Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

Có nên hợp tác với cơ quan an ninh?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 6.1.2018



LTS.
Chế độ CSVN còn được gọi là chế độ “công an trị”. Đâu đâu trong xã hội VN người ta cũng thấy sự hiện diện của công an, đặc biệt là an ninh cộng sản. Không chỉ ở VN mà trên thế giới cũng vậy, gần như ở đâu có cộng đồng người Việt là ở đó có bàn tay lông lá của an ninh cộng sản, kể cả trong các cơ quan truyền thông quốc tế có phân ban Tiếng Việt.
Trong bối cảnh nhà cầm quyền cộng sản đang tăng cường đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu những người cất lên tiếng nói của lương tri và lý trí trước thực trạng đất nước hiện nay, bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả những lựa chọn về cách ứng xử với lũ ma quỷ an ninh cộng sản, công cụ bạo lực bất nhân, vô đạo của bè lũ buôn dân bán nước Việt gian cộng sản.
Trân trọng,
Lê Anh Hùng

Việt Nam Thời Báo | “Làm việc với cơ quan an ninh” là một mệnh đề đã trở nên quá quen thuộc với giới bất đồng chính kiến, hay với bất cứ người Việt quốc nội nào cất lên tiếng nói của lương tri và lý trí trước những vấn đề của xã hội và đất nước.
Quen thuộc là vậy nhưng có lẽ đến tận bây giờ, hầu hết những ai bị cơ quan an ninh “mời” hay “triệu tập” lên làm việc vẫn còn phải cân nhắc rất thận trọng giữa việc hợp tác hay bất hợp tác với đại diện của chính quyền.
“Hợp tác” ở đây được hiểu là chấp hành giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan an ninh; sẵn sàng trả lời các câu hỏi của họ; thừa nhận mình là chủ nhân của các tài khoản Gmail, Facebook hay blog cá nhân và dĩ nhiên là những bài viết, phát ngôn hay bình luận đăng trên đó.
“Bất hợp tác” được hiểu là một hành vi “bất tuân dân sự”, không chấp hành giấy mời hay giấy triệu tập, và khi bị cưỡng chế đến “làm việc” với cơ quan an ninh thì sử dụng quyền im lặng, không trả lời các câu hỏi của họ, không thừa nhận hay phủ nhận việc làm hay lời nói cũng như các tài khoản mạng hay blog cá nhân là của mình.
Giữa “hợp tác” và “bất hợp tác” còn một hình thức thứ ba là hợp tác nửa vời. Tức là, người bị công an mời hoặc triệu tập giả vờ hợp tác với họ, sẵn sàng đến trụ sở công an để “làm việc”, trả lời một số câu hỏi “vô hại”, nhưng lại từ chối hoặc phủ nhận những gì “nhạy cảm” liên quan đến bản thân.
Vậy những người được cơ quan an ninh “mời” hoặc “triệu tập” nên hợp tác, bất hợp tác hay hợp tác nửa vời với họ?
“Đồng xu nào cũng có hai mặt.” Lựa chọn nào cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng. Từ kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân, dưới đây chúng tôi sẽ đánh giá ưu nhược điểm của từng cách thức ứng xử.
Hợp tác
Ưu điểm:
Lựa chọn thái độ hợp tác thể hiện sự “quang minh chính đại” của người đấu tranh. Theo nhà báo Nguyễn Vũ Bình, một người đấu tranh dân chủ kỳ cựu, việc công khai tên tuổi, địa chỉ khi viết bài hoặc khi thực hiện hoạt động đấu tranh và sẵn sàng thừa nhận điều đó nghĩa là người đấu tranh tin tưởng việc làm của mình là đúng, là chính nghĩa, không có gì phải che giấu, phải chối bỏ và hay nói dối. 
Nhược điểm:
(i) Người đấu tranh dễ tạo điều kiện cho các cơ quan tố tụng lập hồ sơ kết tội mình.
Chúng ta biết, ánh sáng của cuộc cách mạng Internet và cuộc cách mạng truyền thông xã hội đang từng ngày từng giờ xua tan bóng tối của quyền lực độc tài và phơi bày những sự thật trần trụi của chế độ cộng sản. Trong bối cảnh đó, bộ máy đàn áp của nhà cầm quyền CSVN không còn mù quáng và dễ sai khiến như trước kia. Vì thế, nếu trung thực với an ninh, người đấu tranh có thể đẩy các cơ quan tố tụng cũng như bản thân mình vào tình thế “án tại hồ sơ”.
(ii) “Mềm nắn rắn buông.” Khi thấy đối tượng tỏ ra “mềm”, cơ quan an ninh có thể sách nhiễu người đấu tranh bằng cách “mời” hoặc “triệu tập” bất cứ lúc nào họ muốn, khiến họ mất thời gian, tốn công sức rồi đi tới chỗ nản chí.
(iii) Khi làm việc với những người bất đồng chính kiến, an ninh thường “khích” những ai bất hợp tác hoặc hợp tác nửa vời bằng những câu như: “Hoá ra anh cũng chỉ là anh hùng bàn phím thôi à?” hay “Dám làm mà không dám nhận là hèn!”, v.v.
Vậy nhưng, những câu trả lời của họ sẽ được an ninh ghi vào “Biên bản lấy lời khai”. Tức là, lời nói của người bị thẩm vấn lúc này dù trung thực và khảng khái đến đâu đi nữa cũng bị coi là “lời khai” – một cụm từ đủ khiến bất kỳ một người chính trực nào cũng cảm thấy bị xúc phạm.
Chưa hết, khi một người bất đồng chính kiến bị bắt, thái độ trung thực, khảng khái của họ sẽ được “chuyển hoá” thành những câu như “Đối tượng đã phải khai nhận” hay thậm chí “đối tượng đã thành khẩn khai báo” trong hồ sơ vụ án. Hình ảnh hiên ngang của người đấu tranh sẽ bị các cơ quan tố tụng và bộ máy tuyên truyền cộng sản hạ thấp bằng những lời lẽ xuyên tạc như vậy.
Bất hợp tác
Ưu điểm:
(i) Gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng lập hồ sơ kết tội. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, điều này ít nhiều cũng giúp nhà đấu tranh tự bảo vệ mình, dù dĩ nhiên là không hoàn toàn đảm bảo rằng họ sẽ không bị bắt.
(ii) Không phải mất thì giờ nghĩ cách đối phó với cơ quan an ninh.
(iii) Tránh được việc cơ quan an ninh cứ hứng lên thì lại phát giấy mời hay giấy triệu tập, khiến mình mất thời gian, công sức.
Với giấy mời thì theo luật, người được mời có quyền từ chối chấp hành.
Với giấy triệu tập mà không ghi rõ là liên quan đến vụ án nào đã khởi tố, người bị triệu tập cũng có quyền từ chối vì trái luật.
Với giấy triệu tập liên quan đến một vụ án nhân quyền đã khởi tố, người bị triệu tập nêu lý do chính đáng: (a) Tôi đã phản đối vụ án đó nên tôi không có lý do gì phải chấp hành giấy triệu tập liên quan đến nó; (b) Bản chất hoạt động của tôi không giống như những gì được quy định tại Điều 258, Điều 88 hay Điều 79 Bộ luật Hình sự – những điều luật mà với tư cách công dân tôi đã phản đối – nên tôi không liên quan đến một vụ án nào như thế; (c) Những gì tôi đã và đang làm là quyền tự do cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp Việt Nam cũng như các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Tôi không có nghĩa vụ hay trách nhiệm phải trình bày với ai, càng không phải xin xỏ ai về các quyền bất khả xâm phạm đó. Ngoài ra, công dân không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội.
Nhược điểm:
Có thể khiến cho mối quan hệ với cơ quan an ninh trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, sự căng thẳng không cần thiết vẫn có thể giải toả được bằng những lý lẽ xác đáng như trên.
Lưu ý, bất hợp tác không có nghĩa là chúng ta tuyệt đối không nói chuyện gì với đại diện của chính quyền, đặc biệt là không tận dụng cơ hội để tuyên truyền, cảm hoá họ. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất sợ hiện tượng “tự diễn biến, tự chuyển hoá” lây lan trong bộ máy đàn áp, bởi một khi lực lượng này không còn sẵn sàng thực thi ý chí tội ác của cấp trên một cách mù quáng nữa thì hệ thống tự khắc sụp đổ.
Hợp tác nửa vời
Ưu điểm:
Cho phép người đấu tranh tỏ “thiện chí” hợp tác với cơ quan an ninh mà không rơi vào cảnh “lạy ông tôi ở bụi này”.
Nhược điểm:
(i) Dễ tạo điều kiện cho cơ quan an ninh dễ bề sách nhiễu, gây khó khăn cho mình bằng cách “mời” hay “triệu tập” mỗi khi họ muốn.
(ii) Dễ mắc “bẫy” của an ninh, bởi họ thường thuộc lòng những mánh khoé quỷ quyệt, trong khi người nói dối thì hay gặp cảnh “đường tắt hay tối, nói dối hay cùng”. Đặc biệt, khi cơ quan an ninh đưa ra những bằng chứng xác thực, như hình ảnh hay phim ảnh, nếu người đấu tranh vẫn cứ phủ nhận thì khó thuyết phục. Trong khi đó, nếu chúng ta chọn giải pháp im lặng ngay từ đầu thì không sao.
(iv) Vi phạm nguyên tắc đạo đức trung thực. Vẫn theo nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Việt Nam là một nạn nhân của quan điểm “mục đích biện minh cho phương tiện”. Những người đấu tranh vẫn thường xuyên lên án chính quyền cộng sản là dối trá, bịp bợm. Vậy nên, việc vi phạm nguyên tắc đạo đức trung thực là điều mà những người vẫn mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn nếu không tránh được khi phải đương đầu với bạo quyền thì cũng cần hạn chế tối đa, không nên coi đấy là chuẩn mực ứng xử và càng không nên tự hào về điều đó.
Kết luận
Phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam vốn dĩ là tập hợp của những thành phần đa dạng, mỗi người có một khả năng, trình độ, nhận thức và điều kiện khác nhau. Vì thế, mỗi người cần tự chọn cho mình cách ứng xử với cơ quan an ninh phù hợp nhất với hoàn cảnh và đặc biệt là mức độ dấn thân của mình.
Bản thân tôi trước kia từng chủ động tìm đến cơ quan công an để tố cáo một số vị lãnh đạo đảng và nhà nước. Tuy nhiên, sau khi nhận thấy mọi nỗ lực nhằm bảo vệ đất nước của mình đều hoài công, trong khi bản thân lại thường xuyên bị khủng bố, trả thù mà không được bảo vệ hay thậm chí là bị rình rập để chụp vào đầu những tội danh vu vơ, tôi không còn niềm tin vào lực lượng “chỉ biết còn đảng còn mình” nữa. Thế nên, tôi quyết định bất hợp tác với họ.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

'Biến đối tượng thành đối tác’: sai lầm chiến lược hay mưu đồ bán nước của CSVN?

Lê Anh Hùng | VOA| 2.1.2018



Cách đây hơn một tháng, một loạt tờ báo “lề đảng” đã đưa tin về một sự kiện đáng chú ý: Tàu container liên vận Việt Nam - Trung Quốc bắt đầu hoạt động.
Theo thông tin trên các tờ báo, đoàn tàu gồm 33 container 40 feet chứa các loại hàng hoá như nội thất văn phòng, thực phẩm, phụ tùng linh kiện ô tô... xuất phát từ Nam Xương, Giang Tây ngày 22/11 và đến ga Yên Viên, Hà Nội ngày 25/11. Sau khi đến Việt Nam, đoàn tàu quay về cùng các hàng hóa như nông sản, khoáng sản, sản phẩm điện tử... Việc tổ chức chạy tàu giúp rút ngắn thời gian vận chuyển từ 15 ngày bằng đường biển xuống còn 4 ngày; cước phí vận chuyển chỉ bằng một nửa so với đường bộ. Dự kiến, hai bên sẽ tiến hành chạy đều đặn với tần suất 1 chuyến/tuần, rồi nâng dần lên 3 chuyến/tuần.
“Ý đảng” trái “lòng dân”
Nếu sự kiện nói trên là bằng chứng cho thấy sự tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế láng giềng nào đấy thì chắc chắn đó là tin vui cho cả lãnh đạo lẫn nhân dân hai nước.  
Tuy nhiên, điều này lại không đúng với hai quốc gia “núi liền núi, sông liền sông” Việt Nam - Trung Quốc. Và trong khi một số cơ quan truyền thông nhà nước đưa tin về sự kiện này với thái độ hồ hởi (một số khác tỏ ra bình thản) thì công chúng Việt Nam lại đón nhận thông tin trên vừa bất ngờ, vừa không khỏi âu lo.

Vì sao vậy?
Câu trả lời tưởng không có gì khó hiểu. Đối với ban lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc là một đối tác như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, theo đường lối ngoại giao “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế.
Trong khi đó, đối với phần lớn người Việt, hai chữ Trung Quốc lại đồng nghĩa với hiểm hoạ, mà bằng chứng là từ lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước, cũng như từ những vấn nạn “made in China” trên khắp Việt Nam hiện nay. Nghĩa là với họ, Trung Quốc là một “đối tượng” cần thường xuyên đề cao cảnh giác.
Từ “bá quyền”, “xâm lược” đến “4 tốt”, “16 chữ vàng”
Mối quan hệ Việt - Trung dưới thời cộng sản cũng lúc thăng lúc trầm giống như lịch sử hàng ngàn năm trước. Dù vậy, bất kể mối quan hệ đó đang thăng hay trầm, nồng ấm hay lạnh nhạt thì thực tế không bao giờ thay đổi là: Trung Quốc không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính quốc gia láng giềng phương Nam – một “chân lý” đã được “kiểm nghiệm” qua hàng ngàn năm lịch sử.
“Đỉnh cao” của “chân lý” ấy là việc Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam suốt 10 năm liền, từ năm 1979 đến 1989. Xen giữa quãng thời gian đó là sự kiện Trung Quốc thảm sát 64 chiến sỹ QĐND Việt Nam và chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam ngày 14/3/1988. Hệ quả là trong Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam 1980, Trung Quốc bị vạch mặt, chỉ tên là một quốc gia “bá quyền”, “xâm lược”.
Cuối thập niên 1980, cuộc khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội trầm trọng đã dẫn đến sự sụp đổ của một loạt nước XHCN ở Đông Âu. Lo sợ cho số phận của mình, một số nhân vật chủ chốt trong ban lãnh đạo CSVN đã quay sang ôm chân các ông chủ Trung Nam Hải. Và từ Hội nghị Thành Đô ngày 3/9/1990, hai nước từng bước bình thường hoá quan hệ.
Trong chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 25/2 đến 2/3/1999 của TBT Lê Khả Phiêu, phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” lần đầu tiên được đưa vào Tuyên bố chung của hai nước. Từ đấy về sau, “16 chữ vàng” ấy luôn xuất hiện trong các bản tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Chưa hết, trong chuyến công du Việt Nam từ ngày 31/10 đến 2/11/2005 của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” đã được đưa vào Tuyên bố chung Việt - Trung. Và kể từ đó, “16 chữ vàng” và “4 tốt”, những mỹ từ mô tả mối quan hệ giữa hai quốc gia, đã trở thành “một phần tất yếu” của các bản tuyên bố chung Việt - Trung.
Từ “đối tượng” đến “đối tác”
Ngược dòng lịch sử, trong bang giao với quốc gia láng giềng phương Bắc, các triều đại phong kiến Việt Nam thường áp dụng kế sách “trong đế ngoài vương”, một sách lược ngoại giao mềm dẻo và sáng suốt.
Ở trong nước, các vị vua Việt Nam vẫn lên ngôi hoàng đế nhằm thể hiện tinh thần độc lập và bình đẳng với hoàng đế Trung Hoa, song bên ngoài họ lại để cho hoàng đế Trung Hoa phong vương và chấp nhận chế độ triều cống như một nước chư hầu. Những lời lẽ nhún nhường trong các tờ biểu mà hoàng đế Việt Nam dâng lên hoàng đế Trung Hoa hoàn toàn không ảnh hưởng đến vị thế độc lập của Việt Nam trước Trung Quốc, mà chỉ giúp cho các hoàng đế của “vương quốc trung tâm” tự mãn với danh hiệu “thiên triều”, để không có cớ gây sự với Việt Nam.
Trong khi đó, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi quốc gia láng giềng phương bắc là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, tức là “đối tượng” mà người Việt không được phép lơ là, mất cảnh giác.
Dưới thời cộng sản, cho dù các nhà lãnh đạo Việt Nam mô tả mối quan hệ Việt - Trung bằng những mỹ từ cao đẹp đến đâu đi nữa, họ cũng không thể che lấp được một sự thật là Trung Quốc vẫn luôn rình rập nhằm phá hoại và thôn tính Việt Nam.
Thậm chí, ngay trong những ngày tháng mặn nồng nhất của “mối tình cộng sản” Việt - Trung, Bắc Kinh đã đưa quân sang “giúp” Việt Nam làm đường theo kiểu “rất Tàu” như thế này: đặt mìn tiêu huỷ “hòn đá Liễu Thăng” tại Lạng Sơn; ở Côn Sơn, nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi, họ đã đào xuyên ngang dọc quả núi thành đường hầm và bít cửa vào, không ai biết họ làm gì trong đó; nhiều di tích như An Sinh, nơi gần đây mới xây đền thờ các vị vua Trần, hết thảy tượng đá thời Trần đều bị phạt cụt đầu hoặc bắn vào bụng; ở Ngọa Vân am, tháp Phật Hoàng đựng xá lị Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm cổ kính bị đào rỗng ruột, toàn bộ bài vị trong tháp bị đập nát, tấm bia do Trịnh Căn lập bị đập thành ba bảy mảnh, 13 ngọn tháp đứng thành một hàng chạy xuống phía Tây Nam đều bị phạt ngang, phía dưới có một đường hầm lộ thiên đào thông tháp nọ với tháp kia (nhằm phá long mạch nhà Trần lừng lẫy chiến công chống giặc phương Bắc, tức là phá long mạch Việt Nam chăng?); khai thác trộm của cải, thăm dò ngầm tài nguyên, địa thế...
Mặc dù “16 chữ vàng” và “4 tốt” đã được lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc xác định là “kim chỉ nam” cho mối quan hệ giữa hai bên, song suy cho cùng thì đó cũng chỉ là ngôn ngữ ngoại giao. Chúng chẳng khác gì mấy so với tinh thần của những tờ biểu mà các hoàng đế Việt Nam ngày xưa vẫn dâng lên hoàng đế Trung Hoa, hay những bức “điện mừng” mà  nguyên thủ hai quốc gia láng giềng thù nghịch Toracanxi và Hopantomola vẫn cấp tập gửi cho nhau ngay trước khi lao vào nhau để quyết một phen sống mái. Và kể từ năm 1979 đến nay, Việt Nam vẫn bố trí một lực lượng quân sự hùng hậu và tinh nhuệ thường trực tại các tỉnh biên giới phía bắc, mà lý do chủ yếu là để đề phòng đội quân xâm lược từ bên kia biên giới.
Vậy điều gì đã góp phần quyết định khiến các bản tuyên bố chung Việt - Trung thời gian sau này luôn kèm theo những thoả thuận hợp tác cụ thể và nguy hại, dẫn đến thực trạng báo động đỏ hiện nay là đâu đâu trên khắp Việt Nam người ta cũng thấy bàn tay lông lá của Tàu cùng những hiểm hoạ “made in China” lơ lửng trên đầu dân tộc?
Thật trớ trêu, thủ phạm hoá ra lại là “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới” do Hội nghị Trung ương 8 khóa IX thượng tuần tháng 7 năm 2003 đề ra và Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” do Hội nghị Trung ương 8 khoá XI ban hành. Chính xác hơn, đó là sự mơ hồ, ngây thơ và chủ quan khi định nghĩa khái niệm “đối tượng” và “đối tác”, cũng như chủ trương biến đối tượng thành đối tác, trong hai văn kiện đóng vai trò “kim chỉ nam” cho hệ thống chính trị liên quan đến nhiệm vụ tối quan trọng là bảo vệ Tổ quốc.  

Cờ Trung Quốc sẽ còn tung bay phấp phới tại Vĩnh Tân (Bình Thuận), một vị trí cực kỳ xung yếu về an ninh quốc phòng, trong hàng chục năm tới. Ảnh: Lê Anh Hùng
Khi dẫn ra câu “không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc là vĩnh viễn” trong hai nghị quyết nêu trên, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã (cố tình) bỏ qua điểm quan trọng nhất: người đầu tiên phát ngôn câu đó – Lord Palmerston – là một ngoại trưởng và về sau trở thành thủ tướng Anh, chứ không phải là một hoàng đế Việt Nam, và địa chính trị nước Anh hoàn toàn khác với địa chính trị Việt Nam. Tiền đề sai lầm đó đã dẫn đến hàng loạt sai lầm trong việc định nghĩa “đối tượng” và “đối tác”, cũng như sự ngây ngô, duy ý chí trong chủ trương biến đối tượng thành đối tác.
Và kết cục tất yếu
Việc “đối tượng” Trung Quốc được ban lãnh đạo Việt Nam phù phép thành “đối tác” đã mở đường cho việc hai nước ký kết hàng loạt thoả thuận hợp tác nguy hại cho Việt Nam, đặc biệt là mỗi dịp lãnh đạo nước này thăm viếng nước kia, vốn diễn ra với tần suất xoành xoạch. Kết quả là vô số người Tàu lũ lượt theo chân hàng trăm “dự án kinh tế” – đến 90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – trên khắp Việt Nam, từ một Hà Nội ồn ào náo nhiệt đến những cánh rừng đầu nguồn biên giới xa xôi hẻo lánh, đặc biệt là những vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng.
“Đối tượng” Trung Quốc đã trở thành “đối tác” nên TBT Nguyễn Phú Trọng cứ việc vô tư hợp tác với Bắc Kinh để họ đào tạo cán bộ cấp cao cho Việt Nam hay phó thác cho họ nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho một loạt tỉnh biên giới.
Chưa dừng lại ở đó, Việt Nam còn đang đứng trước làn sóng xâm lăng kinh tế mới của “đối tác tốt” Trung Quốc thông qua những phương thức như “tàu container liên vận”, thương mại điện tử, mua bất động sản hay thâu tóm doanh nghiệp… bất chấp thực tế những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đem đến cho người dân Việt Nam luôn “lợi bất cập hại”.
Không còn nghi ngờ gì, chủ trương biến đối tượng thành đối tác trên thực tế đã trở thành chủ trương “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”. Và nếu không phải là mưu đồ bán nước thì đó cũng là sai lầm chiến lược vô cùng nguy hiểm của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

Thành trì BOT giao thông liệu có lung lay?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 31.12.2017


Sau ba tháng rưỡi đóng cửa vì phản ứng quyết liệt của giới tài xế, ngày 30/11 trạm thu phí dự án BOT Cai Lậy bắt đầu hoạt động trở lại, đồng thời giảm 30% giá vé qua trạm như một động thái nhằm xoa dịu phản ứng của dân chúng.
“Đồng tiền liền khúc ruột”
Tuy nhiên, giới tài xế dứt khoát không chấp nhận giải pháp lừa mị đó. Lý do họ đưa ra là giá vé giảm mà thời hạn thu phí lại kéo dài thì thực chất cũng chẳng khác gì. Trong khi đó, yêu cầu trước sau như một của họ là phải dời trạm thu phí khỏi quốc lộ 1A và đặt trên tuyến đường tránh, và những ai đi vào đường tránh thì mới phải trả tiền.
Lần này, giới tài xế sáng tạo ra chiêu thức đưa tiền lẻ 25.100 VNĐ rồi đòi nhân viên thu phí thối lại 100 VNĐ, hoặc dùng tiền mệnh giá 500.000VNĐ để mua vé khiến nhân viên mất nhiều thời gian thối lại. Thậm chí họ còn nhất quyết đứng ì tại trạm, không chịu mua vé. Kết quả là chỉ trong vòng 5 ngày, từ 30/11 đến 4/12, chủ đầu tư đã phải xả trạm tới 24 lần để tránh ách tắc giao thông.

Vụ việc BOT Cai Lậy một lần nữa lại khiến dư luận cả nước lên cơn sốt. Và hầu như mọi tiếng nói đều ủng hộ giới tài xế, phản đối chính quyền và chủ đầu tư.

Thái độ dè dặt của Thủ tướng
Trước áp lực của dư luận, ngày 4/12, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định dừng thu phí từ 1-2 tháng để các bên làm rõ các vấn đề liên quan và đề xuất phương án xử lý.
Mặc dù dân chúng nói chung hoan nghênh quyết định của người đứng đầu chính phủ, song câu hỏi không thể không đặt ra ở đây là: Tại sao một vụ việc sai phạm rõ rành rành như vậy, công chúng phản đối mạnh mẽ và rộng khắp như vậy, mà Thủ tướng lại không sớm chỉ đạo giải quyết, dù nó đã khiến dư luận nóng sốt từ hơn 3 tháng trước, và khi lên tiếng chỉ đạo ông còn phải “mua” thời gian thêm 1-2 tháng?
Lời giải đáp cho thắc mắc nói trên nằm trong bài “BOT Cai Lậy, ‘hoạ sỹ’ Hoàng Trung Hải và giao thông VN” trên VOA ngày 21/8/2017. Nội dung bài báo đã chỉ rõ, Hoàng Trung Hải là người chịu trách nhiệm cao nhất không chỉ trong dự án BOT đường tránh Cai Lậy mà còn trong tất cả các dự án BOT giao thông nói chung, bởi ông ta là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế ngành kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông - vận tải từ năm 2007 đến 2016. Ở dự án BOT Cai Lậy, chẳng hạn, ngay cả việc chỉ định thầu cũng phải được ngài (cựu) PTT chỉ đạo qua công văn số 97/TTg-KTNngày 15/1/2014 rồi Bộ GT-VT mới được thực hiện.  
Điều đáng nói là, suốt mười mấy năm qua, Hoàng Trung Hải là một cái tên “bất khả xâm phạm” ở Việt Nam, bất chấp thực tế gắn liền với nhân vật này là vô số sai phạm đặc biệt nghiêm trọng và rõ rành rành, là bản lý lịch “made in China” nay đã trở thành một thứ “bí mật” mà ai ai cũng biết, là những đơn thư tố cáo ngập tràn trên không gian mạng
Vì sao Ngô Văn Dụ?
Hồi đầu tháng, truyền thông “lề trái” đã phơi bày một sự thật: Ông chủ thật sự của BOT Cai Lậy, BOT Hoài Nhân... chính là Ngô Hồng Thắng, con trai của Ngô Văn Dụ, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng khoá từ năm 2011 đến 2016. (Công ty Tư vấn Đầu tư Xây dựng Bắc Ái nắm 65% cổ phần trong Công ty TNHH Đầu tư QL1 Tiền Giang, pháp nhân đầu tư dự án BOT Cai Lậy, còn ông chủ của Bắc Ái lại là Ngô Hồng Thắng.)
Nguồn tin trên cho biết thêm là Bắc Ái còn là chủ đầu tư của nhiều dự án khủng từ bắc chí nam khác, và đặc biệt là “do tất cả các dự án của Bắc Ái thực hiện đều được Chính phủ, mà cụ thể là Hoàng Trung Hải, chỉ định thầu nên Bắc Ái phất lên nhanh chóng”.
Bất kỳ ai là chủ nhân của BOT Cai Lậy thì người đó cũng nằm trong “nhóm lợi ích giao thông” do Hoàng Trung Hải cầm đầu. Dù vậy, người ta vẫn có lý do để “thắc mắc” là tại sao cái tên Ngô Văn Dụ lại xuất hiện ở đây?
Câu trả lời tưởng như có thể nhìn thấy ngay. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng là địa chỉ quan trọng đầu tiên mà những đơn thư tố cáo bản lý lịch “made in China” cũng như hàng loạt sai phạm nghiêm trọng và có hệ thống của (nguyên) Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tìm đến.
Vậy nhưng, thay vì lẽ ra phải làm đúng chức trách của mình để ngăn chặn vô số thảm hoạ mà “nhóm lợi ích Tàu” Hoàng Trung Hải gây ra cho đất nước, nhân vật đứng đầu bộ máy kiểm tra, kỷ luật của đảng giai đoạn 2011-2016 lại chọn cách “thiết thực” hơn là “ngậm miệng ăn tiền” hay chính xác hơn là “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.
“Tiếng nói là quyền lực”
Cùng ngày với quyết định của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tạm dừng thu phí BOT Cai Lậy, Kiểm toán Nhà nước cũng ban hành kế hoạch kiểm toán năm 2017, trong đó có 20 dự án BOT, vốn thuộc phạm vi trách nhiệm của (cựu) Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải.
Những động thái trên đây cho thấy, một phần “di sản” khổng lồ của Hoàng Trung Hải, nhân vật đang thống lĩnh bộ máy dân sự và quân sự của một Hà Nội “ngàn năm văn hiến”, bắt đầu được các cơ quan chức năng “soi”.
Dù vậy, thiết tưởng cũng cần nhắc lại là sau đại thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra tháng 4 năm 2016, mặc dù một loạt quan chức Bộ Tài nguyên - Môi trường và tỉnh Hà Tĩnh đã phải nhận những hình thức kỷ luật khác nhau, nhưng riêng cựu PTT Hoàng Trung Hải – nhân vật đã “khai sinh” và dành cho Formosa Hà Tĩnh những ưu đãi “vô tiền khoáng hậu” – vẫn tiếp tục bình chân như vại.
Liên quan đến sự kiện chấn động dư luận đó, thậm chí không một tờ báo chính thống nào ở Việt Nam dám một lần nhắc đến tên ông ta, chứ đừng nói là đòi kỷ luật.
Như chúng tôi đã nhiều lần khẳng định, bất kỳ giải pháp nào cho tương lai Việt Nam, nếu muốn khả thi, đều cần kèm theo “lời giải” cho vấn đề Hoàng Trung Hải.
Chỉ có quyền lực mới chống lại được quyền lực. Vì vậy, muốn giúp nước nhà thoát khỏi tình cảnh “thù trong giặc ngoài” đang ngày một bủa vây hiện nay, trước hết chúng ta cần sử dụng quyền lực của tiếng nói chính nghĩa để góp phần xô đổ thành trì quyền lực của “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải.

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

Kinh tế Việt Nam năm 2017: bóng ma Trung Quốc ám ảnh

Lê Anh Hùng | VOA| 29.12.2017


Ngày 27/12, Tổng cục Thống kê đã công bố các số liệu về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2017.
Với một loạt chỉ số ấn tượng, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,81%, vượt mục tiêu 6,7% và cao nhất kể từ năm 2008 đến nay, cơ quan thống kê quốc gia xem ra đã xua tan những nghi ngờ trước đó rằng chính phủ phù phép số liệu hay báo cáo láo.
Trung Quốc vẫn là đối tác kinh tế lớn nhất của Việt Nam, song các con số thống kê đã cho thấy những biến chuyển theo chiều hướng tích cực.

Kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước đạt 93,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 35,3 tỷ USD (tăng 13,3 tỷ USD, tương đương 60,7%), và nhập khẩu từ thị trường này 58,5 tỷ USD (tăng 8,5 tỷ USD, tương đương 17%) so với cùng kỳ năm 2016. Tốc độ tăng nhập khẩu từ Trung Quốc là 16,8%, thấp hơn khá đáng kể so với tốc độ tăng tổng kim ngạch nhập khẩu là 20,8%.
Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng đột biến, mức tăng cao nhất từ trước tới nay, cả về con số tuyệt đối lẫn tỷ lệ tương đối, đã góp phần chủ yếu giúp nhập siêu từ Trung Quốc giảm năm thứ hai liên tiếp (chỉ còn 23,2 tỷ USD, so với 28,1 tỷ USD năm 2016 và 32,39 tỷ USD năm 2015). Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu cũng giảm năm thứ hai liên tiếp, từ mức 29,9% năm 2015 và 28,9% năm 2016 xuống còn 27,7% năm 2017, tức thấp hơn cả mức của năm 2013. Nhờ vậy, Trung Quốc không còn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam nữa, mà thay vào đó là Hàn Quốc với 31,8 tỷ USD.

Bảng 1: Kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2000-2017
Đồ thị 1: Biến động của tỷ trọng XK sang TQ và NK từ TQ
trong tổng kim ngạch XK và NK
Những con số về tình hình giao thương Việt - Trung hai năm qua có lẽ đã đủ để các fan của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nhìn nhận lại “di sản” của nhân vật mà họ vẫn đinh ninh là “chống Tàu số 1 Việt Nam” suốt một thời gian dài. Điều này lại càng đặc biệt đáng ghi nhận trong bối cảnh TBT Nguyễn Phú Trọng không những vẫn đang tại vị, mà còn ngày càng thể hiện rõ quyết tâm biến Việt Nam  thành “một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”, khi hết hợp tác với Bắc Kinh để đào tạo cán bộ cấp cao lại đến lượt giao cho “bạn” đào tạo cán bộ cho một loạt tỉnh biên giới.
Dù vậy, bóng ma Trung Quốc vẫn tiếp tục ám ảnh nền kinh tế Việt Nam, thể hiện qua những điểm sau:
1) Mặc dù thấp hơn so với tốc độ tăng tổng kim ngạch nhập khẩu, song tốc độ tăng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2017 so với năm trước vẫn còn cao (16,8%), vượt tốc độ của năm 2015 (13,4%) và 2016 (1,1%).
2) Tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu, mặc dù đã giảm năm thứ hai liên tiếp, nhưng vẫn ở mức cao (27,7%) và cao nhất so với các đối tác kinh tế khác. Điều này rõ ràng là nguy hại, bởi phần lớn hàng hoá “made in China” chất lượng thấp, độc hại hoặc tiềm ẩn những hiểm họa lâu dài về an ninh quốc phòng cho Việt Nam.
3) Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng đột biến (60,7%) khiến tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này tăng từ 12,4% năm 2016 lên 16,5%. Đây cũng không phải hoàn toàn là tín hiệu tốt, bởi hàng hoá xuất sang Trung Quốc chủ yếu là nông sản và khoáng sản, trong khi Trung Quốc là một thị trường ẩn chứa nhiều rủi ro đối với nông dân Việt.
4) Sự kiện tàu container liên vận Việt - Trung bắt đầu hoạt động từ ngày 22/11 (dự kiến sẽ chạy đều đặn 1 chuyến/tuần, rồi nâng dần lên 3 chuyến/tuần) báo hiệu nếu chính phủ thiếu kiểm soát và ngăn chặn, một làn sóng hàng hoá “made in China” mới sẽ tràn vào Việt Nam thông qua cửa ngõ nhanh chóng và tiện lợi này.
5) Bên cạnh việc tiếp tục chiến lược hỗ trợ xuất khẩu để hàng hoá Trung Quốc bóp chết hàng hoá cũng như nền sản xuất của Việt Nam ngay trên sân nhà, Trung Quốc còn tăng cường thâu tóm các dự án bất động sản và đặc biệt là hàng loạt doanh nghiệp của Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu tính cả Đài Loan và Hồng Kông thì chỉ trong 9 tháng đầu năm 2017, số vốn mà Trung Quốc bỏ ra để thâu tóm doanh nghiệp Việt lên tới 612 triệu USD, đứng đầu hoạt động thâu tóm doanh nghiệp Việt của các nhà đầu tư nước ngoài.
Người Trung Quốc vốn có “truyền thống” hoạt động chui tại Việt Nam, thông qua vỏ bọc người Việt hoặc người Việt gốc Hoa, nên con số thực tế chắc chắn là còn lớn hơn nhiều so với những gì mà cơ quan chức năng Việt Nam nắm được.
6) Sự kiện tỷ phú Jack Ma, ông chủ tập đoàn thương mại điện tử Alibaba, sang Việt Nam từ ngày 4-8/11 báo hiệu Bắc Kinh bắt đầu đẩy mạnh cuộc xâm lăng kinh tế Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử.
Tóm lại, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đạt được những thành tích ấn tượng trong việc điều hành nền kinh tế cũng như xử lý mối giao thương vốn rất nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro với quốc gia láng giềng phương Bắc. Tuy vậy, nếu khẳng định rằng bóng ma Trung Quốc đã bớt ám ảnh nền kinh tế Việt Nam thì e là quá sớm. Tiếp nhận vô số “di sản” tai hại từ chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, nhiệm vụ đặt trên vai chính phủ hiện nay rõ ràng là còn rất nặng nề.
Hiểm hoạ Trung Quốc vốn dĩ luôn rình rập Việt Nam, và nó chỉ có thể lớn hơn sau Đại hội 19 Đảng CSTQ, bởi “hoàng đế đỏ” Tập Cận Bình lúc này đã được ví như Mao Trạch Đông hay thậm chí là Càn Long của thế kỷ 21.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

Ông Trọng đã nắm được công an chưa?

Lê Anh Hùng | VOA| 27.12.2017



Ngoài cụm từ “đảng trị”, chế độ cộng sản ở Việt Nam còn được mô tả như là chế độ “công an trị”. Lý do thật đơn giản: công an không chỉ nằm trong cơ cấu bộ máy công quyền từ trung ương xuống đến tận thôn bản, mà còn hiện diện gần như khắp mọi ngóc ngách trong xã hội, từ những “đặc tình” được “cài cắm” nhằm đánh phá những người lên tiếng ôn hoà vì một Việt Nam tốt đẹp hơn, cho đến những ông trùm thế giới ngầm kiêm “sỹ quan tình báo cao cấp” như Vũ ‘Nhôm’.
Bài học Nguyễn Tấn Dũng
Trong hệ thống thang bậc quyền lực của cộng sản Việt Nam, Thủ tướng chỉ là nhân vật đứng thứ ba, sau Tổng Bí thư và Chủ tịch nước. Tuy nhiên, suốt một thời gian dài, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại được coi là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam. Ngoài cương vị Thủ tướng, nắm trong tay gần như toàn bộ bộ máy hành pháp quốc gia, vị thế quyền lực của “đồng chí X” còn bắt nguồn từ một nhân tố vô cùng quan trọng – đó là ảnh hưởng của ông ta đối với guồng máy công an.

Khi được lãnh đạo Hà Nội điều ra trung ương, chức vụ đầu tiên mà Nguyễn Tấn Dũng nắm là Uỷ viên Đảng uỷ Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (Bộ Công an trước kia) từ tháng 1/1995 đến 8/1996.
Trở thành Thủ tướng, ngoài vai trò chỉ đạo trực tiếp về mặt hành pháp đối với Bộ Công an, Nguyễn Tấn Dũng còn được Bộ Chính trị giao phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương, một vai trò gần giống với Bí thư Quân uỷ Trung ương của Tổng Bí thư.
Chưa hết, 6 năm nắm giữ trọng trách Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng, kể từ tháng 6 năm 2006 cho đến khi bị “truất” khỏi vị trí này tại Hội nghị Trung ương 5 khoá XI trung tuần tháng 5 năm 2012, còn trao cho ngài (cựu) Thủ tướng quyền chỉ đạo trực tiếp hệ thống tư pháp, mà cơ quan quan trọng nhất chính là Bộ Công an.
Vấn đề không phải nằm ở chỗ quyền lực tập trung vào tay người nào, mà ở chỗ người đó sử dụng quyền lực như thế nào. Và đây là bài học mà hàng chục triệu người Việt sẽ còn phải trả những cái giá rất đắt trong chí ít là nhiều thập niên tới.
Bộ Công an hậu Đại hội XII: chiến trường quyền lực
Rút kinh nghiệm xương máu từ bài học mang tên “đồng chí X”, sau Đại hội XII, ban lãnh đạo CSVN không giao cho bất cứ ai trong “tứ trụ” phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương. Thay vào đó, Bộ Chính trị đã công bố quyết định chỉ định Đảng uỷ Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ ngày 21/9/2016. Và Ban Thường vụ Đảng uỷ gồm 7 vị thì 3 trong số đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng, tức 3 quyền lực mạnh nhất Việt Nam.
Nghĩa là, sau quyết định nói trên, trong số các uỷ viên Bộ Chính trị, ngoài Bộ trưởng Công an Tô Lâm thì TBT Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và thậm chí cả Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hoà Bình (phụ trách nội chính) đều có thể chỉ đạo trực tiếp đến các cơ quan cục, vụ thuộc Bộ Công an.
Bộ máy công an xưa nay vốn là địa chỉ quan trọng bậc nhất để các thế lực trong đảng tranh giành ảnh hưởng. Sau Đại hội XII, càng ngày nó càng trở thành chiến trường quyền lực nóng bỏng trong hệ thống chính trị, khiến cơ quan nắm giữ trọng trách bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự xã hội bị chia năm xẻ bảy. Những gì diễn ra tại Việt Nam thời gian qua là minh chứng rõ ràng cho nhận định đó.   
Cảnh sát – cánh tay đắc lực của TBT?
Tại phiên họp toàn thể của Uỷ ban Tư pháp Quốc hội ngày 6/9, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương cho biết là các cơ quan chức năng “đang giải quyết lợi ích nhóm, sân sau của thời kỳ trước”.
Phát biểu của viên Thượng tướng phụ trách khối cảnh sát diễn ra trong giai đoạn TBT Nguyễn Phú Trọng cùng bộ sậu đang hừng hực khí thế (từ ngày 31/7, khi ngài TBT vung tay quả quyết “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy”, cho đến thời điểm Hội nghị Trung ương 6 khai mạc). Vì thế, đó là dấu hiệu cho thấy lực lượng cảnh sát dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của vị Phó Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương đang sát cánh với ngài TBT trong chiến dịch “đốt lò” do ông ta phát động.
Điều này cũng phù hợp với những diễn biến trong thời gian vừa qua. Cảnh sát là lực lượng đã khởi tố và điều tra vụ Ngân hàng Đại Dương. Ngày 14/9, khi bào chữa cho cựu Chủ tịch PVN Nguyễn Xuân Sơn tại toà, luật sư Nguyễn Minh Tâm đã khiến dư luận xôn xao khi công bố văn bản do cựu Chủ tịch PVN Đinh La Thăng ký ngày 7/9/2010 với nội dung: “Các đơn vị khẩn trương phối hợp với OeanBank thực hiện và phải báo cáo kết quả về Tập đoàn trước ngày 15/10/2010.”
Bất cứ ai có “kinh nghiệm” về hệ thống tư pháp Việt Nam đều hiểu rằng chẳng luật sư nào muốn tiếp tục hành nghề lại dám tự tiện làm thế nếu không được ai đó “bật đèn xanh”. Và động thái này đã dọn đường về mặt dư luận cho việc Bí thư Sài Gòn Đinh La Thăng bị bắt và khởi tố vào ngày 8/12, tất nhiên cũng do lực lượng cảnh sát tiến hành, để rồi chỉ 12 ngày sau, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an đã công bố bản kết luận điều tra “thần tốc”.
An ninh – liên tiếp làm TBT mất mặt
Tương phản với thái độ phục tùng của lực lượng cảnh sát trong bộ máy công an, cho đến thời điểm này của chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” mang “bản sắc Nguyễn Phú Trọng”, lực lượng an ninh đã ít nhất hai lần khiến ngài TBT phải bẽ mặt.
Vụ thứ nhất liên quan đến “đại án PVN”. Trong một diễn biến chưa từng có, tối ngày 9/12, TTXVN cùng một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đã đăng bài “cáo lỗi” vì đưa tin sai về vụ hai cựu TGĐ PVN Phùng Đình Thực và Đỗ Văn Hậu bị Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an khởi tố và bắt giam chỉ vài giờ trước. Còn Cơ quan An ninh Điều tra thì thông báo trên website Bộ Công an rằng đó là “thông tin không chính xác”, đồng thời “đề nghị kiểm tra, xử lý những cá nhân đã đưa tin không đúng sự thật”.
Vụ thứ hai liên quan đến cái tên Vũ ‘Nhôm’ đang gây sốt trong dư luận. Mặc dù theo lời Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa thì “Tổng bí thư đã trực tiếp yêu cầu Bộ Công an điều tra và trả lời” nhưng đến khi các cơ quan báo chí nhà nước đồng loạt đưa tin Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an ra lệnh khởi tố và khám xét nhà Phan Văn Anh Vũ vào tối muộn ngày 22/12 thì vụ khám xét đã diễn ra hơn một ngày trước đó, còn đồng chí Vũ ‘Nhôm’ thì đã “cao chạy xa bay” từ lúc nào không hay.
Trong hai lực lượng chính của bộ máy công an Việt Nam thì an ninh là lực lượng nắm nhiều quyền lực hơn (giám đốc công an các tỉnh thành phần lớn xuất thân từ an ninh). Hai lần liên tiếp bị an ninh Việt Nam làm cho mất mặt nghĩa là ngài TBT vẫn chưa “nắm” được lực lượng an ninh nói riêng và Bộ Công an nói chung, điều mà ông ta đã (phần nào) thành công với lực lượng cảnh sát.
Bất chấp những tai tiếng về tham nhũng, mà vụ Vũ ‘Nhôm’ mới chỉ là phần nổi của tảng băng, cũng như những tội ác mà họ đã gây ra cho nhân dân, việc đến thời điểm này Bộ Công an chưa hoàn toàn bị Nguyễn Phú Trọng thao túng lại là một chỉ dấu may mắn hiếm hoi đem lại hy vọng cho tương lai đất nước. Lý do ư? Nếu điều ngược lại xẩy ra, ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” sẽ thành công với mưu đồ sử dụng chiêu bài chống tham nhũng để củng cố quyền lực hòng tiếp tục ngự trên “ngôi báu” ít nhất là cho đến hết nhiệm kỳ Đại hội XII, và đất nước sẽ tiếp tục chìm sâu trong vòng xoáy “Hán hoá”.
Suy cho cùng, công an cũng chỉ là công cụ bạo lực của giới lãnh đạo cộng sản. Việc ba nhà lãnh đạo chóp bu của chế độ tự “cơ cấu” vào Đảng uỷ Công an Trung ương là bằng chứng không thể chối cãi cho sự thật đó.
Trước khi trở thành thủ phạm, những người đang khoác quân phục “công an nhân dân” cũng là nạn nhân của một hệ thống tội ác theo cách này hay cách khác.
Vậy nên chừng nào cộng sản Việt Nam còn lo sợ hiện tượng “tự diễn biến, tự chuyển hoá”, chừng đó chúng ta còn có quyền hy vọng vào một kết cục tốt đẹp và vì thế cần thúc đẩy để quá trình ấy diễn ra nhanh hơn trong bộ máy công an./.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

Vũ đi liệu Vũ có về?

Lê Anh Hùng | VOA| 26.12.2017


Cảnh sát khám nhà Vũ 'Nhôm' ở Đà Nẵng.
Có lẽ chưa bao giờ sân khấu chính trị Việt Nam lại đem đến cho công chúng nhiều show diễn giàu kịch tính và cảm xúc như hiện nay.
Dư luận chưa hết xôn xao trước sự kiện Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an công bố kết luận điều tra và truy tố cựu Bí thư Thành uỷ Sài Gòn vào chiều 20/12, tức chỉ 12 ngày sau khi bị bắt, lại rôm rả bàn tán về vụ đại gia Vũ ‘Nhôm’, một ông trùm khét tiếng ở Đà Nẵng, bị khám xét nhà vào chiều tối 21/12.
Thiên hạ càng không khỏi ngạc nhiên khi, mặc dù đã bị khám xét nhà từ chiều, nhưng buổi tối cùng ngày, trả lời đề nghị xác tín thông tin việc Vũ ‘Nhôm’ bị khởi tố và bắt giam, Chánh Văn phòng Bộ Công an nói: “Tôi chưa nắm được thông tin này.” Và mãi đến hơn 21h ngày hôm sau, các cơ quan báo chí nhà nước mới đồng loạt đưa tin Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an đã ra lệnh khởi tố và khám xét nhà Phan Văn Anh Vũ ngày 21/12 trước khi phát lệnh truy nã ngày 22/12, bởi đối tượng đã biến mất.

Sau Vũ là ai?
Mặc dù đã trở thành ông trùm quyền lực ngầm tại Đà Nẵng từ lâu, nhưng cũng phải đến tháng 4/2017, cái tên Vũ ‘Nhôm’ mới thực sự được công chúng Việt Nam chú ý, khi báo chí nêu đích danh anh ta chính là chủ doanh nghiệp đã tặng xe sang cho Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh. (Cuộc chiến giữa hai phe nhóm quyền lực chính tại Đà Nẵng là Bí thư Thành uỷ Nguyễn Xuân Anh và Chủ tịch UBND Huỳnh Đức Thơ lúc bấy giờ đang đến hồi quyết liệt, trong đó Vũ ‘Nhôm’ được cho là thuộc “phe” Nguyễn Xuân Anh.)
Đầu tháng 5, một loạt văn bản đóng dấu “Tuyệt Mật” của Bộ Công an và một số cơ quan khác cùng vô số hình ảnh liên quan được “nhóm phóng viên Công Lý” tung lên mạng khiến thiên hạ tá hoả, không dám tin vào mắt mình, khi thấy Vũ ‘Nhôm’ hoá ra là một “sỹ quan tình báo” mang bí số AV75 thuộc Tổng cục Tình báo Bộ Công an. (Chẳng phải ai khác mà chính tân Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa, trong cuộc gặp mặt các cán bộ quân đội cấp tướng nghỉ hưu trên địa bàn Đà Nẵng ngày 21/12, đã “toạc móng heo” ra rằng Vũ ‘Nhôm’ là một thượng tá công an.)
Núp dưới vỏ bọc giám đốc một “doanh nghiệp bình phong” của Tổng cục Tình báo cùng chiêu bài “phục vụ yêu cầu công tác nghiệp vụ và phát triển tiềm lực của lực lượng tình báo chiến lược”, suốt mười mấy năm liền Vũ ‘Nhôm’ cùng nhóm lợi ích công an đằng sau anh ta đã phù phép để thâu tóm một loạt công sản trị giá hàng chục nghìn tỷ VNĐ. 
Năm 2013, cái tên Phan Văn Anh Vũ từng được nhắc đến trong kết luận của Thanh tra Chính phủ liên quan đến việc quản lý sử dụng đất của TP Đà Nẵng. Nhưng lúc ấy, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, nhân vật được cho là đứng sau lưng Vũ ‘Nhôm’, đã là một quyền lực hàng đầu Việt Nam nên không ai làm gì được.
Ngày 13/5/2017, tức chỉ vài ngày sau khi “nhóm phóng viên Công Lý” phơi bày những “chiến tích” của Vũ ‘Nhôm’, một loạt website mang tên các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước, được cho là do an ninh Việt Nam quản lý, đã đồng loạt đăng bài “Chuyện Phan Văn Anh Vũ nhìn từ góc độ lợi ích quốc gia” nhằm bênh vực anh ta. (Bài viết hiện đã bị gỡ, chỉ còn bản cache trên một số trang mạng.)
Và tất nhiên, khi quyền lực của Chủ tịch nước Trần Đại Quang còn nghiêng ngửa thiên hạ thì viên “thượng tá tình báo” xuất thân từ nghề ‘Nhôm’ kính vẫn cứ ung dung tự tại, bất chấp thực tế là ngày 19/5/2017, báo Công Lý của Toà án Nhân dân Tối cao đã đăng bài “Thủ tướng từng chỉ đạo xác minh, xử lý việc chuyển nhượng đất của ông Phan Văn Anh Vũ”, ngay giữa lúc vô số hình ảnh ăn chơi sa đoạ của anh ta cùng các “đồng chí”, “đồng đội” của mình lan truyền khắp trên không gian mạng, khiến thiên hạ không khỏi kinh hãi.
Mãi đến cuối tháng 9, sau khi ngài cựu Bộ trưởng Công an thất thế do dính vào vụ Trịnh Xuân Thanh, ông trùm Vũ ‘Nhôm’ mới chính thức bị “lên thớt”. Và Tuổi Trẻ là tờ báo “chính thống” đầu tiên khai mào cuộc tấn công nhằm vào “nhóm lợi ích Vũ ‘Nhôm’” bằng bài “Khuất tất trong bán hàng loạt nhà, đất công tại Đà Nẵng?”.
Kết cục khó tránh
Nhà báo Hoàng Hải Vân, cựu tổng thư ký báo Thanh Niên, từng nhận xét: “Ông Nguyễn Xuân Anh và ông Huỳnh Đức Thơ suy cho cùng cũng là nạn nhân của một khối ung nhọt lưu cữu từ thời ông Nguyễn Bá Thanh làm Chủ tịch. […] Nhắc đến ông Nguyễn Bá Thanh có thể là chuyện ‘nhạy cảm’ vì ông ấy đã qua đời, nhưng nếu né tránh những di hại mà ông ấy đã để lại cho Đà Nẵng thì những vấn đề cốt lõi của Đà Nẵng sẽ không bao giờ được xử lý đến nơi đến chốn. […] Bộ máy Đảng và Chính quyền Đà Nẵng đang bị các nhóm lợi ích chi phối, khống chế, tạo thành một khối ung nhọt. Ông Nguyễn Bá Thanh không còn, nhưng các nhóm lợi ích này vẫn tồn tại, không chỉ tồn tại mà ăn sâu vào các chân rết trong bộ máy, không chỉ ở Đà Nẵng mà còn khống chế ở cấp cao hơn, mà sự e ngại của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam là một ví dụ.”
Về Đà Nẵng thay thế Nguyễn Xuân Anh trên cương vị nhà lãnh đạo cao nhất của thành phố biển chiến lược Miền Trung, ông Trương Quang Nghĩa hiểu rõ điều đó hơn ai hết. Nghĩa là, nếu không chế ngự được ông trùm quyền lực ngầm Vũ ‘Nhôm’, chính ngài Bí thư Thành uỷ sẽ bị vô hiệu hoá hoặc tệ hơn nữa là bị nhấn chìm.
Trong bối cảnh ấy, Vũ ‘Nhôm’ bỗng trở thành đối tượng mà nhiều thế lực buộc phải triệt hạ.  Ngoài Bí thư Trương Quang Nghĩa với lý do nêu trên thì Chủ tịch Huỳnh Đức Thơ lại chính là đối thủ mà anh ta đã “gây thù chuốc oán” suốt mấy năm qua. Dĩ nhiên, hai nhân vật này hoàn toàn không đơn độc, bởi họ còn có các thế lực hậu thuẫn ở trung ương. Đặc biệt, viên “thượng tá tình báo chiến lược” có thể được coi là đại diện của nhóm lợi ích công an, một “thành trì quyền lực” mà TBT Nguyễn Phú Trọng, nếu muốn đẩy mạnh chiến dịch “đốt lò” để nuôi hy vọng “bám trụ” trên ngôi vị số 1 ít nhất là cho đến hết nhiệm kỳ, buộc phải “công phá”.
Sự kiện “Thanh về” đã để lại một vết nhơ không biết bao giờ mới phai mờ trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, chưa kể những hệ luỵ lâu dài khác cho đất nước. Trong khi đó, những diễn biến bất ngờ dồn dập trên chính trường thời gian gần đây báo hiệu từ nay đến Hội nghị Trung ương 7 sẽ còn nhiều biến cố khó lường. Nắm trong tay những “bí mật quốc gia” cực kỳ “nhạy cảm”, vai trò của Vũ ‘Nhôm’ lại càng trở nên quan trọng.
Thượng bất chính, hạ tắc loạn.” Không ai đủ tự tin để đưa ra câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi “Vũ có về hay không?”. Vậy nhưng, viễn cảnh mà có lẽ ai cũng nhìn thấy là chừng nào ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn cố thủ trong cái lô cốt “độc tài toàn trị” để tiếp tục sự nghiệp buôn dân bán nước, chừng đó hệ thống còn sản sinh ra thêm những Thanh hay Vũ khác, trước khi đi đến kết cục tất yếu là sụp đổ trong hỗn loạn. Một kết cục chỉ còn được tính bằng năm./.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Bộ Chính trị có chỉ đạo nguỵ tạo một cuộc họp quan trọng?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 26.12.2017


Ở các quốc gia dân chủ, báo chí được coi là “quyền lực thứ tư” trong xã hội, sau ba quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Lý do thì không có gì khó hiểu. “Tiếng nói là quyền lực” (“Voice is power”), trong khi báo chí lại là phương tiện hữu hiệu nhất không chỉ để người dân lên tiếng bày tỏ chính kiến, biểu đạt ý chí và nguyện vọng, mà còn giúp những tiếng nói ấy lan toả, từ đó tạo thành áp lực dư luận, tác động đến các thiết chế quyền lực trong xã hội. Báo chí không chỉ là quyền lực xã hội quan trọng nhất, mà còn là thứ vũ khí hữu hiệu nhất để người dân giám sát cả ba nhánh quyền lực nhà nước nói trên.

Ý thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí nên dưới chế độ cộng sản, báo chí luôn được các đảng cộng sản kiểm soát gắt gao. Và Việt Nam trong “thời đại Hồ Chí Minh” cũng không phải là ngoại lệ. Tất cả các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều chịu sự giám sát đặc biệt của Ban Tuyên giáo Trung ương về nội dung và sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin - Truyền thông. Tổng biên tập các cơ quan báo chí đều là đảng viên cộng sản. Và dĩ nhiên, tư nhân thì có nằm mơ cũng không thấy mình được ra báo.
Điều này vừa giúp nhà cầm quyền cộng sản tránh được sự giám sát đúng nghĩa của báo chí (hay đúng hơn là của nhân dân), vừa biến báo chí thành một công cụ đắc lực để tuyên truyền cho chế độ, ru ngủ dân chúng, định hướng dư luận xã hội.
Và bản chất công cụ phục vụ quyền lực của “báo chí cách mạng” Việt Nam lại được thể hiện trong một sự kiện hi hữu mới đây.
Ngày 8/12, một loạt tờ báo chính thống ở Việt Nam đã đăng những bài viết tuy nhan đề khác nhau nhưng nội dung thì y chang nhau, sử dụng cùng một bức ảnh duy nhất. Hay nói nôm na là tất cả các bài báo đó đều “từ một lò mà ra”.
Nhan đề bài viết trên báo Nhân Dân là “Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp về tăng cường quản lý báo chí, mạng xã hội”, trên báo Tiền Phong là “Điều tra một số đối tượng nhận tiền để viết bài nói xấu chế độ”, trên báo Pháp Luật Việt Nam là “Yêu cầu điều tra đối tượng nhận tiền viết bài nói xấu chế độ trên mạng”, trên báo VietNamNet là “Báo chí vẫn còn hiện tượng ‘đánh hội đồng, giật gân, câu khách’”, trên website của Bộ Công an là “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp về tăng cường quản lý báo chí, mạng xã hội”, v.v.
Nội dung các bài báo y chang nhau đó là về việc Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp về công tác tăng cường quản lý báo chí và mạng xã hội tại trụ sở chính phủ vào sáng ngày 7/12. Thành phần tham gia cuộc họp phải nói khá đa dạng: ngoài ông Võ Văn Thưởng (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương) và ông Vũ Đức Đam (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ) còn có đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương của hệ thống chính trị. Chừng đó đủ nói lên tầm quan trọng của cuộc họp.
Tuy nhiên, quan trọng là vậy, nhưng đây lại là một cuộc họp rất đáng ngờ, vì những lý do sau.

Ảnh chụp bài viết trên website Bộ Công an. (Screenshot by Lê Anh Hùng)
Thứ nhất, mặc dù là một cuộc họp dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ, với sự tham gia của Phó Thủ tướng phụ trách văn hoá - xã hội và đặc biệt là Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nhưng chương trình thời sự VTV 19h ngày 7/12 lại không đưa tin về sự kiện quan trọng này, và mãi đến chiều ngày 8/12 một số báo mới đăng tải. Trong khi đó, các hoạt động của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là những cuộc họp tương tự, trước nay luôn được các tờ báo điện tử đưa tin ngay sau khi sự kiện kết thúc, còn VTV thì phát tin trong chương trình thời sự 19h cùng ngày.
Thứ hai, mặc dù một số báo nêu thành phần tham gia cuộc họp rất đông, nhưng trong bức ảnh duy nhất với chú thích “Toàn cảnh cuộc họp” lại cho thấy sự hiện diện của vỏn vẹn 4 người, bao gồm Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng cùng hai sỹ quan quân đội mặc quân phục.
Thứ ba, trong số những website hiển thị thời gian đăng bài thì thời gian hiển thị trên trang web của báo Nhân Dân cho thấy đây là tờ báo đăng bài viết nói trên sớm nhất, cụ thể là vào hồi 3h14 ngày 8/12. Vậy nhưng, các trang báo khác như Tiền Phong hay VietNamNet lại ghi nguồn bài viết là từ Cổng Thông tin Điện tử Bộ Công an chứ không phải từ báo Nhân Dân, còn tờ Pháp Luật Việt Nam thì lại ghi “P. Luật” vào chỗ đề tên tác giả cuối bài viết, mà chắc không ai nghĩ đó là tên tác giả.
Thứ tư, bài viết trên website của Bộ Công an lại có hai chỗ sử dụng phông chữ nghiêng và in đậm là: “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc biểu dương Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) có giải pháp từng bước giám sát MXH, đưa ra các chủ trương, giải pháp kỹ thuật để bảo đảm công tác này” và “Bộ Công an cần điều tra một số đối tượng chuyên nhận tiền để viết bài bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu chế độ trên mạng. Chủ động hơn, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng, không để lợi dụng dân chủ, tự do để xâm phạm an ninh quốc gia”.
Theo thông lệ Việt Nam, căn cứ vào thành phần tham dự cuộc họp, có thể khẳng định ngay đây là cuộc họp do Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư chỉ đạo, bất kể nó có diễn ra hay không.
Trong khi đó, mặc dù một số tờ báo cũng như website của Bộ Công an đưa tin, song thật kỳ lạ là cả trên Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ lẫn trang mạng chính thức của Thủ tướng Chính phủ đều không đề cập gì đến một cuộc họp quan trọng của người đứng đầu chính phủ Việt Nam.
Phải chăng cuộc họp trên là nguỵ tạo? Và vì sao nhà chức trách Việt Nam lại phải nguỵ tạo một cuộc họp quan trọng như thế?