việt Nam chia sẻ thông tin báo chí đã nhận được sự chỉ trích từ các tổ chức bảo vệ nhân quyền hôm thứ Ba tuần trước;  họ cho rằng mục đích của nghị định đó là nhằm trấn áp giới bất đồng chính kiến ở quốc gia cộng sản độc đảng này.
Văn bản pháp luật mới, gọi là Nghị định 72/2013/NĐ-CP, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.9, không chỉ giới hạn các blog và các trang mạng xã hội trong phạm vi trao đổi “thông tin cá nhân” – nội dung ban đầu do người sử dụng soạn ra – mà còn đòi hỏi các công ty Internet nước ngoài phải đặt máy chủ ở Việt Nam.
Mặc dù chính phủ Việt Nam bảo vệ Nghị định 72 bằng cách khẳng định mục đích của nó là nhằm ngăn chặn việc phát tán sở hữu trí tuệ bất hợp pháp, song những người chỉ trích vẫn nói rằng văn bản pháp luật này – đồng thời cũng ngăn cấm việc đăng tải những nội dung “gây phương hại đến an ninh quốc gia” – là một bằng chứng mới về chính sách đàn áp mà Hà Nội nhằm vào Internet.
Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) cho biết 35 blogger và công dân mạng hiện đang bị giam giữ ở Việt Nam với các cáo buộc chống phá nhà nước, một số người bị tuyên án tới 13 năm tù giam.
“Đây là cái cách mà chính phủ Việt Nam nhảy bổ vào đầu đám đông về kiểm duyệt mạng ở Đông Nam Á”, Phil Robertson (Human Rights Watch) nói với CNN.
“Việc chính phủ Việt Nam sẽ hình sự hoá hành vi chia sẻ thông tin và các đường link bằng cách đòi hỏi các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến chỉ được đăng tải những nội dung do chính mình sáng tạo quả là là một bước nhảy vọt.”
Ông nhận xét, chính phủ Việt Nam rõ ràng là đang phải hứng chịu sự chỉ trích nặng nề của dân chúng trên mạng.
“Đây quả là sự phản công của một đế chế”, ông bình luận, đồng thời bổ sung thêm là mặc dù chính phủ không thể giám sát từng trang Facebook song họ lại nắm được danh sách các nhà hoạt động tên tuổi, những người có thể sẽ bị tăng cường giám sát.
Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử Hoàng Vĩnh Bảo phát biểu với truyền thông nhà nước Việt Nam tháng trước rằng nghị định sẽ không hạn chế tự do báo chí hay tiếng nói của những người sử dụng truyền thông xã hội mà chỉ nhằm vào những ai “gây nguy hại cho sự thống nhất quốc gia”.
Tháng trước, một bài viết đăng trên Nhân Dân, tờ báo chính thống của Việt Nam, đã bảo vệ các quy định mới này và nói rằng chúng nhằm vào những ai sử dụng truyền thông xã hội để “bôi nhọ uy tín và danh dự của người khác” và “kích động thái độ thù địch chính quyền”.
“Chính phủ đang ra cố làm ra vẻ rằng nghị định này không phải chủ yếu nhằm vào những người bất đồng chính kiến, đấy là lý do vì sao họ tuôn ra đủ kiểu biện bạch, kể cả chiêu bài bảo vệ sở hữu trí tuệ”, Robertson nói.
Nghị định 72 xuất hiện trong bối cảnh Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng chưa có tiền lệ trong lĩnh vực Internet, với 34% trong tổng số 90 triệu dân sử dụng Internet.
Không giống như Trung Quốc, nước đã đặt các trang mạng kết nối xã hội như Facebook và YouTube ra ngoài “Vạn lý Tường lửa Trung Quốc”, cái tên mà nhiều người biết đến, các nhà phân tích nói Việt Nam đang bám đuổi người láng giềng phương Bắc với chính sách trấn áp của mình.
“Internet Tiếng Việt đã thực sự trở thành một siêu xa lộ về chia sẻ thông tin”, Robertson nói với CNN. “Nó cũng đi theo truyền thống hiếu học của Việt Nam – đó là một xã hội rất có học thức.”
“Những ai là tác giả và nhà văn thì được tôn trọng và điều đó đã lan sang giới blogger trên mạng mà một số người trong số này có lượng người ủng hộ đông đảo.”
Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội cũng nhiệt tình tham gia vào cuộc tranh luận về Nghị định 72 vào tháng trước khi khẳng định: “Việc vận dụng các quyền tự do cơ bản trên mạng cũng giống như ngoài không gian mạng.”
Toà đại sứ nói thêm rằng văn bản pháp luật mới về Internet “dường như không nhất quán với các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và chính trị, cũng như những cam kết của họ theo Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.
Mặc dù vẫn đang leo thang trấn áp những người bất đồng chính kiến, Việt Nam cũng nỗ lực cải thiện hình ảnh của mình về nhân quyền. Đầu năm nay, họ mở một cuộc đối thoại với Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), cho phép tổ chức nhân quyền này gặp gỡ những người bất đồng chính kiến và các quan chức chính phủ trong cuộc gặp đầu tiên như thế kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Việt Nam đang soạn thảo một bản hiến pháp với mục đích xử lý các quyền tự do dân sự và những vấn đề về sự khoan dung tôn giáo giữa lúc quốc gia Đông Nam Á này đang đàm phán để hình thành một khu vực thương mại tự do theo Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương do Mỹ khởi xướng.
Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang đã thăm Nhà Trắng vào tháng Bảy và tiến hành hội đàm với Tổng thống Obama về nhiều chủ đề, trong đó có tình hình nhân quyền của Việt Nam.
“Chúng tôi đã có cuộc trao đổi rất thẳng thắn về cả những tiến bộ mà Việt Nam đang đạt được lẫn những thách thức còn tồn tại”, Tổng thống Obama phát biểu khi kết thúc cuộc hội đàm.