Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Vỡ mộng với Thủ tướng


Lê Anh Hùng



Blog Bà Đầm Xoè từng đăng nhiều bài viết ủng hộ, thậm chí ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chẳng hạn như bài “Anh Ba Dũng xứng đáng làm Tổng Bí thư”. Điều này khiến dư luận không khỏi nghi ngờ rằng chủ blog Bà Đầm Xoè là “quân xanh” của ngài Thủ tướng đầy tai tiếng kia. Tuy nhiên, theo của chủ blog thì những bài viết đó thực ra chỉ nhằm mục đích “khích tướng” nhân vật mà thiên hạ vẫn không ít người đặt nhiều kỳ vọng lớn lao mà thôi.
Mới đây, dường như cảm thấy chiến thuật “khích tướng” của mình đã hoàn toàn "nhầm đối tượng", chủ blog Bà Đầm Xoè đã cho đăng bài “Thư ngỏ gửi ông Thủ tướng”, với những nhận định tưởng không thể chính xác hơn như:

Những lời nói, những việc làm của Thủ tướng, thực chất là những hành động mang tính thực dụng, chỉ đem lại lợi ích cho riêng Thủ tướng và phe nhóm lợi ích của Thủ tướng. Nó đồng nghĩa với việc Thủ tướng cướp bóc tiền của của nhân dân, bán đất nước, chống lại nhân dân, chống lại tiến bộ xã hội.
Thực chất, những lời nói hay của Thủ tướng chỉ là tấm khiên che cho những hành động xấu xa, bỉ ổi, bán nước hại dân của Thủ tướng mà thôi.
Xin phép chủ blog Bà Đầm Xoè được đăng lại bài viết này ở đây.

THƯ NGỎ GỬI ÔNG THỦ TƯỚNG
Lâu nay mình vẫn tin tưởng Thủ tướng, vì thấy Thủ tướng thực dụng. Nghĩ: đất nước mình bị lụy vào lý thuyết Mác–Lê nên không ngóc đầu lên được, lại còn có nguy cơ mất nước cho Tàu Cộng bởi mấy thằng “nhà nòi” trong đầu óc và tâm thế chỉ có Mác–Lê. Người thực dụng là người không có, không cần bất kỳ một thứ học thuyết hay lý luận nào soi đường chỉ lối mà thiên về quan sát rồi hành động, thấy đâu có lợi là hướng theo, học theo và hành động theo. Tôi và nhiều người thấy Thủ tướng là một tay thực dụng như vậy. Với cương vị là thủ tưởng hẳn Thủ tướng phải nhìn ra Việt Nam chơi với ai thì có lợi cho dân tộc nhất. Kẻ ngu muội nào cũng thấy, chơi với Mỹ, Nhật và những nước có nền dân chủ thực sự là có lợi nhất.  Hàng trăm năm nay, có nước nào chơi vơi Mỹ mà không kiếm được lợi? Không có nước nào cả. Còn chơi với Tàu thì không những chẳng kiếm được lợi gì mà sớm muộn gì cũng trải thảm cho Tàu tiến hành xâm lược cướp nước.
Chẳng lẽ Thủ tướng lại không thấy?
Hẳn là Thủ tướng thấy.
Vì thấy nên Thủ tướng thỉnh thoảng lại “hành động bằng nước bọt”  làm cho những người muốn dân tộc thân với phương Tây hài lòng, rằng “Dân chủ là nhu cầu của nhân dân”, “ Người dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm”, rằng “quan hệ với Tàu là tình hữu nghị viễn vông”, rằng lãnh thổ là thiêng liêng”. Đặc biệt đầu năm 2014, Thủ tướng còn đưa ra thông điệp “phải thay đổi thể chế”.
Những người đặt niềm tin vào Thủ tướng (như người viết bài này) luôn nín thở, phấp phỏng chờ Thủ tướng hành động theo những gì Thủ tướng đã công khai nói ra. Họ ngậm ngùi thông cảm với Thủ tướng rằng, Thủ tướng cũng là một trong tứ trụ, nghĩ được như vậy, nhưng có làm được hay không, đương nhiên còn phải chờ thời, chờ thế và đặc biệt là cần phải tập hợp được lực lượng.
Thời thế thì đã rõ. Thế giới đã tử hình thể chế cộng sản từ hơn hai chục năm nay rồi.
Ở trong nước, người dân cũng chán cộng sản đến tận cổ, căm thù cộng sản đến tận răng rồi.
Còn lực lượng, ngoài đông đảo các tầng lớp nhân dân luôn sẵn sàng yểm trợ cho hành động thay đổi thể chế, trong hệ thống cộng sản chủ chốt cầm quyền, có quyền, số đông lực lượng cũng sẵn sàng ủng hộ Thủ tướng rồi. Hội nghị Trung ương 6, 72,8% ủng hộ không phải kỷ luật Thủ tướng, hai lần bỏ phiếu tín nhiệm ở Quốc hội, Thủ tướng cũng luôn đứng ở tốp đầu. Xét cả thời thế và lực lượng như thế là đủ. Vậy Thủ tướng còn lấn cấn điều gì mà không hành động?.
Thủ tướng không hành động, những người tin Thủ tướng và những người dân bình thường khác buộc phải nghĩ khác về Thủ tướng. Vì cái gì cũng có giới hạn, lòng tin cũng không ngoại lệ, đặc biệt là ở thời đại thông tin Internet, nhanh như điện giật, lại có ngay ở trong bếp mỗi nhà. Người ta buộc phải nghĩ như thế này:
– Thủ tướng là người biết nói  những lời hay, hợp xu thế nhưng lại không hành động theo. Thủ tướng nói chỉ là để diễn, chỉ là tạo ra cái lá chắn che những hành động ngược lại của Thủ tướng.
Những hành động ngược lại với lời nói của Thủ tướng thì nhiều vô thiên lũng. Chỉ cần nhớ đến Thủ tướng là một bức tranh thực về Thủ tướng lập tức hiện rõ lên màn hình:
– Thủ tướng nói rằng, người dân có quyền làm những gì không cấm. Ấy mà Thủ tướng bắt bớ, cầm tù có thiếu một tiếng nói phản biện nào đâu. Thâm chí Thủ tướng còn ký nhiều văn bản, để từ đó ngăn cấm, bắt bớ và tống tù những người không cùng quan điểm với Thủ tướng.
– Thủ tướng nói, “Chúng ta cần có Luật Biểu tình”. Thế nhưng, Thủ tướng làm Thủ tướng tới  8 năm, Thủ tướng vẫn để Luật Biểu tình nằm yên đó. Bây giờ Thủ tướng lại chính thức tuyên bố để cho khóa sau làm.
– Thủ tướng nói, quan hệ với Tàu Cộng là viễn vông, lãnh thổ là thiêng liêng, nhưng Thủ tướng lại chưa hề có hành động cụ thể nào ủng hộ những người yêu nước đang sống và đã chết bởi bàn tay Tàu Cộng. Thủ tướng cũng không có bất kỳ hành động nào trước việc đất liền, biển đảo bị Tàu Cộng xâm lấn, và cũng như nhiều kẻ bợ đít Tàu Cộng khác, Thủ tướng cũng không có bất kỳ hành động nào ngăn cấm việc phá hoại, đục bỏ, chôn vùi những tượng đài, bia tưởng niệm, bia căm thù Tàu Cộng. Thủ tướng, quyền lệnh trong tay, Thủ tướng không có hành động cụ thể ngăn cấm, cản trở những việc làm trái đạo nghĩa, trái với lòng dân, có nghĩa Thủ tướng cũng đồng tình.
Đặc biệt, dưới thời Thủ tướng làm Thủ tướng, hàng trăm ngàn héc-ta đất đầu nguồn ở vị trí chiến lược phòng thủ giặc Tàu, Thủ tướng đã sang tay cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc với danh nghĩa thuê đất, trồng rừng. Gần đây nhất, Thủ tướng lại hồ hởi ký cho Tàu thuê đất tới 70 năm tại Hà Tĩnh, một vị trí chiến lược có thể khống chế Biển Đông và chia cắt đất nước làm đôi một cách dễ dàng.
Gần đây hơn nữa, hôm kia, ngày 26/3/2014, Thủ tướng lại công khai mời gọi nước ngoài vào mua đứt các công trình giao thông, bến cảng, những hạ tầng kinh tế xã hội của Việt Nam. Một hành động bán nước công khai (i). Và còn rất nhiều những hồ sơ khác chứng minh Thủ tướng có cả một hệ thống con người: Nói một đằng làm một nẻo.
Những lời nói, những việc làm của Thủ tướng, thực chất là những hành động mang tính thực dụng, chỉ đem lại lợi ích cho riêng Thủ tướng và phe nhóm lợi ích của Thủ tướng. Nó đồng nghĩa với việc Thủ tướng cướp bóc tiền của của nhân dân, bán đất nước, chống lại nhân dân, chống lại tiến bộ xã hội.
Thực chất, những lời nói hay của Thủ tướng chỉ là tấm khiên che cho những hành động xấu xa, bỉ ổi, bán nước hại dân của Thủ tướng mà thôi.
Rồi, sẽ chẳng còn ai ủng hộ Thủ tướng khi chân tướng thực dụng này của Thủ tướng nhanh chóng bị lộ ra ánh sáng.
Trước đây, người ta ủng hộ Thủ tướng là vì người ta sợ bọn Trọng lú quá thân với Tàu Cộng cúi đầu dâng nước cho Tàu Cộng, nay người ta thấy Thủ tướng chỉ thực dụng cho riêng mình, nhóm lợi ích của mình, làm cho đất nước tanh bành, tan nát, đúng ý của Tàu, còn hơn cả Trọng Lú, thì lòng căm thù của dân chúng đối với Thủ tướng, gia đình Thủ tướng như thế nào, hẳn bản tính thực dụng của Thủ tướng đã chỉ rõ cho Thủ tướng biết rồi.
Sự chịu đựng nào cũng có giới hạn, trong đó giới hạn về lòng tin trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay là ngắn nhất. Thủ tướng cần phải nhanh chóng hành động, thời cớ chỉ có một. Xét thời thế và lực lượng Thủ tướng không hành động trong lúc này sẽ không còn lúc nào khác. Đó là cách duy nhất để Thủ tướng cứu Thủ tướng, đại gia đình của Thủ tướng, nhóm lợi ích của Thủ tướng, và từ đó con đường đa nguyen, dân chủ sẽ đến với dân tộc, tương lai của dân tộc mới dần dần sáng lên được.
Còn Thủ tướng không hành động, tất sẽ có lực lượng khác hành động. Người xưa nói, “nhất dạ sinh bá kế”. Quang Trung, một người ẹm út của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, bất ngờ lên ngôi Hoàng Đế, thuận lòng dân mới dẹp được phong kiến Nguyễn, Lê - Trịnh, thống nhất đất nước, đặc biệt còn có chiến thắng lẫy lừng tiêu diệt 20 vạn quân Thanh xâm lược, ghi công vào lịch sử.
--------
Ghi chú:
(i) Nguyên văn trên báo điện tử VietNamNet: “Thủ tướng cho biết sẵn sàng mời các nhà đầu tư lớn của Qatar tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa; tham gia cổ đông chiến lược các NHTM lớn cũng như đầu tư quyền khai thác các hạ tầng sân bay, bến cảng, đường cao tốc của Việt Nam.”

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Đại chiến lược mới của Mỹ với Trung Quốc

Hoa Kỳ cần thay đổi đại chiến lược đối với Trung Quốc
Người dịch: Lê Anh Hùng




Chỉ cần nhìn vào thảm hoạ mang tên Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB) mới đây là đủ để hình dung ra sự trỗi dậy của Trung Quốc hướng đến mục tiêu thách thức vị thế toàn cầu của Hoa Kỳ như thế nào. Tổ chức tài chính do Trung Quốc lãnh đạo này đã sẵn sàng cho việc làm xói mòn ảnh hưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hai tổ chức do Mỹ lãnh đạo, trong khi định chế hoá sự áp đặt địa kinh tế của Trung Quốc ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Italia, Pháp, Anh, Đức, Hàn Quốc, Đan Mạch và Australia đã trở thành thành viên của AIIB; Thái Lan và thậm chí cả Đài Loan đang cân nhắc khả năng tham gia sớm. Hoa Kỳ thì vẫn đứng ngoài nhìn trong khi ảnh hưởng của mình bị thách thức trực tiếp bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Ngoài AIIB, Trung Quốc còn đang theo đuổi một số sáng kiến khác nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng chiến lược của mình ở Châu Á và xa hơn thế. Trung Quốc đã loan báo kế hoạch thúc đẩy một Khu vực Thương mại Tự do Châu Á – Thái Bình Dương (Free Trade Area of the Asia Pacific – FTAAP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership – RCEP). Đây là những hiệp định thương mại kết nối nền kinh tế của Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ với các quốc gia Đông Nam Á.

Vấn đề cơ bản trong quan hệ Mỹ–Trung liên quan, rất đơn giản, đến sự cân bằng quyền lực ở Châu Á
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang thúc đẩy việc hình thành một Con đường Tơ lụa mới, qua đó mở ra các lộ trình thương mại xuyên Trung Á cùng các tuyến hàng hải vòng quanh Đông Nam Á và Nam Á, kết nối Trung Quốc trên phương diện địa chính trị với các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á và, qua chúng, với Trung Đông và Châu Âu một cách hữu hiệu hơn. Ngoài các dự án vừa nêu là các cuộc thương thảo đang diễn ra nhằm thành lập một Ngân hàng Phát triển BRICS mới giữa Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi.
Sự phát triển kinh tế bền vững suốt hơn 30 năm qua đã cho phép Trung Quốc củng cố quyền lực đáng gờm, biến nó thành quốc gia với nhiều khả năng nhất để chi phối lục địa Châu Á. Nền kinh tế Trung Quốc phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc: tăng trưởng 10% mỗi năm trong suốt 35 năm và GDP bùng nổ từ con số khiêm tốn 147 tỷ USD năm 1979 lên đến 9.240 tỷ USD năm 2013.
Tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Trung Quốc, ngay cả khi mức thu nhập bình quân đầu người của nó vẫn thấp hơn Hoa Kỳ, đã đem đến cho Bắc Kinh những nguồn lực cần thiết để thách thức an ninh của các quốc gia Châu Á láng giềng cũng như ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở Châu Á, với những hệ luỵ nguy hiểm. Ngay cả khi tốc độ tăng trưởng GDP tổng thể của Trung Quốc đang chậm lại đáng kể thì các con số tương đối về tốc độ tăng trưởng của nó cũng rất có thể vẫn cao hơn so với Hoa Kỳ trong tương lai trước mắt.
Được hậu thuẫn bởi một nền kinh tế năng động, Bắc Kinh đã bắt tay vào kế hoạch hiện đại hoá đồng bộ Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) nhằm xây dựng sức mạnh quân sự đủ sức đánh bại các đối thủ trong khu vực và ngăn chặn Hoa Kỳ đến bảo vệ họ khi khủng hoảng nổ ra. Ngân sách quốc phòng của Bắc Kinh, với vỏn vẹn 10 tỷ USD năm 1997, đã tăng bình quân 15,9% mỗi năm trong giai đoạn 1998–2007.
Năm nay, Trung Quốc thông báo là nó sẽ tăng ngân sách quốc phòng 10,1%, tức khoảng 145 tỷ USD trong chi tiêu quân sự. Tuy nhiên, con số đó lại chưa nói lên đầy đủ câu chuyện; nếu tính cả vũ khí nhập khẩu, hoạt động nghiên cứu và phát triển trong quân đội và chi tiêu dành cho các lực lượng chiến lược của PLA thì chi tiêu quân sự của Trung Quốc có thể tăng từ 40–55% so với năm ngoái. Tiềm lực quân sự đang nổi lên của Trung Quốc giúp họ tăng cường khả năng thể hiện quyền lực ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với mục đích hạn chế khả năng tiếp cận khu vực của Hoa Kỳ.
Vấn đề cơ bản trong quan hệ Mỹ–Trung liên quan, rất đơn giản, đến sự cân bằng quyền lực ở Châu Á. Henry Kissinger từng nói: “Rốt cuộc, hoà bình chỉ có thể đạt được thông qua vai trò thống trị của một quốc gia hay sự cân bằng quyền lực.” Vì những khác biệt sâu sắc về lịch sử, ý thức hệ, văn hoá chiến lược (strategic culture) và chính trị trong nước mà Hoa Kỳ và Trung Quốc có những nhận thức hoàn toàn trái ngược và không tương thích lẫn nhau về sự cân bằng quyền lực tương lai ở Châu Á.
Đại chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ thì rõ ràng: (i) thay thế Hoa Kỳ như là đối tác chiến lược số 1 ở Châu Á; (ii) làm suy yếu hệ thống đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực; (iii) làm xói mòn niềm tin mà các quốc gia Châu Á vẫn dành cho Hoa Kỳ vì uy tín, sự đáng tin cậy và quyền lực trường tồn của nó; (iv) sử dụng quyền lực kinh tế của Trung Quốc để kéo các quốc gia Châu Á xích lại gần hơn với những ưu tiên chính sách địa chính trị của Bắc Kinh; (v) tăng cường khả năng quân sự của Trung Quốc để củng cố khả năng ngăn chặn can thiệp quân sự của Mỹ; (vi) gieo rắc nghi ngờ về mô hình kinh tế của Mỹ; (vii) đảm bảo rằng các giá trị dân chủ của Mỹ không làm suy yếu vị thế quyền lực trong nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc; và (viii) tránh một cuộc đối đầu lớn với Hoa Kỳ trong thập niên tới.
Trong tác phẩm kinh điển xuất bản vào giai đoạn cao trào của Thế chiến II, “Tác giả của chiến lược hiện đại: Tư tưởng quân sự từ Machiavelli tới Hitler” (Makers of Modern Strategy: Military Thought from Machiavelli to Hitler), biên tập viên Edward Meade Earle đã định nghĩa đại chiến lược là “nghệ thuật kiểm soát và khai thác tài nguyên của một quốc gia… sao cho những lợi ích sống còn của nó thực sự được thúc đẩy và đảm bảo trước kẻ thù, bất kể điều đó diễn ra trong thực tế, trong tương lai hay chỉ là giả định”.
Đối với Hoa Kỳ, đại chiến lược lâu nay vẫn tập trung vào việc thâu tóm và duy trì quyền lực nổi trội đối với những đối thủ khác nhau. Tuy nhiên, đối mặt với một Trung Quốc đang trỗi dậy, Hoa Kỳ lại thất bại trong việc vận dụng cách tiếp cận quen thuộc hàng thế kỷ này cho an ninh quốc gia của họ.
Thay vì thế, một loạt lựa chọn chính sách và lối nói đã xuất hiện để cho các nhà hoạch định chính sách ở Washington vận dụng khi đương đầu với Trung Quốc. Đó là cuộc đàm luận về Nhóm G2 (Group of Two) giữa Washington và Bắc Kinh, về việc khuyến khích Trung Quốc trở thành “một quốc gia có trách nhiệm”, và – gần đây nhất – về sự xuất hiện ở Bắc Kinh khái niệm “một hình thức mới trong mối quan hệ giữa các đại cường”.
Không một lựa chọn chính sách nào trong số này đủ khả năng củng cố cho mục đích chính của đại chiến lược mà Hoa Kỳ áp dụng với Trung Quốc trong thế kỷ 21—duy trì vị thế siêu cường chiến lược số 1 ở Châu Á. Vì thế, Washington cần kíp một kế hoạch hành động mới trong khu vực hướng đến mục tiêu đối trọng với sự trỗi dậy của quyền lực Trung Quốc thay vì tiếp tục hỗ trợ cho sự trỗi dậy đó.
Một đại chiến lược mới của Mỹ nhằm vào Trung Quốc không thể dựa trên nền tảng kiềm toả, như nỗ lực trước đây nhằm hạn chế quyền lực Liên Xô, do những điều kiện thực tế của quá trình toàn cầu hoá. Nó cũng không thể dẫn đến chuyện đột ngột loại bỏ nỗ lực bấy lâu của Hoa Kỳ trong việc hội nhập Trung Quốc vào hệ thống quốc tế. Thay vì thế, đại chiến lược đó phải gắn với những thay đổi tối quan trọng trong chính sách hiện hành của Washington nhằm hạn chế những nguy hiểm mà sự bành trướng về địa kinh tế, quân sự và ngoại giao của Trung Quốc đặt ra cho lợi ích quốc gia của Mỹ ở Châu Á và trên toàn thế giới.
Hoa Kỳ cần tập trung chính sách của mình vào 5 mục tiêu rõ ràng: (i) phục hồi nền kinh tế quốc gia để duy trì những lợi thế kinh tế bất đối xứng; (ii) tạo lập những hiệp ước thương mại ưu đãi cùng những nước bạn bè và tỉnh táo loại trừ Trung Quốc; (iii) tái lập chế độ kiểm soát công nghệ với các đồng minh Hoa Kỳ nhằm ngăn Trung Quốc thâu tóm những khả năng quân sự và chiến lược tiên tiến; (iv) tăng cường năng lực cho các đồng minh và bạn bè xung quanh Trung Quốc một cách đồng bộ; và (v) nâng cao năng lực của các lực lượng quân sự để thực sự áp đặt quyền lực trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hoa Kỳ phải đạt được tất cả những mục tiêu này trong khi tiếp tục hợp tác với Trung Quốc theo những cách thức khác nhau phù hợp với lợi ích quốc gia của mình.
Trong tất cả các quốc gia – và trong phần lớn kịch bản mà người ta hình dung ra – Trung Quốc đang và vẫn sẽ là đối thủ cạnh tranh đáng kể nhất của Hoa Kỳ trong những thập niên tới. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang đặt ra những thách thức về địa chính trị, quân sự, kinh tế và ý thức hệ cho việc áp đặt quyền lực của Hoa Kỳ, cho các đồng minh và bạn bè của Hoa Kỳ ở Châu Á và cho trật tự quốc tế do Mỹ lãnh đạo.
Cách tiếp cận hiện tại của Washington đối với Bắc Kinh – ủng hộ sự hội nhập về kinh tế và chính trị của Trung Quốc vào hệ thống quốc tế tự do chủ nghĩa với cái giá mà Hoa Kỳ phải trả là đánh mất vai trò nổi trội trên toàn thế giới và vị thế số 1 ở Châu Á – đang làm suy yếu ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên khắp Châu Á và xa hơn thế.
  • Robert D. Blackwill là nghiên cứu viên cao cấp hàm Henry A. Kissinger về chính sách đối ngoại Mỹ tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations). Ashley J. Tellis là chuyên viên cao cấp của Chương trình Nam Á (South Asia Program) thuộc Quỹ Hoà bình Quốc tế Carnegie (Carnegie Endowment for International Peace).

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Hệ luỵ tai hại của Thông cáo chung Việt – Trung ngày 8.4.2015

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 13.4.2015


  


Đã thành thông lệ, cứ mỗi lần Việt Nam – Trung Quốc ra tuyên bố chung nhân chuyến thăm cấp cao của một nhà lãnh đạo nào đấy là thêm một lần những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh nước nhà lại phải giật mình trước những nội dung của nó.
Chuyến thăm Trung Quốc của TBT Nguyễn Phú Trọng từ ngày 7 – 10.4.2015 lần này cũng vậy. Bản Thông cáo chung được công bố ngày 8.4 vừa qua không khỏi khiến bao người Việt Nam trong và ngoài nước thêm một phen lo lắng cho tương lai của đất nước.
Đây là một bản tuyên bố chung dài, với những ngôn từ lặp đi lặp lại năm này qua năm khác, mà mỗi người từ những góc nhìn khác nhau có thể mổ xẻ những hệ luỵ tai hại của nó. Tác giả bài viết này đặc biệt quan ngại về những nội dung nằm trong mục (4) của Thông cáo chung:

Hai bên nhất trí chú trọng đi sâu hợp tác trong các lĩnh vực sau đây:
…- Thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế - thương mại Việt - Trung giai đoạn 2012 - 2016”, thúc đẩy thực hiện Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm và các thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại mà hai bên đã ký kết… Sớm bàn bạc và xác định phương án tổng thể chung về xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới; thiết thực thúc đẩy các dự án kết nối cơ sở hạ tầng. Thúc đẩy hợp tác trong các ngành nghề nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ và các lĩnh vực khoa học công nghệ, y tế, kiểm nghiệm, kiểm dịch, v.v...
Hai bên tuyên bố chính thức thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm Công tác về hợp tác tiền tệ, đồng ý tăng cường điều hành, phối hợp giữa các nhóm này và Nhóm Công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, cùng nhau thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực phát triển toàn diện.
…- Tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt - Trung, thực hiện tốt các văn kiện về biên giới trên đất liền giữa hai nước; sớm ký "Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực Thác Bản Giốc" và "Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân"; cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới. Phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt - Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước.
Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng tuyên bố: “Trung Quốc làm gì cũng có tính toán.” Vì vậy ở đây có mấy vấn đề đặt ra với bản Thông cáo chung này như sau:
1. “Khu hợp tác kinh tế qua biên giới” là thế nào? Phải chăng là một khu kinh tế tự do ở biên giới để hàng hoá Trung Quốc tập kết trước khi tràn vào thị trường Việt Nam, bóp chết nền sản xuất trong nước?
2. “Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm” giữa Việt Nam và Trung Quốc bao gồm những dự án nào?
Phải chăng đây là những “dự án” giống như “Dự án Đường sắt Đô thị tuyến Cát Linh – Hà Đông” (vừa tàn phá lá phổi xanh của thành phố, vừa nhằm phá huỷ các huyệt phong thuỷ ở vùng địa linh nhân kiệt bậc nhất trong cả nước, lĩnh vực mà các nhà phong thuỷ Trung Quốc giỏi hơn ai hết, vừa tiềm ẩn những nguy cơ tai hại về an ninh – quốc phòng), các dự án thông tin tín hiệu đường sắt (rất nhạy cảm về an ninh – quốc phòng và bị chậm trễ đến 7 năm trời), hay những dự án nhiệt điện do Trung Quốc cung cấp vốn (với công nghệ lạc hậu, chậm tiến độ hàng năm trời để rồi phụ thuộc vào Trung Quốc về phụ tùng thay thế, chưa kể có thể bị họ làm cho tê liệt hay cho nổ tung bất cứ lúc nào khi giữa hai nước xẩy ra chiến sự). Chính phủ Việt Nam phải công bố danh mục các dự án này cho nhân dân biết và giám sát, tránh thêm những bài học đắt giá khác.
3. Nhiều năm gần đây, Trung Quốc luôn tìm cách quốc tế hoá đồng nhân dân tệ, để vừa thoát khỏi sự lệ thuộc vào đồng dollar Mỹ, vừa thách thức vị thế đồng tiền dự trữ số 1 thế giới của nó.
Cuối năm 2014, việc Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc kiến nghị Chính phủ Việt Nam được thanh toán bằng đồng NDT trên lãnh thổ Việt Nam  đã khiến dư luận phản ứng gay gắt với thái độ hết sức cảnh giác trước nguy cơ lệ thuộc về tài chính tiền tệ vào Trung Quốc.[i] Vậy mà giờ đây Việt – Trung lại không chỉ tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhóm Công tác hợp tác về tiền tệ” mà còn tiến thêm một bước dài nữa là đã ký kết “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc”.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng lệ thuộc sâu sắc vào Trung Quốc, đây rõ ràng là một diễn biến hết sức đáng lo ngại.
4. Việc hai nước thành lập cái gọi là “Nhóm Công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng” rồi “thiết thực thúc đẩy các dự án kết nối cơ sở hạ tầng” là nhằm mục đích gì, nếu không phải là để Trung Quốc cung cấp vốn cho Việt Nam xây dựng các tuyến đường cao tốc nối các cửa ngõ biên giới Việt – Trung với các trung tâm kinh tế và an ninh – quốc phòng của Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, hay để tình trạng 90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc tiếp tục diễn ra, với cái giá không thể đong đếm về cả kinh tế lẫn an ninh – quốc phòng?
Trung Quốc luôn muốn Việt Nam mở toang các cửa ngõ biên giới Việt – Trung, bởi điều này mở đường cho họ giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc xâm lăng kinh tế trước mắt và cuộc xâm lược quân sự về lâu dài. Việc họ mong muốn “tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước” cũng là nhằm mục đích đó.
Như mọi chuyến thăm cấp cao khác giữa hai nước, chuyến thăm này cũng được ghi nhận trong bản Thông cáo chung là “thành công tốt đẹp”. Và, như các chuyến thăm khác, nó “thành công tốt đẹp” cho ai thì hẳn mọi người đều đã nhận thấy./.

  • Bài liên quan:
  1. Lào Cai: ‘Tử huyệt’ của phòng tuyến biên giới phía bắc? (VOA)
  2. Trục đường cửa ngõ chiến lược Móng Cái - Hạ Long sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc? (VOA)
  3. Formosa Hà Tĩnh đã trở thành đặc khu của Trung Quốc? (VOA)
  4. Chính phủ Việt Nam đang ‘dâng’ nền kinh tế nước nhà cho Trung Quốc? (VOA)
  5. Vì sao TQ cấm làm đường gần biên giới, còn VN lại mở toang cửa ngõ biên giới với TQ? (VOA)
--------------
Ghi chú: