Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

‘Mật ước Thành Đô’: nên hiểu thế nào?

Lê Anh Hùng | VOA| 13.12.2017



Hội nghị Thành Đô là một chủ đề gây rất nhiều tranh cãi ở Việt Nam cũng như trong các cộng đồng người Việt hải ngoại suốt nhiều năm qua.
Chỉ 4 ngày sau khi được Đại sứ Trung Quốc thông báo, ba nhà lãnh đạo Việt Nam là TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đã có mặt tại Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) vào đúng ngày Quốc khánh lần thứ 45, trong khi Đặng Tiểu Bình thậm chí không thèm xuất hiện như lời hứa hẹn lấp lửng ban đầu.
Bối cảnh
Cuối thập niên 1980, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bắt đầu chao đảo trước khi sụp đổ hàng loạt.

Về phần mình, mặc dù đã thực hiện cải cách kinh tế từ sau Đại hội VI nhưng Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng về chính trị - kinh tế - xã hội vốn bắt đầu ngay từ năm 1975.
Lo sợ cho số phận của mình và tự huyễn hoặc “dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước XHCN”, một số nhân vật chủ chốt trong ban lãnh đạo CSVN, đứng đầu là TBT Nguyễn Văn Linh, đã quay sang ôm chân các ông chủ Trung Nam Hải, bất chấp thực tế là trước đó Bắc Kinh đã đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động cuộc chiến tranh biên giới từ 1979 - 1989, thảm sát 64 quân nhân Việt Nam rồi chiếm đảo Gạc Ma năm 1988.
Mật ước Thành Đô?
Từ nhiều năm trước, trong dư luận đã lan truyền thông tin rằng kết quả Hội nghị Thành Đô là một bản mật ước, theo đó lãnh đạo CSVN đề nghị và lãnh đạo Trung Quốc đồng ý để Việt Nam trở thành một khu vực tự trị của Trung Quốc.
Đến tháng 5/2014, một số trang mạng thậm chí còn đăng tải nội dung của bản “mật ước” (được cho là do Hoàn Cầu Thời Báo và Tân Hoa Xã công bố): “…Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…”
Đâu là sự thật?
Trong cuốn hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của mình, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã tiết lộ: “Sau 2 ngày nói chuyện (3 - 4/9/1990), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là ‘Biên bản tóm tắt’ gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.”
Nghĩa là, Hội nghị Thành Đô kết thúc song việc bình thường hoá quan hệ hai nước, điều mà ban lãnh đạo Việt Nam nóng lòng mong đợi, vẫn chưa chốt lại được. Vì thế, giả thuyết về bản “mật ước” kia rõ ràng là thiếu cơ sở.
Thậm chí ngay cả “Biên bản tóm tắt” 8 điểm nói trên cũng không được phía Việt Nam thực hiện đầy đủ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự phản đối của Bộ Ngoại giao dưới quyền Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, với sự đồng tình của một vài uỷ viên Bộ Chính trị khác, như Thứ trưởng Trần Quang Cơ đã thuật lại trong hồi ký. (Trong cuộc họp kiểm điểm về Hội nghị Thành Đô, Phó Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “…Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”)
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974-1987) cho biết là mặc dù cùng 19 cựu sỹ quan cao cấp khác ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu minh bạch hóa Hội nghị Thành Đô song ông cũng không tin vào thông tin phía Trung Quốc đưa ra.
Đại tá Nguyễn Văn Tuyến (cán bộ tiền khởi nghĩa và là thành viên sáng lập CLB chống tham nhũng, tiêu cực của các vị lão thành cách mạng ở Hà Nội) cho chúng tôi biết là trong một cuộc gặp với Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh, khi ông đề cập đến “Mật ước Thành Đô”, ông Huynh khẳng định đích thân ông ta đã vào kho lưu trữ của đảng để tìm nhưng không hề thấy bản “mật ước” đó. (Lãnh đạo cộng sản nói thì không hẳn là đáng tin, song điều đó không có nghĩa là họ chưa bao giờ nói thật. Và sự khẳng định của nhân vật số 5 trong ban lãnh đạo Việt Nam phù hợp với logic ở trên, cũng như với một tài liệu được cho là của Ban Tuyên giáo Trung ương năm 2014 nhằm giải thích về Hội nghị Thành Đô.)
Toan tính gì?
“Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán.” Thông tin về “Mật ước Thành Đô” được Bắc Kinh tung ra ngay giữa lúc họ đưa giàn khoan HD981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 2/5 đến 15/7/2014. Rõ ràng, họ muốn qua đó để biện hộ cho hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam, gây chia rẽ trong ban lãnh đạo CSVN, khiến người Việt trong và ngoài nước bị phân hoá, và cuối cùng là làm suy yếu nỗ lực của Hà Nội trong việc chống lại hành vi ngang ngược đó.
Mặc dù nội dung cụ thể của “Mật ước Thành Đô” được Bắc Kinh “tiết lộ” vào thời điểm họ đưa giàn khoan HD981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhằm mục đích như chúng tôi đã đã chỉ ra, song thông tin về sự tồn tại của nó thì đã xuất hiện từ lâu. Vậy động cơ của họ là gì?
Quả thực, không khó để nhận ra toan tính của Bắc Kinh khi cho lan truyền thông tin về “Mật ước Thành Đô”. Đây thực sự là một mũi tên trúng nhiều đích theo đúng bản chất “thâm như Tàu” của họ: (i) khiến những người Việt tâm huyết với công cuộc chống bành trướng Trung Quốc nản lòng (do nghĩ rằng mọi nỗ lực đều vô ích bởi cái văn kiện bán nước kia); (ii) làm phân tâm những người chống hiểm hoạ Trung Quốc tại Việt Nam (thay vì lẽ ra cần tập trung vào việc vạch trần và ngăn chặn bàn tay tội ác của “nhóm lợi ích Tàu” trong bộ máy hiện hành thì họ lại phung phí thời gian và công sức vào việc tranh cãi hoặc lên án và đòi bạch hoá một chuyện không có thật trong quá khứ); và (iii) khiến cho người dân bình thường không tin tưởng vào truyền thông phi chính thống (khi thấy trên mạng toàn loan truyền những thông tin nhảm nhí).
Không chỉ nặn ra cái gọi là “Mật ước Thành Đô”, Bắc Kinh thậm chí còn dựng lên cả một câu chuyện kỳ bí qua tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” của Hồ Tuấn Hùng. Theo đó, Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Sinh Cung (nguyên quán Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An), mà là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. (Ngoài những mục đích nêu trên, điều này còn giúp dọn đường dư luận để “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải ngày càng “chui sâu, leo cao” và cuối cùng là thâu tóm chiếc ghế Tổng Bí thư.)
Không còn nghi ngờ gì, “Mật ước Thành Đô” là một câu chuyện bịa đặt nhằm phục vụ mưu đồ đen tối của Trung Nam Hải. Việc nhà cầm quyền CSVN không công khai Thoả thuận Thành Đô là vì đó không chỉ là một thất bại nhục nhã trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, mà còn là bằng chứng không thể chối cãi về hành vi “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ” của họ. Chỉ chừng ấy thôi họ đã bị lịch sử và nhân dân đời đời lên án, chứ đừng nói đến chuyện mưu toan biến Việt Nam thành một bộ phận của “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Ngoài ra, ngay cả khi “Mật ước Thành Đô” là sự thật đi nữa thì nó cũng không có giá trị pháp lý, bởi nó không tuân theo những trình tự pháp lý thông thường của một hiệp ước giữa hai quốc gia. Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hoàn toàn không đủ chính danh để đóng dấu hiệu lực vào một hiệp ước vô cùng hệ trọng như thế. Trong khi đó, những người ký kết “mật ước” đó hoặc đã chết, hoặc gần như không còn ảnh hưởng trên chính trường, nên nó lại càng vô giá trị.
Trong một bài viết trước đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng, nếu các bản tuyên bố chung Việt - Trung xưa nay luôn được Hà Nội thực hiện đúng thì Việt Nam đã trở thành “một bộ phận không thể tranh cãi của Trung Quốc” từ lâu, chứ chẳng cần phải đợi đến khi “Mật ước Thành Đô” được thi hành. Điều này không xẩy ra bởi thực tế là trong ban lãnh đạo Việt Nam luôn tồn tại những thành phần ý thức được hiểm hoạ phương bắc mà Bắc Kinh chưa thao túng được (chẳng hạn như Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt trong “Hồi ức và Suy nghĩ”), bên cạnh áp lực từ một công chúng vốn ngày càng bộc trực và “dị ứng” với những gì liên quan đến Trung Quốc.
Bất luận thế nào, việc đất nước chúng ta ngày càng bị các gọng kìm của Đại Hán siết chặt như hiện nay không phải là vì “Mật ước Thành Đô” kia, mà chính là vì 90 triệu người Việt, đặc biệt là những tinh hoa của giống nòi, đã làm chưa đủ để bảo vệ giang sơn gấm vóc mà tổ tông đã đổ bao máu xương để dựng xây, gìn giữ.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

Đằng sau vụ La Thăng

Lê Anh Hùng | VOA| 11.12.2017



Chính trường cộng sản Việt Nam xưa nay vốn hết sức phức tạp và khó lường. Đó là thực tế mà có lẽ người Việt nào cũng nhận ra.
Phức tạp là bởi các màn so đấu giữa các võ sỹ quyền lực đều diễn ra trên những vũ đài bị nhiều lớp màn đen che chắn, công chúng bên ngoài không thể nhìn thấy gì. Khó lường là bởi bàn tay lông lá của Bắc Kinh đã thò vào mọi ngóc ngách của thượng tầng chính trị Việt Nam, không phải mới gần đây mà ngay từ thập niên 1950.
Rốt cuộc thì quyền lực chính trị dưới “thời đại Hồ Chí Minh” cũng chỉ được các phe nhóm thoả hiệp với nhau trong bóng tối. Người dân chỉ còn mỗi nghĩa vụ cao cả là đi bỏ phiếu (mà nếu không đi thì cũng chẳng sao), đại biểu quốc hội hay đại biểu hội đồng nhân dân chỉ còn mỗi trách nhiệm thiêng liêng là hoặc nhất tề giơ tay hoặc đồng loạt “nhấn nút” để đóng cái dấu “dân chủ xã hội chủ nghĩa” vào sự phân chia ngôi thứ vốn đã xong từ lâu.

Trong bối cảnh đó, vụ cựu Uỷ viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị bắt quả thực là bất ngờ đối với dân chúng, không chỉ bởi đây là sự kiện chưa từng có, mà còn bởi những gì diễn ra trên sân khấu chính trị Việt Nam kể từ Hội nghị Trung ương 6 thượng tuần tháng 10 đến nay.
Vậy đằng sau sự kiện chấn động dư luận ấy là gì?
Nguyễn Phú Trọng lấy lại uy thế
Trên thế gian này hiếm có một nhà lãnh đạo quốc gia nào mà quyền lực cứ hết trồi lại sụt như đương kim TBT Ban Chấp hành TW Đảng CSVN. Điều này giải thích cho lý do tại sao khi thì ông ta tuyên bố hùng hồn như một nhà độc tài quyền uy tuyệt đối, khi thì phát ngôn như một diễn viên mới tấp tểnh bước vào nghề tấu hài chính trị.
Suốt gần 5 năm hết loay hoay “nhóm” lại đến hì hục “thổi”, cái “lò” chống tham nhũng của ngài TBT cứ hễ hơi âm ấm một chút là lại rơi vào cảnh nguội ngắt không lâu sau đó. Lý do ư? Chẳng phải chính ông ta đã “tự thú trước bình minh”là “Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà tay đã nhúng chàm thì không thể chống được tham nhũng” hay sao?
Và mãi đến ngày 31/7, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng, khi ngài vung tay quả quyết “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy”, lần đầu tiên người ta mới nhận thấy sức nóng từ cái “lò” của ngài đã bắt đầu toả ra bên ngoài.
Trước thềm Hội nghị Trung ương 6, “lò” chống tham nhũng của ngài TBT đã khiến bầu không khí chính trị Việt Nam nóng lên từng ngày. Điều đó khiến nhiều người chắc mẩm là trong và sau hội nghị, thể nào cũng được chứng kiến những “khúc củi” bự bị ngài thẳng tay ném vào “lò”.
Khí thế đi lên của nhân vật đứng đầu “cung vua” thể hiện rõ qua bài diễn văn khai mạc Hội nghị, khi ông ta ‘dìm hàng’ “phủ chúa” dưới sự điều hành của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đối thủ đáng kể nhất của ông ta trong bối cảnh Chủ tịch nước Trần Đại Quang chỉ còn sắm vai “ông phỗng”trên sân khấu chính trị: “Đặc biệt là cần chỉ rõ nguyên nhân vì sao một số việc chưa làm được, một số chỉ tiêu đạt thấp hoặc chưa đạt trong 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước, mặc dù tình hình trong nước và quốc tế năm 2017 nhìn chung thuận lợi hơn so với năm 2016.”
Vậy nhưng đó cũng là chỉ dấu duy nhất cho thấy một Nguyễn Phú Trọng quyền uy tột đỉnh trong suốt hơn 1 tuần hội nghị.
Chứng kiến “khúc củi” duy nhất mang tên Nguyễn Xuân Anh bị tống vào “lò”, cùng câu chốt hạ “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm” trong bài diễn văn bế mạc hội nghị, người ta không khỏi có cảm giác là vở tuồng “Đốt Lò” do ngài TBT đạo diễn đã sớm hạ màn. Đặc biệt, phần đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội dưới sự điều hành của chính phủ là một bảng thành tích hiếm hoi mà có lẽ lần đầu tiên “cung vua” ban tặng cho “phủ chúa”, hoàn toàn tương phản với âm hưởng của bài diễn văn khai mạc. Rõ ràng, song song với chiều hướng đi xuống của “cung vua” là vị thế đi lên của “phủ chúa”.
Sau Hội nghị Trung ương 6, khẩu khí của Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chùng xuống, khác hẳn với khí thế mà ông ta đã thể hiện từ ngày 31/7 cho đến ngày khai mạc hội nghị. Thiên hạ thì cứ đoán già đoán non vì sao cái “lò” của ngài Trưởng ban đang hừng hực đột nhiên lại tắt ngóm.
Trong bối cảnh đó, ngày 15/11, Thanh tra Chính phủ tổ chức họp báo công bố việc Hà Nội để thất thu số tiền lên tới 6.000 tỷ VNĐ từ hàng loạt sai phạm trong các dự án nhà ở giai đoạn 2002-2014. Nên nhớ, ông Trọng từng làm Bí thư Hà Nội từ năm 2000 đến 2006, và lâu nay trong dư luận vẫn râm ran chuyện ông ta từng nhận 2 căn biệt thự trong khu đô thị Nam Thăng Long để giúp chủ đầu tư Ciputra trốn thuế. Động thái này vì thế được xem là của các đối thủ nhằm “dằn mặt” ngài TBT.
Tiếp theo, ngày 19/11, một sự kiện hy hữu đã diễn ra trong chương trình thời sự 19h của VTV: tin Thủ tướng Chính phủ tham dự Hội nghị xúc tiến đầu tư tại Bắc Kạn được phát trước tin Tổng Bí thư kiểm tra công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Đây là chỉ dấu để những ai am hiểu nội tình Ba Đình nhận ra rằng Nguyễn Phú Trọng đã thất thế.
Và sau cuộc tiếp xúc cử tri tại Hà Nội ngày 29/11, ngài TBT đột nhiên “im hơi lặng tiếng” suốt 8 ngày tiếp theo. Hiện tượng bất thường của người đứng đầu chính thể cộng sản tại Việt Nam khiến nhiều người phải đặt câu hỏi: “Ông Trọng đang ở đâu?”
Sự kiện ông Trọng bất ngờ xuất hiện trở lại trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 8/12 và vụ Đinh La Thăng bị bắt sau đấy không che dấu được thực tế là suốt hai tháng trước đó, quyền lực của ngài TBT liên tục đi xuống và rơi xuống mức thấp nhất kể từ khi ông ta tiếp quản ngôi vị số 1 đầu năm 2011. (Chúng tôi sẽ phân tích về “sự biến 8/12” này trong một dịp thích hợp.) Và vị thế của ông ta cũng chỉ mới “trồi” lên được hơn một ngày thì đã “sụt” trở lại: Trong một diễn biến chưa từng có, tối mồng 9 tháng 12, TTX Việt Nam cùng một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đã đăng bài “cáo lỗi” vì đưa tin sai về vụ hai cựu Tổng Giám đốc PVN Phùng Đình Thực và Đỗ Văn Hậu bị khởi tố và bắt giam chỉ vài giờ trước đó.
Mọi khả năng còn để ngỏ
Tuy Đinh La Thăng đã bị bắt nhưng nếu cho rằng số phận viên cựu Bí thư Sài Gòn coi như đã an bài thì e là vội vã. Nhận định này xuất phát từ ít nhất 3 lý do dưới đây.
Thứ nhất, như chúng tôi đã trình bày đầu bài viết, chính trường Việt Nam vô cùng phức tạp và khó lường, trong khi ngài TBT khả kính của chúng ta lại là nhà lãnh đạo quốc gia hiếm hoi trên thế giới mà quyền lực cứ liên tục hết thăng lại giáng. (Đó là xét trên bình diện thế giới, chứ còn trong lịch sử Việt Nam thì ông ta là nhân vật “độc nhất vô nhị”.)
Thứ hai, ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” có một “tử huyệt” không những đủ khiến ông ta bị hất khỏi chiếc ghế TBT mà còn giúp ông ta sánh ngang với những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc trong lịch sử. Đó là việc ông ta, trên cương vị Chủ tịch Quốc hội, đã phê chuẩn “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải làm Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế từ ngày 2/8/2007 rồi đưa nhân vật cầm đầu “nhóm lợi ích Tàu” tại Việt Nam này vào chễm chệ trong Bộ Chính trị và làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Thủ đô từ sau Đại hội XII đến nay. (Vấn đề đối với các đối thủ của ngài TBT đơn giản là vì “tử huyệt” này quá ư “nhạy cảm”, “nhạy cảm” hơn bất cứ chuyện gì ở Việt Nam nhiều năm qua.)
Thứ ba, mặc dù đã bị khởi tố và bắt giam, nhưng Đinh La Thăng mới chỉ bị “tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội” và “đình chỉ sinh hoạt đảng”. Quyết định số 63-QĐNS/TW về việc “đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đồng chí Đinh La Thăng” do Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính ký ghi rõ: “Thời hạn đình chỉ được tính theo thời hạn quy định của pháp luật (kể cả gia hạn, nếu có).” Nghĩa là, Đinh La Thăng hoàn toàn có thể “trắng án” trước khi được khôi phục tư cách đảng viên, tư cách ĐBQH lẫn các chức vụ trong bộ máy, bởi ông ta chưa bị “khai trừ” hay “cách” bất cứ chức vụ nào. (Điều này đã từng xẩy ra với cựu Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến năm 2008 trong vụ bê bối PMU18, sau khi bị giam 18 tháng. Việc Nguyễn Việt Tiến cuối cùng vẫn bị lột hết chức vụ chỉ là vì Nông Đức Mạnh sau khi “thoát hiểm” vụ PMU18 lại trở thành đối tượng trong một tố cáo đặc biệt nghiêm trọng nên chỉ còn biết giương mắt nhìn đệ tử ruột bị đối thủ “làm thịt”.)
Tóm lại, sự kiện Đinh La Thăng bị bắt ngày 8/12 và vụ một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đăng bài “cáo lỗi” chỉ một ngày sau đó báo hiệu từ nay đến Hội nghị Trung ương 7 sẽ còn những diễn biến hết sức khó lường. Cán cân quyền lực giữa các phe nhóm có thể thay đổi mau lẹ chỉ trong một sớm một chiều.
Dù vậy cũng không quá khó để hình dung ra ba kịch bản khả dĩ cho Nguyễn Phú Trọng tại kỳ hội nghị trung ương đặc biệt quan trọng sắp tới.
Ông ta hoặc sẽ tạo được vị thế của một Tập Cận Bình “made in Vietnam” trước và trong hội nghị hầu bảo toàn ngôi vị số 1 của mình đến hết nhiệm kỳ, hoặc sẽ buộc phải chia tay khu nhà 1A Hùng Vương song vẫn có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn người kế vị theo ý chỉ của Trung Nam Hải, hoặc sẽ bị thất thế và buộc phải bàn giao chiếc ghế quyền lực nhất Việt Nam cho đối thủ rồi trở về “làm người tử tế”.
Và cả ba kịch bản nêu trên đều phụ thuộc quyết định vào việc ngài TBT múa may thế nào với thanh “bảo kiếm” mang tên Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng Trung ương.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Cải cách kinh tế và xung đột lợi ích ở Việt Nam

Lê Anh Hùng | VOA| 7.12.2017



Tại hội nghị tổng kết ngành tài chính ngày 6/1/2017, lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đưa ra những cảnh báo về thực trạng nền tài khoá quốc gia: “Chi thường xuyên tăng rất nhanh khiến ngân sách căng thẳng”,  “Nợ công theo báo cáo sát trần nhưng nếu tính đầy đủ thì vượt trần cho phép”, và đặc biệt là “[…] nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ nền tài khóa quốc gia không thể tránh khỏi”.
Thực trạng trên khiến người ta không khỏi liên tưởng tới bối cảnh đất nước trước thềm Đại hội VI năm 1986: hệ thống hiện hành đang ở vào thế tựa chân tường, không còn cách nào khác hơn là phải cải cách, và không có lý do gì để trì hoãn cải cách. Bản thân người đứng đầu chính phủ Việt Nam cũng đã khẳng định quyết tâm xây dựng chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và phục vụ. Điều này đồng nghĩa với việc phải hạn chế tối đa và tiến tới cơ bản chấm dứt hoạt động kinh doanh của chính phủ, bởi đó không phải là chức năng của một chính phủ như thế. Tuy nhiên, thực tế diễn ra lại không hề đơn giản.

Từ chuyện quân đội làm kinh tế…
Một trong những tín hiệu cải cách đáng chú ý là tại buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ với lãnh đạo TP HCM sáng 23/6, Thượng tướng/Thứ trưởng Quốc phòng Lê Chiêm đã phát biểu: “Hiện nay đã có một chủ trương của Bộ Quốc phòng là quân đội sẽ không làm kinh tế nữa, mà tập trung cho xây dựng quân đội chính quy hiện đại, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân. Tất cả doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn chuyển ra bên ngoài.”
Những hệ luỵ của việc quân đội làm kinh tế đã được dư luận nói đến quá nhiều: bên trong thì nó làm suy yếu sức chiến đấu của quân đội, còn bên ngoài thì nó khiến cho nền kinh tế mất đi tính cạnh tranh, động lực quan trọng nhất giúp cho kinh tế nước nhà phát triển lành mạnh, bền vững.
Phát biểu của Thượng tướng Lê Chiêm vì thế được dư luận rất hoan nghênh, đặc biệt là trong bối cảnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đối tượng tác chiến gần như duy nhất của quân đội Việt Nam, đã bị cấm tham gia hoạt động kinh tế từ năm 1998, và đến tháng 11/2015 thì ngay cả các hoạt động cung cấp dịch vụ dân sinh cũng bị cấm nốt.
Tuy nhiên, niềm vui ngắn chẳng tày gang. Chưa đầy nửa tháng sau, ngày 12/7, tại buổi làm việc với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch đã phán một câu xanh rờn: “Quân đội làm kinh tế là chủ trương đúng đắn!”
Và trước một bầu đoàn hùng hậu gồm một Đại tướng/Bộ trưởng Quốc phòng, hai Thượng tướng/Thứ trưởng Quốc phòng, một Chuẩn đô đốc/Tư lệnh Hải quân, một Trung tướng/Tư lệnh Quân khu cùng Chủ tịch UBND TP HCM, Chuẩn Đô đốc/TGĐ Tân Cảng Sài Gòn Nguyễn Đăng Nghiêm đã trịnh trọng phát biểu:
“Đến nay có thể khẳng định một điều, chúng tôi từ khu vực quân sự chuyển sang kinh doanh đã trở thành những người lính trên mặt trận kinh tế.”
Đó là thực tế mà viên Chuẩn Đô đốc cùng đội ngũ tướng lĩnh hùng hậu bậc nhất thế giới của Việt Nam dường như rất lấy làm tự hào, còn công chúng thì hẳn khó tránh khỏi cảm giác chua chát, khi thấy Hải quân Nhân dân Việt Nam xem ra không còn tha thiết gì với nhiệm vụ thiêng liêng là bảo vệ biển đảo quốc gia nữa.
Đến ngày 14/11, trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội, chính Thượng tướng Lê Chiêm lại quả quyết: “Không những cần duy trì quân đội làm kinh tế mà còn phải đẩy mạnh!”
Và tại phiên thảo luận về dự án Luật Quốc phòng sửa đổi diễn ra sáng 24/11, đội ngũ tướng lĩnh hùng hậu hiện diện trong Quốc hội lại đòi “thể chế hoá” vấn đề quân đội làm kinh tế. Thiếu tướng Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chính ủy Quân khu 7, cho rằng việc quân đội làm kinh tế sẽ làm “gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng, từ đó gia tăng sức mạnh quốc gia”. Còn Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch thì khẳng định: “Quy định Quân đội nhân dân thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và cụ thể hóa Điều 68 của Hiến pháp năm 2013.”
…đến việc cổ phần hoá DNNN và thoái vốn nhà nước khỏi doanh nghiệp
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và thoái vốn nhà nước khỏi các doanh nghiệp là đòi hỏi bức thiết nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế.
Ngoài lý do nêu trên, cổ phần hoá DNNN trong năm 2017 còn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng bởi đến năm 2018, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ đánh giá xem Việt Nam đã hội đủ những điều kiện của một nền kinh tế thị trường hay chưa, đặc biệt là việc cải cách các thể chế kinh tế, nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
Theo kế hoạch mà Chính phủ phê duyệt, năm 2017 số DNNN phải cổ phần hoá là 44. Tuy nhiên, chương trình thời sự VTV 19h ngày 3/12 lại cho biết là mặc dù đã qua 11 tháng nhưng số DN được cổ phần hoá mới chỉ là 21. Trong vòng một tháng nữa phải hoàn thành cổ phần hoá hơn một nửa số DN còn lại – một nhiệm vụ hầu như bất khả thi.
Còn việc thoái vốn nhà nước khỏi các doanh nghiệp thì sao?
Xin thưa, đích thân Tổng Kiểm toán Nhà nước Hồ Đức Phớc đã trả lời câu hỏi đó tại phiên thảo luận tổ của các ĐBQH ngày 24/10 vừa qua: “Bán hết vốn Nhà nước, nhiệm kỳ sau lấy gì mà tiêu?”
Đâu là nguyên do?
“Gang không mật mỡ, kiến bò chi.” Điều đó giải thích cho lý do tại sao việc cải cách trong khu vực DNNN lại khó khăn đến vậy.
Vì “mật mỡ” trong các doanh nghiệp quân đội nên các quan chức quốc phòng đã chơi trò “lập lờ đánh lận con đen” giữa khái niệm “làm kinh tế” theo nghĩa “tăng gia sản xuất” (điều nên khuyến khích) với “làm kinh tế” theo nghĩa kinh doanh (điều cần phải nghiêm cấm).
Thật mỉa mai, tuy viện lý do là “thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng” nhưng họ lại không chỉ vứt cả một nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào sọt rác, mà thậm chí là làm trái hoàn toàn với nghị quyết còn hiệu lực đó.  
Hội nghị Trung ương 4 khóa X hạ tuần tháng 1 năm 2007 đã quyết nghị việc chuyển các doanh nghiệp làm kinh tế đơn thuần thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội sang các cơ quan nhà nước quản lý từ năm 2007.
Vậy nhưng kể từ đó đến nay, các doanh nghiệp quân đội không những không được chuyển sang cho các cơ quan dân sự quản lý, mà còn không ngừng phình ra về cả về quy mô lẫn số lượng, trở thành một nền kinh tế có quy mô suýt soát bằng GDP của Campuchia, hay 1,5 lần GDP của Lào.
Quân đội vốn là một nhóm lợi ích lâu đời và luôn nhận được chế độ đãi ngộ đặc biệt, đằng sau họ lại có sự hậu thuẫn của Tổng Bí thư kiêm Bí thư Quân uỷ Trung ương, nên không có gì lạ khi họ quyết liệt bảo vệ lợi ích của mình bất chấp lợi ích của đất nước.
Lý do bên ngoài của việc chậm trễ cổ phần hoá DNNN thì nhiều, nhưng bên trong thì hầu như chỉ có một: đó là sự sự níu kéo của những tổ chức, cá nhân có lợi ích gắn liền với doanh nghiệp được CPH.
Vậy còn động cơ đằng sau câu phát biểu của Tổng Kiểm toán Nhà nước là gì? Câu trả lời cũng là lợi ích nốt.
Theo Luật Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước được quyền kiểm toán các doanh nghiệp có phần vốn nhà nước. Và kiểm toán doanh nghiệp thì lại là nhiệm vụ nhiều “mật mỡ” nhất trong các hoạt động của Kiểm toán Nhà nước. Thế cho nên, câu phát ngôn của người đứng đầu cơ quan kiểm toán nhà nước cần được hiểu là: “Bán hết vốn nhà nước thì lấy gì mà ‘kiểm toán’ đây?”
Ai đó có thể “thắc mắc” rằng Kiểm toán Nhà nước chỉ là một cơ quan ngang bộ, còn Tổng Kiểm toán Nhà nước chỉ là một Uỷ viên Trung ương Đảng, sao ông ta dám “cả gan” công khai chống lại một chủ trương đúng đắn và đặc biệt là rất cần thiết của Chính phủ?  
Câu trả lời ở đây là, theo Luật Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc Quốc hội, còn Tổng Kiểm toán Nhà nước thì do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Cựu Thủ tướng Anh Tony Blair từng nói: “Mọi cuộc cải cách đều khó khăn, càng gặp kháng cự, càng cho thấy cuộc cải cách đó là cải cách thực sự.”
Vậy nên, trong giai đoạn quyết định hiện nay, những người thực tâm chủ trương cải cách vì nước, vì dân cần phải quyết đoán hơn nữa. Sau lưng họ là 90 triệu đồng bào đang từng ngày từng giờ mong chờ sự thay đổi đến với một đất nước không chỉ đã nếm trải quá nhiều đau thương với hệ thống hiện hành, mà còn đang đứng trước hiểm hoạ Đại Hán ngày một hiện lên lồ lộ.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

Thứ trưởng kiêm đại sứ và thất bại mang tên Campuchia

Lê Anh Hùng | VOA| 1.12.2017


Biểu tình chống VN tại Phnom Penh ngày 11/8/2014
Ngày 17/11, tại Quyết định số 1838/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã bổ nhiệm ông Vũ Quang Minh, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để làm Đại sứ Việt Nam tại Campuchia.
Với quyết định trên, ông Vũ Quang Minh hiện là một trong 6 Thứ trưởng Ngoại giao đảm nhiệm vai trò đại diện chính thức cho Việt Nam trên thế giới. Ngoài Thứ trưởng Vũ Quang Minh, Bộ Ngoại giao Việt Nam còn có Thứ trưởng Đặng Minh Khôi làm Đại sứ tại Trung Quốc, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh làm Đại sứ tại Mỹ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn làm Đại sứ tại Liên bang Nga, Thứ trưởng Nguyễn Bá Hùng làm Đại sứ tại Lào, Thứ trưởng Nguyễn Phương Nga làm Đại sứ, Đại diện Thường trực tại Liên Hiệp Quốc.

Người tiền nhiệm của ông Vũ Quang Minh là ông Thạch Dư cũng được bổ nhiệm Thứ trưởng Ngoại giao trước khi trở thành Đại sứ Việt Nam tại Campuchia từ năm 2014 đến 2017. (Thật mỉa mai, trong khi lãnh đạo CSVN thường vỗ ngực tự hào về “vị thế ngày càng cao” của Việt Nam thì một loạt thứ trưởng ngoại giao lại đảm trách vai trò đại sứ tại cả những quốc gia như Lào hay Campuchia.)
Từ nơi núi xương người Việt chất đống…
Nhìn vào danh sách trên người ta dễ nhận ra ngay là Campuchia được Hà Nội coi là một quốc gia rất quan trọng trong chính sách ngoại giao của mình.  
Điều này còn được thể hiện trong các chuyến thăm cấp cao của Hà Nội sang Phnom Penh, với tuần suất thăm viếng thuộc vào loại cao nhất trên thế giới. Chẳng hạn, trong năm 2017, trước chuyến viếng thăm đất nước chùa tháp từ ngày 20-22/7 của TBT Nguyễn Phú Trọng là chuyến công du Campuchia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từ ngày 24-26/4. Còn năm ngoái, sau chuyến công du của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vào trung tuần tháng Sáu là chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân vào hạ tuần tháng Chín.
Đặc biệt, sự giúp đỡ mà Việt Nam dành cho Campuchia thì không thể nào đong đếm nổi. Hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống trên đất Campuchia, chưa kể gần hai trăm ngàn người bị thương khác, khi nhà cầm quyền Việt Nam đưa quân sang đây để giúp quốc gia láng giềng thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Viện trợ bằng vật chất suốt từ bấy đến nay thì không thể nào liệt kê hết.
Gần đây nhất, nhân chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng năm ngoái, Việt Nam đã tặng Quốc hội Campuchia món quà là công trình nhà làm việc dành cho ban thư ký và các ủy ban Quốc hội trị giá 25 triệu USD.
…thành vũ khí đe doạ Việt Nam của Bắc Kinh
Hao tổn không biết bao nhiêu xương máu, tiền của, thời gian, công sức như vậy… nhưng rốt cuộc thì Việt Nam đạt được gì?
Thật trớ trêu, từ nhiều năm qua, Phnom Penh không chỉ dần xa lánh Hà Nội mà còn công khai trở thành đồng minh thân cận nhất của Bắc Kinh trong khu vực. Còn mục đích quan trọng nhất của Trung Nam Hải khi “đầu tư” vào Hun Sen và Campuchia là để… chống lại Việt Nam.
Hiện tại, Bắc Kinh đã biến Phnom Penh thành đồng minh chí thiết trên hồ sơ Biển Đông, nơi Việt Nam không chỉ có nhiều lợi ích nhất so với các nước trong khu vực mà còn được xem là cửa ngõ chiến lược cho cả dân tộc trong thế kỷ 21.
Chỉ chừng ấy thôi đã đủ cho thấy “con bài” Campuchia lợi hại đến thế nào trong tay Bắc Kinh. Song đó vẫn chưa phải là mối đe doạ nguy hiểm nhất mà quốc gia láng giềng này đặt ra cho chúng ta. Bắc Kinh đang từng bước biến Campuchia thành một mũi dao dí vào mạng sườn Việt Nam dọc biên giới hai nước cũng như vùng biển Tây Nam và sẵn sàng lao lên cùng đồng minh khi hữu sự, trước sự chào mời của những “phần thưởng” quá đỗi hấp dẫn.
Hiện nay, Trung Quốc đã và đang tiếp tục triển khai vô số dự án kinh tế tại Campuchia. Từ năm 1994 đến 2012, Campuchia đã cho Trung Quốc thuê 4,6 triệu ha đất trong thời hạn 99 năm. Người Trung Quốc lũ lượt theo chân các dự án kéo sang đây và xong việc thì ở lại sinh cơ lập nghiệp.
Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia cho biết là 35% tổng chiều dài toàn bộ các tuyến đường giao thông ở đây do một mình Trung Quốc tài trợ. Bắc Kinh đã tài trợ cho Campuchia xây dựng tuyến quốc lộ đến biên giới Việt Nam tại cửa khẩu Bavet - Mộc Bài và tiếp tục tài trợ cho những tuyến đường biên giới khác. Không còn nghi ngờ gì, các căn cứ quân sự trá hình của Bắc Kinh đang dần áp sát biên giới Tây Nam của Việt Nam.
Đặc biệt, từ năm 2016, Phnom Penh đã cho Trung Quốc thuê 90km bờ biển trong 99 năm để xây dựng một cảng nước sâu chiến lược (tổng mức đầu tư 3,8 tỷ USD) nhằm phục vụ cho mưu đồ bành trướng sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Kinh trong khu vực. Rõ ràng, vùng lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam cách xa biên giới Việt - Trung nhất cũng đã phải đối diện với hiểm hoạ “made in China”.
Chưa hết, tháng 10 vừa qua, Bộ trưởng Nội vụ Campuchia Sar Kheng khẳng định tiếp tục chính sách thu hồi giấy tờ của 70.000 người ngoại quốc “sinh sống bất hợp pháp” tại đây, trong đó hầu hết là người gốc Việt.
Hun Sen có đáng trách hay không?
“Họa phúc hữu môi phi nhất nhật” (Nguyễn Trãi – “Họa phúc do nguyên nhân từ lâu, không phải chỉ một ngày.”).  
Việt Nam và Campuchia cùng chia sẻ một lịch sử hết sức tế nhị. Quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam của người Việt khiến vương quốc Champa bị mất một phần lãnh thổ vào tay Đại Việt, trở thành một quốc gia phiên thuộc và phải triều cống cho Việt Nam. Cho dù quá trình đó diễn ra khá êm ả, hầu như không bên nào đổ máu, song nỗi đau mất nước thì vẫn cứ âm ỉ trong lòng người dân Campuchia. Thậm chí, cuối triều vua Minh Mạng, sau khi đánh đuổi quân Xiêm, nhà Nguyễn còn sáp nhập Chân Lạp vào Đại Nam rồi đổi tên thành Trấn Tây thành (1835-1941). Việc người Campuchia nghi kỵ người Việt vì thế là điều không có gì khó hiểu.
Trong bối cảnh đó, sau khi giúp Campuchia thoát khỏi bàn tay diệt chủng của Khmer Đỏ, thay vì lẽ ra phải rút về ngay thì quân đội Việt Nam lại ở lại, dựng lên một chính phủ bù nhìn và thao túng mọi chuyện, thậm chí còn gây ra không ít bi kịch cho người dân Campuchia. Người Campuchia đi từ chỗ coi bộ đội Việt Nam như ân nhân cứu rỗi đến chỗ xem họ như đội quân chiếm đóng, từ chỗ biết ơn đến chỗ căm ghét. Bài viết “Out of 20 of my friends, 17 hate the Vietnamese” (“Trong hai mươi người bạn của tôi thì có đến 17 người ghét người Việt”) trên tờ The Phnom Penh Post ngày 6/9/2014 phần nào nói lên tình cảm đó của họ.
Việc Hun Sen dần ngả vào vòng tay Bắc Kinh xuất phát từ ít nhất ba nguyên nhân dưới đây.
Thứ nhất, là một người Khmer, cho dù rất biết ơn Việt Nam và từng nhiều lần công khai tỏ bày tỏ điều đó, song việc ông ta nghi kỵ quốc gia láng giềng, ít nhiều gì cũng là điều không tránh khỏi, nhất là sau những gì diễn ra kể từ khi Hà Nội đưa quân vào Campuchia cho đến khi Đại sứ Ngô Điền, “người thầy vĩ đại” của Hun Sen, phải rời khỏi Phnom Penh không kèn không trống ngày 13/11/1991.
Thứ hai, không phải Hun Sen chủ động phản bội Việt Nam, mà chính ban lãnh đạo CSVN đã đẩy ông ta vào vòng tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mình. Tại Hội nghị Thành Đô năm 1990, để được ôm chân quan thầy Bắc Kinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng đã không ngần ngại bán rẻ Hun Sen cũng như chính thể “Cộng hoà Nhân dân Campuchia” do họ dựng lên, rồi thuyết phục Hun Sen coi Trung Quốc là đồng minh.
Thứ ba, bị kẹp giữa hai nước lớn vốn luôn muốn áp đặt ảnh hưởng tiêu cực lên mình (Việt Nam và Thái Lan), không có gì khó hiểu khi Hun Sen cũng như ban lãnh đạo Campuchia muốn tìm một đồng minh hùng mạnh bên ngoài nhằm ngăn chặn nguy cơ đó. Điều này cũng đã có tiền lệ lịch sử: Năm 1863, vua Norodom (trị vì từ 1860-1904) đã ký hiệp ướcvới Pháp, cho phép người Pháp được quyền khai thác khoáng sản để họ giúp ngăn chặn các cuộc xâm lấn của người Thái và người Việt. (Việc Hun Sen từng nói đại ý là ông ta không lo ngại Trung Quốc bởi Campuchia và Trung Quốc không tiếp giáp nhau có lẽ là vì thế.)
Việt Nam phải làm gì?
Để cải thiện quan hệ với Campuchia và xa hơn nữa là đảm bảo an ninh quốc gia trên tuyến biên giới Tây Nam, Việt Nam rõ ràng là có nhiều việc cần phải làm.
Trước hết, lãnh đạo Việt Nam cần công khai lên tiếng xin lỗi người dân Campuchia về những gì mà phía Việt Nam đã gây ra cho họ trong thời gian đưa quân sang đây. Cả lãnh đạo lẫn người dân Campuchia đã nhiều lần bày tỏ lòng biết ơn đối với Việt Nam, trong khi lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa chịu lên tiếng xin lỗi để xoa dịu những nỗi đau mà họ đã gây ra cho nhân dân bạn thì thật bất công. (Nếu ban lãnh đạo Việt Nam vẫn đặt lợi ích của Đảng CSVN lên trên lợi ích dân tộc như tại Hội nghị Thành Đô thì điều này khó xẩy ra.)
Tiếp theo, cần đặt mối quan hệ hai nước trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Việc lãnh đạo Việt Nam kêu gọi phát triển quan hệ hai nước theo phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” sẽ tạo ấn tượng là Hà Nội tỏ ra bề trên với Phnom Penh, bởi “phương châm” đó chẳng khác gì cái gọi là “16 chữ vàng” (“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”) mà Bắc Kinh “tô điểm” cho mối quan hệ với Hà Nội (thực chất thế nào thì hẳn ai cũng hiểu).
Ngoài ra, Việt Nam cần thiết lập và vun đắp quan hệ với các đảng phái đối lập tại Campuchia, dù CPP của Hun Sen vẫn đang nắm thế thượng phong. Điều này vừa giúp xoa dịu tâm lý chống Việt Nam ở đây, vốn chủ yếu do các đảng phái đối lập khích động, vừa sẵn sàng cho một tương lai họ lên cầm quyền.
Trung Quốc sẽ không bao giờ bằng lòng với những gì mà họ đã đạt được ở Campuchia. Trong khi đó, đối diện với áp lực của phương Tây về cuộc trấn áp lực lượng đối lập trước cuộc bầu cử năm 2018, Hun Sen lại đang chuẩn bị lên đường sang Bắc Kinh để tìm kiếm thêm sự ủng hộ chính trị cũng như đầu tư.
Không chỉ ở biên giới Việt Nam - Campuchia và vùng biển Tây Nam, mà cả ở biên giới Việt - Lào, biên giới phía Bắc, Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam, các gọng kìm mang nhãn hiệu Đại Hán vẫn đang ngày đêm âm thầm siết chặt dải đất hình chữ S.
Trật tự thế giới cũ đang dần thay đổi, trật tự thế giới mới đang từng bước định hình. Trong bối cảnh đó, chiến tranh là một khả năng thực tế, thậm chí khó tránh khỏi, như lịch sử nhân loại đã cho thấy.
Thế nên, tốt hơn hết, Việt Nam cần sẵn sàng cho khả năng xấu nhất là chiến tranh. Muốn vậy, ban lãnh đạo Việt Nam cần phải dân chủ hoá đất nước để tự cường dân tộc, phát triển tiềm lực quốc phòng, đồng thời hình thành mối quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ - Nhật - Ấn - Úc. Nếu làm được như vậy, mối đe doạ trên tuyến biên giới Tây Nam sẽ không còn quá khó để hoá giải.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Ông Trọng đã bị phát giác nhúng chàm?

Lê Anh Hùng | VOA| 30.11.2017



Hội nghị Trung ương 5 khoá XII diễn ra vào trung tuần tháng 5 năm 2012 đã chứng kiến một sự kiện hy hữu: TBT Nguyễn Phú Trọng được Ban Chấp hành Trung ương quyết nghị thay thế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong vai trò Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng.
Lý do dẫn đến việc “đồng chí X” bị truất khỏi chiếc ghế đầy quyền lực này là chuyện chẳng đặng đừng: Không phải ai khác mà chính người đứng đầu bộ máy phòng chống tham nhũng lúc bấy giờ lại đang phải chịu nhiều tai tiếng nhất về tham nhũng, khi “bảo kê” cho người thân cùng đám đàn em mặc sức xâu xé nền kinh tế. Kết cục tất yếu là, dưới quyền Trưởng ban Nguyễn Tấn Dũng, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (vốn được thành lập theo Luật Phòng chống tham nhũng) gần như vô tác dụng.

Ngày 1/2/2013, TBT Nguyễn Phú Trọng ký Quyết định 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN. Quyết định này do Tổng Bí thư ký nên dĩ nhiên nó không căn cứ vào Luật Phòng chống tham nhũng mà chỉ căn cứ vào Điều lệ Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá XI, cùng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư. (Đây cũng là bằng chứng cho thấy thói quen ngồi xổm trên pháp luật của ban lãnh đạo CSVN.)
Ba ngày sau, phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đã diễn ra dưới sự chủ trì của tân Trưởng ban Nguyễn Phú Trọng.
Phát biểu chỉ đạo phiên họp, vị tân Trưởng ban đã tuôn ra những lời lẽ mà “đồng chí X” – nhân vật từng khiến “cụ Tổng” phải mếu máo đọc diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 hơn 3 tháng trước đó – hẳn là người “thấm thía” hơn cả: “Mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực. Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con, phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe. Tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được.”
Ngày 16/1/2015, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác ngành kiểm sát năm 2015, ngài Trưởng ban PCTN lại được dịp huấn thị các đồng chí của mình: “Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà tay đã nhúng chàm thì không thể chống được tham nhũng.”
Nghĩa là, đối với ngài TBT, việc cán bộ chống tham nhũng mà lại “nhúng chàm” đơn giản là không thể chấp nhận được. Dĩ nhiên, dưới sự chỉ đạo của một vị Trưởng ban như thế, không ít người từng kỳ vọng là quốc nạn tham nhũng sẽ bị chặn đứng trước khi bị đẩy lùi.
Vậy nhưng, “niềm vui ngắn chẳng tày gang”. Mặc dù ban đầu guồng máy phòng chống tham nhũng cũng có rục rịch chuyển động, nhưng rồi mọi chuyện chẳng mấy chốc “đâu lại trở về đấy”.
Lời khẳng định “Tham nhũng ở Việt Nam 3 năm qua ổn định” của ngài Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh tại buổi tọa đàm “Chung tay phòng chống tham nhũng vì sự phát triển” do Thanh tra Chính phủ và UNDP tổ chức ngày 9/12/2014 được xem như lời thú nhận công khai về “hiệu quả” của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ngài Tổng Bí thư.
Sau khi Trịnh Xuân Thanh (thủ phạm gây ra vụ thất thoát 3.000 tỷ VNĐ tại Tổng Cty Xây lắp Dầu khí – PVC) đào thoát khỏi Việt Nam tháng 9/2016, vụ Trịnh Xuân Thanh thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận. Tuy nhiên, bộ máy phòng chống tham nhũng dưới sự chỉ đạo của Trưởng ban Nguyễn Phú Trọng thì vẫn cứ tiếp tục ì ạch.
Và chỉ đến khi ngài TBT khoát tay hùng hồn “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng ngày 31/7, lần đầu tiên thiên hạ mới thực sự cảm nhận được hơi nóng toả ra từ cái “lò” mà ngài đã hì hục “nhóm” từ… 5 năm trước.
Trước thềm Hội nghị Trung ương 6, hàng loạt vụ bắt bớ cùng những bản án nặng nề nhằm vào một loạt quan chức “hạng ruồi” trong vụ Ngân hàng Đại Dương khiến công chúng Việt Nam chắc mẩm là tại hội nghị “Đốt Lò” diễn ra vào thượng tuần tháng 10 thế nào họ cũng được chứng kiến vài khúc “củi bự” được tống vào “lò”. Khả năng này xem ra lại càng lớn sau khi Uỷ ban Kiểm tra Trung ương kỷ luật cảnh cáo Chủ tịch Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ và đề nghị Bộ Chính trị, BCH Trung ương thi hành kỷ luật Bí thư Nguyễn Xuân Anh, còn cựu Bí thư TP HCM Đinh La Thăng thì bị hàng loạt tờ báo chính thống “vạch mặt chỉ tên” là đã ký văn bản yêu cầu các đơn vị thành viên PVN cùng các nhà thầu dầu khí phải mở tài khoản tại OceanBank, thực hiện các giao dịch qua tài khoản tại OceanBank.
Trớ trêu thay, trước sự háo hức trông đợi của dân chúng, “khúc củi” duy nhất bị tống vào “lò” trong “hội nghị đốt lò” chỉ là một Nguyễn Xuân Anh làng nhàng, “ngựa non háu đá”, với mức độ sai phạm tuy nghiêm trọng nhưng còn thua xa vô số ông trùm khác. Những “khúc củi” bự như Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình… vẫn tiếp tục “bình chân như vại”.
Không chỉ vậy, trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 cũng như suốt thời gian từ đó đến nay, khẩu khí của ngài TBT bỗng dưng chùng hẳn xuống, hoàn toàn tương phản với khí thế trước đấy, khi tưởng chừng như ngài có thể ném vào “lò” bất kỳ “khúc củi” nào, bất kể “củi khô”, “củi vừa vừa” hay “củi tươi”.
Trong bối cảnh đó, người ta không khỏi “băn khoăn” trước việc một loạt tờ báo chính thống bất ngờ đưa tin về sự kiện Thanh tra Chính phủ tổ chức họp báo công bố việc Hà Nội để thất thu số tiền khổng lồ từ hàng loạt sai phạm trong các dự án nhà ở. Theo các bài báo, mặc dù mới chỉ thanh tra 38/204 dự án tại Hà Nội giai đoạn 2002-2014, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện ra chính quyền thành phố Hà Nội đã để ngân sách thất thu tới… 6.000 tỷ VNĐ.
Thiết tưởng không cần phải nhắc lại là đương kim Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN Nguyễn Phú Trọng từng làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội từ năm 2000 đến 2006, và lâu nay trong dư luận vẫn râm ran chuyện ông ta từng nhận 2 căn biệt thự trong khu đô thị Nam Thăng Long do tập đoàn Ciputra của Indonesia làm chủ đầu tư để giúp họ trốn thuế.
Thực hư vụ việc chưa biết thế nào, nhưng người Việt thì vẫn có câu “không có lửa làm sao có khói”. Trong khi đó, con số 6.000 tỷ VNĐ mà Hà Nội để thất thu lại bằng số thu ngân sách nhiều năm của một tỉnh nghèo. Vì thế, thiết nghĩ người đứng đầu bộ máy phòng chống tham nhũng quốc gia cần nhân dịp này chỉ đạo điều tra những sai phạm mà Thanh tra Chính phủ đã nêu, để không chỉ qua đó giúp thu hồi cho ngân sách số tiền khủng kia mà còn cho bàn dân thiên hạ thấy là bản thân mình không hề “nhúng chàm”.
Nhược bằng ngài Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN quyết không cho điều tra vụ việc đến nơi đến chốn hầu giải nỗi oan khuất bao năm nay cho mình thì xin được tặng ngài hai câu thơ trong Truyện Kiều, tập thơ mà hình như những lúc cao hứng ngài vẫn thường lẩy:
“Trót vì tay đã nhúng chàm
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây?”

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Đặc khu kinh tế và vấn đề an ninh quốc gia

Lê Anh Hùng | VOA| 25.11.2017


Thời gian gần đây, truyền thông Việt Nam bàn luận khá nhiều về ba đặc khu kinh tế đang được đề xuất thành lập ở ba miền đất nước là Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.
Thực ra, việc thành lập đặc khu kinh tế đã được các cơ quan hữu trách Việt Nam nêu ra từ lâu. Đặc khu kinh tế Vũng Tàu - Côn Đảo ra đời năm 1979, và tồn tại đến năm 1991 thì bị giải thể.
Chủ trương xây dựng đặc khu kinh tế sau đó được đưa vào Hiến pháp năm 1992, và được nhắc lại một số lần trong các văn kiện quan trọng của hệ thống chính trị, trước khi trở thành một chủ đề được dư luận quan tâm vài năm qua.
Tuy nhiên, tâm thế chung hiện nay là người ta chỉ còn bàn cãi xoay quanh những nội dung quan trọng của cơ chế vận hành đặc khu kinh tế. Mọi chuyện xem ra chỉ còn chờ Quốc hội thông qua Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trước khi Chính phủ chính thức đề xuất rồi Quốc hội bấm nút thông qua nữa là xong. Ngay cả vị trí của các đặc khu coi như cũng đã an bài – đó là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang).

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XIV,  Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đã được đưa ra bàn thảo, và dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 vào tháng 5 năm 2018.
Các vấn đề mang tính chất chuyên môn về cấu trúc tổ chức đặc khu cùng các thể chế thiết yếu kèm theo đã được nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật nêu lên. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ bàn về khía cạnh an ninh quốc gia của 3 đặc khu sắp sửa ra đời.
Đặc khu kinh tế: tính mở và nguy cơ
Đặc điểm nổi bật của đặc khu kinh tế là tính chất thông thoáng về mặt luật lệ và chính sách. Mục đích của sự thông thoáng là nhằm thu hút đầu tư, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, song cũng chính vì thế mà các đặc khu lại trở thành đích nhắm và dễ để lọt những nhà đầu tư với toan tính mờ ám.
Do đó, vấn đề an ninh quốc gia cần phải được đặt ra một cách hết sức cẩn trọng trước khi quyết định thành lập một đặc khu kinh tế.
Vậy đối tượng mà chúng ta cần đề phòng là ai?
Việc Tổng thống Hoa Kỳ lần đầu tiên tiếp đón Tổng Bí thư Đảng CSVN tại Nhà Trắng tháng 7 năm 2015 là một sự kiện mang đầy tính biểu tượng. Nó thể hiện sự thừa nhận chính thức của cường quốc đứng đầu thế giới tự do đối với chính thể hiện nay tại Việt Nam, đồng thời là sự đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ không tấn công quốc gia cựu thù cộng sản.
Trong bài “Cách mạng dân chủ ở Việt Nam: từ dưới lên hay từ trên xuống”, chúng tôi cũng đã chỉ ra một thực tế là mặc dù mong muốn và thúc đẩy Việt Nam trở thành một quốc gia tự do - dân chủ, song bản thân Hoa Kỳ cũng không muốn CSVN sụp đổ trước khi bị thay thế, vì những hệ luỵ khó lường của nó.
Trong khi đó, suốt nhiều năm qua, chúng tôi đã viết hàng loạt bài cảnh báo về việc người Trung Quốc núp bóng các dự án kinh tế để chiếm lĩnh những vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng trên khắp Việt Nam. Đơn giản, Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính quốc gia láng giềng phương Nam của họ.
Nếu các đặc khu kinh tế sắp thành lập của Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược thì dĩ nhiên Bắc Kinh càng không thể bỏ qua, đặc biệt là khi thời hạn cho thuê đất có thể lên tới 99 năm như đề xuất của lãnh đạo Quảng Ninh và Kiên Giang.
Dưới đây, chúng ta sẽ đánh giá từng đặc khu sắp được thành lập.
Đặc khu Kinh tế Vân Đồn
Vân Đồn nằm ở vị trí cửa ngõ tiền tiêu, án ngữ vùng biển Đông Bắc của Việt Nam, và là trạm dừng chân đầu tiên trên tuyến hàng hải xuất phát từ Trung Quốc theo bờ biển Việt Nam xuống phía nam. Ngay từ năm 980, các triều đại phong kiến Việt Nam đã bố trí quân đội đồn trú tại đây để trấn giữ vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Chừng đó đủ nói lên tầm quan trọng của Vân Đồn trong chiến lược phòng thủ quốc gia.
Từ năm 2015, tập đoàn Sun Group đã khởi công xây dựng cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, và dự kiến sẽ hoàn thành giai đoạn 1 vào đầu năm 2018. Đây là sân bay dân sự (theo tiêu chuẩn cấp 4E của ICAO) kết hợp với quân sự (sân bay cấp II). Vân Đồn vì thế lại càng trở nên lợi hại về mặt quân sự, bởi ai làm chủ sân bay này sẽ kiểm soát được cả vùng trời lẫn vùng biển Đông Bắc Việt Nam.
Đặc khu Kinh tế Bắc Vân Phong
Đây là đặc khu kinh tế nằm bao quanh vịnh Vân Phong, và là một vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng, vì những lý do sau.
Vân Phong là điểm cực đông của Việt Nam, nghĩa là nơi rất gần với các căn cứ quân sự của Trung Quốc tại Trường Sa.
Với địa thế một bên là núi, một bên là biển và quốc lộ 1A là tuyến độc đạo nối liền giao thông Bắc - Nam, chỉ cần một lực lượng quân sự vừa phải là đủ sức chia cắt Việt Nam thành hai phần tại đây.
Từ Bắc Vân Phong chạy theo quốc lộ 26 chừng 130km là đã tới Tây Nguyên, nóc nhà Đông Dương.
Vịnh Vân Phong là vùng biển có độ sâu trung bình từ 20-27m, đủ sức đón mọi loại tàu. Đặc biệt, nhờ sự che chắn của các đảo và bán đảo, nên đây là một vịnh kín, có giá trị không thua kém mấy so với vịnh Cam Ranh.
Kiểm soát được vịnh Vân Phong, đối phương có thể uy hiếp được tàu bè ra vào vịnh Cam Ranh (“lá bài” quan trọng nhất của Việt Nam trong chiến lược bảo vệ Biển Đông và chỉ cách đấy khoảng 65km), đồng thời đe doạ các cơ sở quân sự tại Cam Ranh.
Đặc khu Kinh tế Phú Quốc
Tuy cách xa biên giới Việt - Trung hàng ngàn km, nhưng Phú Quốc lại là một trong những nơi đầu tiên đứng trước nguy cơ phải hứng đòn tấn công của Trung Quốc một khi chiến sự giữa hai nước nổ ra.
Hòn đảo rộng xấp xỉ diện tích Singapore này nằm cách bờ biển tỉnh Kiên Giang 46km, nhưng lại chỉ cách bờ biển Campuchia 26km, nơi mà từ năm 2016 Phnom Penh đã cho Trung Quốc thuê 90km (tức 20%) chiều dài bờ biển để xây dựng một cảng nước sâu chiến lược, với tổng mức đầu tư lên tới 3,8 tỷ USD, nhằm phục vụ cho mưu đồ bành trướng sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Kinh.
Ngày 19/4/1975, hải quân Khmer Đỏ tấn công đảo Phú Quốc và đánh nhau với quân đội Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975. Ngày 4/5/1975, quân Khmer Đỏ lại đổ bộ lên Phú Quốc, nhưng đã bị QĐND Việt Nam đánh đuổi. Từ đó đến nay, các lực lượng dân tộc chủ nghĩa tại Campuchia vẫn nung nấu giấc mơ lấy lại Phú Quốc cũng như cả Nam Bộ, vùng đất mà họ cho là thuộc về Campuchia trong lịch sử.
Nếu kiểm soát được sân bay Phú Quốc, kết hợp với các sân bay trên đảo Hải Nam, đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và đảo Gạc Ma (Trường Sa), không quân Trung Quốc có thể khống chế gần như toàn bộ vùng trời và vùng biển Việt Nam.
Phnom Penh nay đã trở thành đồng minh thân cận nhất của Bắc Kinh trong khu vực. Vậy nên những “phần thưởng” mà nằm mơ họ cũng không thấy như Phú Quốc hay thậm chí là cả Nam Bộ sẽ càng khiến họ sẵn sàng sát cánh cùng Trung Quốc lao lên phía trước khi hữu sự.
Nhà chức trách Việt Nam đang kỳ vọng các đặc khu kinh tế sẽ là những cái tổ cho phượng hoàng đến đẻ trứng.
Tuy nhiên, với những gì nêu trên, e rằng cả ba đặc khu kinh tế nằm ở những vị trí đặc biệt xung yếu của Việt Nam chưa kịp thấy phượng hoàng thì đã đứng trước nguy cơ trở thành “đất lành” cho hàng đàn diều hâu đến từ phương Bắc.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA