Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Việt Nam: Quê hương mới của những người Mỹ sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số

Doris Gallan  | Huffington Post | 1.12.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Việt Nam bắt đầu đi vào ý thức của người Mỹ như một nơi chốn tiềm tàng để về hưu hay chuẩn bị hồi hưu sau hàng chục năm mảnh đất này gắn liền với những hình ảnh tiêu cực bởi cuộc chiến tranh. Năm 2012, gần nửa triệu người Mỹ, với hàng ngàn cựu binh trong số đó, đã đặt chân đến Việt Nam. Tất cả những gì mà đất nước này phải đưa ra chào mời họ là: Hãy quay về Mỹ và khơi dậy trí tưởng tượng của những người về hưu và người lao động lâu năm đang tìm kiếm một sự đổi thay lớn trong đời.
Ba người mới đến Việt Nam mang theo hy vọng về một lối sống khác. Những gì mà họ tìm thấy là một nhịp sống chậm hơn, mức sinh hoạt phí rẻ hơn rất nhiều, cảm nghiệm mới về sự phiêu lưu, và những con người thân thiện tuyệt vời… cũng như vô số thách thức trong quá trình thích nghi với một nền văn hoá, ngôn ngữ và lối sống hoàn toàn khác.
Những người Mỹ ở Việt Nam
Jerri, Marie và Tom đang nếm trải tất cả những thú vui cũng như nỗi thất vọng của việc chuyển đến một đất nước mới. Một trong những thử thách đầu tiên đối với bất cứ ai đến Việt Nam là dòng người và xe cộ hỗn loạn trên đường – chủ yếu là xe máy và xe đạp điện – điều khiến ai cũng phải ngạc nhiên.
Marie Kubo, một nhà giáo dục 58 tuổi, không bao giờ quên lần đầu tiên bà đi xe máy trên đường phố Đà Nẵng: “Tôi hơi sợ bởi không có quy tắc giao thông rõ ràng nào cả. Tôi cố sống cố chết tiếp tục cuộc hành trình. Sau lần đầu tiên đó, tôi quyết định “ngồi lên lưng hổ”, lòng tự nhủ lòng: ‘Nào, đi thì đi nào!’”
Jerri chủ yếu đi bộ hoặc đi taxi để đến nơi cần đến, trong khi Tom lại đi chiếc xe máy thuê mà ông sử dụng để khám phá thành phố và vùng nông thôn phụ cận.
Nếu việc lưu thông trên đường phố Đà Nẵng, một thành phố với một triệu dân, diễn ra điên rồ thì ở Sài Gòn và Hà Nội (dân số hai nơi đều khoảng 6,5 triệu và là những nơi mà phần lớn người nước ngoại lựa chọn để sinh sống), tình hình còn tồi tệ hơn thế nhiều. Tom lựa chọn Đà Nẵng bởi vị trí trung tâm – cách đều Hà Nội và Sài Gòn – cũng như vì địa thế ven biển bao quanh bởi núi non của nó. Marie thì nói, cô chọn thành phố này vì bầu không khí thoải mái và an lành của nó.
Những người Mỹ sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số này là ai?
Nhưng cả ba đều đã từng đến Việt Nam trước khi quyết định chuyển sang đây để thay đổi cuộc sống. Quyết định của họ dựa trên những gì mà người ta nói với họ về đất nước này.
Marie bày tỏ một cảm giác mà những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số (1945-1965) ở Mỹ thường cảm nhận: “Trước khi đến đây, tôi đã dốc hết tâm sức trong công việc của mình với những cô cậu vị thành niên và đã sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu. Tôi bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của phong cảnh Việt Nam và qua câu chuyện của những người từng thăm thú Đà Nẵng.”
Sau khi theo học để lấy bằng TEFL (giảng dạy ngoại ngữ Tiếng Anh) ở thành phố Seattle quê hương, Marie dấn thân vào cuộc phiêu lưu và chuyển tới Đà Nẵng với sự giúp đỡ của chỉ duy nhất một người bạn trên mạng. “Ngẫm lại”, Marie nói, “tôi thấy quyết định của mình quả là một phép màu.” Hiện cô đang dạy Tiếng Anh ngoài giờ.
Tại sao những người đã sống phần lớn cuộc đời mình trong sự thoải mái ở Mỹ lại muốn rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn của mình để đến Việt Nam? Jerri Sones, 69 tuổi và là một nhà giáo dục khác đến từ Seattle, nói: “Tôi muốn thử sống ở một nơi nào đó, tự thân vận động. Những trải nghiệm mới mà tôi từng kinh qua, những nơi chốn mới mà tôi từng mục kích, những phong tục mới mà tôi từng khám phá, thảy đều bồi đắp cho tôi những thứ mà không một ngôn từ nào đủ sức mô tả.”
Nhưng không phải ai cũng đến Việt Nam để làm việc. Trước khi chuyển tới Đà Nẵng cách đây vài tháng, Tom Richards, 59 tuổi, đã rút lui khỏi đời sống công ty và đang tìm kiếm một điều gì đó khác lạ. “Tôi muốn sống ở một đất nước mà con người thân thiện, một đất nước có đủ mọi tiện nghi hiện đại, với những miền đất mà tôi muốn thăm thú.”
Thử thách khó khăn nhất: nỗi nhớ gia đình
Đối với nhiều người ngoại quốc, thách thức lớn nhất mà họ đối mặt ở đất nước mới là khoảng cách với gia đình. Marie đồng ý với điều này: “Bọn trẻ của tôi đã lớn, và tôi nhớ chúng rất, rất nhiều. Ơn Chúa là đã có Skype và, đôi khi, cả nước mắt nữa. Tôi bỏ lại phía sau những bạn bè thân thiết và tôi ứng phó bằng cách vun đắp tình bạn mới, đồng thời giữ liên lạc với bạn bè cũ qua Skype và email.”
Khó khăn lớn nhất khi thực hiện một sự đổi thay hệ trọng như thế là việc đưa ra quyết định, nhưng một khi đã chuyển sang cuộc sống mới rồi thì người ta ít hối tiếc nữa. Tom giải thích mọi chuyện đã diễn ra tốt đẹp với mình đến thế nào: “Những kỳ vọng và ước muốn của tôi đã trở thành hiện thực, thật tuyệt. Dù đã biết trước tính thân thiện của người Việt Nam nhưng tôi vẫn bất ngờ trước mức độ tuyệt vời mà họ thể hiện trong thực tế.”
  • Doris Gallan là tác giả cuốn “The Boomers' Guide to Going Abroad to Travel, Live, Give and Learn” (Cẩm nang dành cho những người Mỹ sinh ra trong giai đoạn 1945-1965 khi ra nước ngoài để du lịch, sinh sống, làm từ thiện và học tập). Bà đang dạy về du lịch và khách sạn tại một trường đại học ở Đà Nẵng.
Nguồn: Huffington Post / Defend the Defenders

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Những đảng viên đã “sáng mắt, sáng lòng” đang tiến hành một cuộc cách mạng thầm lặng ở Việt Nam

Martin Petty  | Reuters | 28.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



(Reuters) – Việt Nam ngày nay không phải là những gì mà một Lê Hiếu Đằng trai trẻ từng hy vọng khi ông gia nhập Đảng Cộng sản 40 năm trước với khát khao giải phóng và tái thiết một đất nước bị tàn phá bởi hàng chục năm chiến tranh dưới sự chiếm đóng của người Pháp và người Mỹ.
Chế độ xã hội chủ nghĩa của nhà cách mạng quá cố Hồ Chí Minh đã bị tha hoá, ông nói, bởi việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở đây lại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính cái đảng đã sinh ra văn hoá tham nhũng và lợi ích nhóm.
“Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến vì một xã hội tốt đẹp hơn, một cuộc sống công bằng cho nhân dân. Nhưng rồi sau chiến tranh, tình hình đất nước lại xấu đi, người công nhân thì nghèo, người nông dân thì mất ruộng đất”, Lê Hiếu Đằng nói với Reuters.
“Đó là điều không thể chấp nhận được. Sự độc quyền và độc tài chính trị đang hoành hành trên đất nước này.”
Những ý kiến như thế có thể là bình thường ở nhiều nước. Song ở Việt Nam, nơi chính trị là phạm trù cấm kỵ, tự do ngôn luận bị bóp nghẹt, hình ảnh đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) được coi là thiêng liêng, các nhà phân tích cho rằng không thể đánh giá thấp ý nghĩa của hiện tượng các đảng viên lên tiếng công khai như vậy.

Các ĐBQH ấn nút thông qua Hiến pháp mới trong phiên họp ngày 28.11.2013 - Ảnh: REUTERS/STRINGER
Thứ Sáu vừa qua, Quốc hội do ĐCSVN khuynh loát đã thông qua Hiến pháp 1992 sửa đổi; bất chấp một chiến dịch tham vấn công chúng, bản Hiến pháp mới vẫn củng cố quyền lực của đảng giữa lúc sự bất mãn đang diễn ra âm ỉ trong dân chúng bởi cách thức đảng xử lý tranh chấp đất đai, tham nhũng cũng như điều hành một nền kinh tế chìm ngập trong khối nợ xấu của các DNNN.
Lê Hiếu Đằng kịch liệt phản bác hiến pháp sửa đổi, và ông không đơn độc với quan điểm của mình. Đó chính là những quan điểm đã đưa hàng chục người vào tù. Nhà cầm quyền đã đẩy mạnh chiến dịch trấn áp vì tình trạng bất đồng chính kiến tăng lên và tỷ lệ sử dụng Internet đã chiếm tới 1/3 trong tổng dân số 90 triệu người.
Những luật lệ Internet vốn dĩ đã hà khắc lại được thắt chặt thêm hôm thứ Tư, khi chính phủ loan báo mức xử phạt lên tới 100 triệu VNĐ (4.740USD) dành cho bất kỳ ai chỉ trích họ trên các phương tiện truyền thông xã hội.
Tuy nhiên, điều khiến đảng phải giật mình là ở chỗ: những tiếng nói mạnh mẽ nhất đòi hỏi một hệ thống đa nguyên hơn lại không phải đang đến từ công chúng nói chung, mà lại là từ trong hàng ngũ của họ, một hành động nổi loạn công khai mà người ta chưa từng được chứng kiến kể từ khi ĐCSVN lãnh đạo nước Việt Nam thống nhất năm 1975, sau chiến thắng của những người cộng sản trước quân đội Hoa Kỳ.
“Việt Nam đã bước vào một giai đoạn mới. Sự tồn tại của cạnh tranh trong đảng là điều mà người ta đã biết, nhưng giờ thì điều đó đã trở nên rõ ràng hơn theo cách mà người ta chưa từng thấy trước đây”, Jonathan London, một chuyên gia về Việt Nam tại Đại học Thành phố (City University) ở Hồng Kông, bình luận.
“Sự nổi lên của nhóm này và lời khuyên từ họ sẽ ảnh hưởng đến diễn tiến của cuộc thảo luận trong đảng. Không còn nghi ngờ gì, đây là một giai đoạn đầy bất trắc và cạnh tranh.”
KHỦNG HOẢNG VÀ BẾ TẮC
Năm nay, Lê Hiếu Đằng cùng 71 người khác, bao gồm trí thức, blogger và những đảng viên cả đương chức lẫn hưu trí, đã soạn thảo bản hiến pháp riêng nhằm hưởng ứng chiến dịch lấy ý kiến nhân dân sáo mòn mà lý do bên ngoài là xoa dịu nhân dân và tăng cường tính chính danh vốn đang nhạt nhoà của đảng.
Dự thảo hiến pháp của họ được đăng tải trên mạng và 15.000 người đã ký vào một bản kiến nghị kèm theo, kêu gọi bỏ Điều 4 Hiến pháp, điều khoản quy định độc quyền chính trị của ĐCSVN.
Tuy nhiên, các nhà lập pháp lại làm ngược lại và sửa đổi theo hướng tăng cường vai trò lãnh đạo của ĐCSVN cũng như nhiệm vụ bảo vệ đảng của quân đội. Trong bản tổng kết 26 triệu ý kiến của nhân dân về dự thảo hiến pháp, một uỷ ban của Quốc hội cho hay đa số nhân dân Việt Nam ủng hộ chế độ độc đảng.
“Về mặt lý thuyết, dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng”, Uỷ ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 nói trong một báo cáo hồi tháng Năm. “Không ai có thể khẳng định rằng nhiều đảng chính trị thì tốt hơn một đảng.”
Hôm thứ Sáu vừa qua, không một vị Đại biểu Quốc hội nào phản đối bản dự thảo mới, vốn mở rộng Điều 4 để quy định đảng là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.
Một bản dự thảo hiến pháp sửa đổi công bố mấy tuần trước đã khiến những người phản đối tức giận.
Các nhà vận động dân chủ khác đã gia nhập nhóm 72 người ban đầu và 165 người trong số họ, kể cả các cựu quan chức chính quyền, đã đăng một bản tuyên bố trên Internet hai tuần trước, với nội dung khuyến cáo các Đại biểu Quốc hội bác bỏ dự thảo hiến pháp sửa đổi.
Bản tuyên bố nêu rõ, nếu các ĐBQH thông qua hiến pháp sửa đổi thì họ đã nhúng tay vào một “tội ác chống lại Tổ quốc và nhân dân” và sẽ “chỉ càng đẩy đất nước lún sâu hơn và khủng hoảng và bế tắc”.
“VAI TRÒ CẦU NỐI”
Nhiều trong số những người chỉ trích đảng công khai từng tham gia vào các cuộc chiến tranh giải phóng Việt Nam khỏi các cường quốc phương Tây trong những năm 1950 cho đến những năm 1970 và nay đã trở thành những nhà cách mạng mới theo hình thức này hay hình thức khác, họ đối mặt với những chủ đề mà phần lớn người Việt Nam tỏ ra e sợ khi bàn tới.
Nguyễn Quang A từng một thời là thành viên của một viện tư vấn vốn đã tự giải thể sau khi chính phủ ban hành một nghị định hạn chế phạm vi hoạt động của nó 5 năm trước.
Thành viên của viện bao gồm những người từng là đảng viên, quan chức ngoại giao, doanh nhân và học giả. Họ giữ mối liên hệ với nhau qua các cuộc gặp hàng tháng để thảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội; một số vấn đề được họ xử lý dưới hình thức những bài bình luận đăng trên mạng.
“Chúng tôi muốn tạo ra một môi trường để tạo điều kiện cho sự ra đời của các lực lượng chính trị khác và đề xuất một quá trình chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ”, ông nói với Reuters.
“Chúng tôi hy vọng một số những thành viên của chúng tôi có thể đóng vai trò cầu nối để giúp đảng lắng nghe chúng tôi. Chuyện này sẽ mất thời gian, nhưng chúng tôi phải gây sức ép để họ thay đổi và thuyết phục mọi người không sợ hãi.”
Lê Hiếu Đằng và các đồng minh trong ĐCSVN của mình đang tiến một bước xa hơn. Họ lập kế hoạch vẫn ở trong đảng để có thể thu hút được sự ủng hộ từ những đảng viên đã “sáng mắt sáng lòng” nhằm thành lập một đảng đối lập với mục đích giám sát các chính sách của ĐCSVN và kiểm soát nó.
Bất chấp ngôn từ mạnh mẽ, họ nhấn mạnh rằng kế hoạch thành lập Đảng Dân chủ Xã hội không phải là âm mưu lật đổ đảng cầm quyền mà là một nỗ lực nhằm tạo ra sự chung sống tự do hơn giữa những đảng phái đem lại lợi ích cho đất nước.
Hồ Ngọc Nhuận, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Tp Hồ Chí Minh, một tổ chức bao trùm của ĐCSVN quản lý những tổ chức lớn hoạt động theo các nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận xét rằng chiến dịch lấy ý kiến nhân dân và bản hiến pháp sửa đổi là một “tấn bi hài kịch”, nó cho thấy đảng không còn liên hệ với nhân dân nữa.
Theo ông, đây là thời điểm phải sắp xếp lại hệ thống chính trị ở Việt Nam.
“Chúng tôi phải đối mặt với nhiều vấn đề ở Việt Nam, những cuộc khủng hoảng lớn, vậy thì làm sao chúng tôi có thể giải quyết chúng với một đảng toàn quyền? Chúng tôi phải thu hút sự chú ý của họ, vì thế chúng tôi đang kêu gọi các đồng chí trong đảng tham gia cùng chúng tôi để có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn này”, Hồ Ngọc Nhuận nói; ông cũng thừa nhận mọi chuyện đang cho thấy là khó mà thuyết phục được họ.
“Thế hệ mới không thể giảng giải về chủ nghĩa xã hội cho chúng tôi được nữa. Tuy được gọi là Đảng Cộng sản nhưng bản thân họ cũng không còn tin vào hệ tư tưởng của mình nữa rồi.”
(Biên tập: Robert Birsel)

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Báo Mỹ quan tâm đến chế định vai trò DNNN trong Hiến pháp Việt Nam sửa đổi

Bloomberg News | 27.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng


Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã sẵn sàng cho việc tăng cường kiểm soát nền kinh tế khi họ khẳng định vai trò trung tâm của Đảng Cộng sản cầm quyền và sự chi phối của khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong bản hiến pháp sửa đổi mà Quốc hội sẽ thông qua tuần này.
Sau khi tỏ ý hồi tháng Giêng rằng họ có thể tận dụng dịp sửa đổi hiến pháp để từng bước tiến tới một hệ thống theo định hướng thị trường nhiều hơn và nâng tốc độ tăng trưởng từ mức thấp nhất trong 13 năm gần đây, các nhà lãnh đạo lại quyết định duy trì vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế. Các DNNN của Việt Nam đã góp phần tạo ra tỷ lệ nợ xấu cao nhất Đông Nam Á.
Việc tiếp tục củng cố chế độ khiến những cải cách cần thiết như tăng cường độ minh bạch càng đứng trước rủi ro bị trì hoãn trong bối cảnh bất ổn xã hội gia tăng bởi những vấn đề như chủ quyền đất đai – đấy là nhận định của các nhà đầu tư, trong đó có Mark Mobius. Thái độ không hài lòng với tình hình kinh tế đã khiến Quốc hội lần đầu tiên tổ chức cuộc bỏ phiếu tín nhiệm dành cho các vị lãnh đạo và một số đảng viên thậm chí còn đề xuất một bản hiến pháp mới cho phép “cạnh tranh chính trị”.
“Đó là sự sửa soạn để chuẩn bị ứng phó với thảm hoạ”, Carlyle Thayer – giáo sư danh dự tại Học viện Quốc phòng Australia (Canberra) – nhận xét. “Nền kinh tế sẽ không đạt được tốc độ tăng trưởng 7% mà họ muốn. Bất cứ khi nào xẩy ra tình trạng bất ổn thì giải pháp mặc định cũng đều là duy trì sự kiểm soát.”
Các quan chức chính phủ dự báo nền kinh tế sẽ tăng trưởng 5,4% năm nay và 5,8% năm tới, nghĩa là 7 năm liền dưới mức 7%. Nợ xấu của Việt Nam, mà theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế và các hãng xếp hạng tín nhiệm thì cao hơn mức 4,52% tổng dư nợ được báo cáo vào cuối tháng Chín, đã kìm hãm tăng trưởng tín dụng và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp.
Nỗi bất an của các nhà đầu tư
Việc trì hoãn cải cách có thể gây bất an cho các nhà đầu tư nước ngoài vốn dĩ đã ngán ngẩm với hệ thống rối rắm của Việt Nam, Mobius (người chịu trách nhiệm quản lý 53 tỷ USD tài sản trên cương vị chủ tịch điều hành của Templeton Emerging Markets Group) nhận xét.
“Nếu bạn đang kinh doanh ở Việt Nam thì vai trò của chính phủ là rất, rất lớn”, ông nói qua điện thoại. “Chúng tôi gần như phải đoán mò về những gì sắp xẩy ra. Bạn phải đối mặt với một nhà nước độc đảng và các quyết định thì được đưa ra sau những cánh cửa khép kín. Chúng tôi cần được thấy nhiều minh bạch hơn nữa.”
Xuất khẩu của Việt Nam trong tháng Mười tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái, nhiều hơn hai lần tốc độ của Trung Quốc, và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cam kết tăng 54% lên 20,8 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm. Chính phủ sẽ muốn duy trì nhịp độ đó, Mobius nói.
“Tôi chắc chắn là có một nhóm trong đảng muốn chứng kiến thêm cải cách”, ông nhận xét.
Mobius và các nhà đầu tư chứng khoán khác đã góp phần vào tốc độ tăng trưởng ngoạn mục 24% của VN Index năm nay, với kỳ vọng chính phủ sẽ nâng trần sở hữu nước ngoài trong các doanh nghiệp niêm yết. Chỉ số thị trường chứng khoán của Việt Nam đã tăng 0,4% lên 510,96 điểm lúc mở cửa ngày hôm nay.
Bản dự thảo hiến pháp mới nhất khẳng định một “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”, trong đó “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Nó vẫn duy trì quy định là tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật.
Cơ hội nhỡ nhàng
Các công ty và nhà đầu tư nước ngoài “sẽ nhận thấy rằng hiến pháp không có những thay đổi quan trọng và họ có thể cho rằng chúng ta không thực sự muốn thay đổi và đó sẽ là một tín hiệu sai lầm”, ông Lê Đăng Doanh (chuyên gia kinh tế độc lập từng cố vấn cho hai thủ tướng Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng) nhận xét. “Một số nhà đầu tư có thể coi đây là sự ổn định nhưng số khác lại có thể xem là đình trệ.”
Giới lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế nhằm ứng phó với hiện tượng tăng trưởng đang chậm lại, đồng thời thể hiện thái độ sẵn sàng hơn trong việc cải cách DNNN, ông nói thêm.
“Chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội lớn để thực sự tạo ra một số thay đổi”, ông Lê Đăng Doanh (người nằm trong số 72 vị nhân sỹ, trí thức ký tên vào bản hiến pháp thay thế mà họ đề xuất cho Quốc hội) bình luận. “Chúng ta có thể sẽ phải trả giá cho bản hiến pháp mới này. Nó sẽ không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi thành phần kinh tế nhà nước kém hiệu quả lại dẫn dắt nền kinh tế.”
Tình trạng dễ bị tổn thương của nền kinh tế
Bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 cũng tăng cường mức độ ảnh hưởng của đảng bằng cách đặt lực lượng công an và quân đội dưới quyền kiểm soát của nó và trao cho chính phủ những quyền hạn lớn hơn để hạn chế tự do ngôn luận.
Từng một thời là điểm đến phát triển nhanh nhất mà các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn, sự tăng trưởng của Việt Nam đã chậm lại sau khi sớm bùng nổ nhờ những cải cách kinh tế năm 1986 mà người ta gọi là “Đổi mới” (lần đầu tiên kể từ khi cuộc chiến với Mỹ kết thúc doanh nghiệp tư nhân được phép chính thức hoạt động).
DNNN là một nguyên nhân chính khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận xét hồi tháng Tám.
Khu vực kinh tế nhà nước là một trụ đỡ của nền kinh tế, giúp đảm bảo sự ổn định trong bối cảnh suy thoái toàn cầu gần đây – đó là phát biểu của Đại biểu Quốc hội Trần Minh Diệu mà báo điện tử VietNamNet đưa tin ngày 6.11.
“Vẫn cần thiết”
“Mặc dù còn có những khiếm khuyết trong hoạt động quản lý, điều hành và sản xuất kinh doanh nhưng vẫn cần tăng cường vai trò của loại hình này”, ông Trần Minh Diệu nói.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam chịu áp lực phải thay đổi. Trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tháng Sáu vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị gần 1/3 số Đại biểu Quốc hội đánh giá thấp. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nhận được số phiếu “tín nhiệm thấp” từ 42% số đại biểu, những người bỏ phiếu kín.
Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Việt Nam, DNNN được biết đến với cái tên Vinashin, gần như sụp đổ hồi năm 2010 vì không xoay xở được nợ nần. Doanh nghiệp này hiện đã đổi tên thành Tổng Công ty Công nghiệp Đóng tàu.
Các nhà lãnh đạo đã tỏ ra do dự trước việc liệu bản hiến pháp sửa đổi có nên chứa đựng những ngôn từ điều chỉnh lại vai trò của nhà nước hay không, chuyên gia kinh tế phụ trách Việt Nam của Ngân hàng Phát triển Á Châu (ADB) Dominic Mellor bình luận.
“Ở đây có các nhóm lợi ích cùng một số nhóm khác không muốn thay đổi”, ông nói qua điện thoại. “Tuy nhiên, mức độ bất ổn trong vài năm qua và thành tích nghèo nàn của những DNNN quản lý yếu kém đã tạo ra cuộc tranh luận.”
Theo Tim Condon, chuyên gia trưởng về kinh tế Châu Á của công ty ING Financial Markets (Singapore), người trước kia từng làm cho Ngân hàng Thế giới (WB), ngôn từ của bản hiến pháp mới có lẽ sẽ không gây ra hiện tượng giảm sút đầu tư trong ngắn hạn. Tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy cộng với chi phí nhân công thấp là những nhân tố đang thu hút các doanh nghiệp rời bỏ Trung Quốc sang Việt Nam, ông nói.
“Nếu việc công bố bản hiến pháp mới tạo ra bất kỳ hiệu ứng gì thì nó cũng chỉ được cảm nhận trong dài hạn: một tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với kỳ vọng”, Condon nhận xét. “Hai mươi năm tới chúng ta có thể sẽ nhìn lại quyết định này và xem đó như một quyết định vô cùng tai hại.”
Liên hệ với người của Bloomberg News về bài viết: John Boudreau (Hà Nội), jboudreau3@bloomberg.net
Liên hệ với biên tập viên chịu trách nhiệm về bài viết: Rosalind Mathieson, rmathieson3@bloomberg.net

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Carl Thayer: Gấu Nga đã trở lại Việt Nam

Chuyến thăm Việt Nam vừa rồi của Tổng thống Putin chỉ là dấu hiệu mới nhất cho thấy mối quan hệ đang phát triển của hai đồng minh trước đây.

Carl Thayer | The Diplomat | 26.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Tổng thống Nha Vladimir Putin vừa thực hiện chuyến thăm chớp nhoáng tới Hà Nội ngày 12.11 để thúc đẩy mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà hai bên đạt được vào năm ngoái. Đây là chuyến công du thứ ba của Putin đến Việt Nam và là chuyến thứ hai trên cương vị Tổng thống Liên bang Nga.
Putin đã gặp 3 nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Trương Tấn Sang và TBT Nguyễn Phú Trọng. Kết thúc chuyến thăm, người ta loan báo là hai bên đã đạt được 17 thoả thuận song phương, trong đó có 5 thoả thuận trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng. Những thoả thuận này phản ánh tính chất sâu rộng của mối quan hệ song phương mà hai nước bắt đầu phát triển sau khi Liên bang Soviet sụp đổ 10 năm.
Các lực lượng vũ trang của Việt Nam – phòng không, không quân, hải quân, tăng-thiết giáp và pháo binh – phụ thuộc vào phụ tùng và trang thiết bị từ thời Liên Xô và rất cần được hiện đại hoá. Từ năm 1993 đến 2000, Nga đã bán cho Việt Nam 12 máy bay Su-27SK và Su-27UB Flanker, 2 hộ vệ hạm (corvette) gắn tên lửa, 4 hệ thống radar và các thiết bị quân sự khác.
Tháng 3.2001, Nga trở thành đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam. Lúc đó, hai bên đã vạch ra 8 lĩnh vực hợp tác chính: chính trị - ngoại giao; dầu khí, thuỷ điện và năng lượng hạt nhân; thương mại và đầu tư; khoa học - công nghệ; giáo dục - đào tạo; văn hoá - du lịch; thiết bị và công nghệ quân sự.
Điều 8 của thoả thuận đối tác chiến lược nêu rõ: “Hai bên sẽ tăng cường hợp tác trong việc cung ứng trang thiết bị quân sự nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh của Việt Nam và Nga mà không chống lại bất kỳ bên thứ ba nào.”
Từ năm 2001 đến 2008, mối quan hệ song phương giữa hai nước bị hạn chế do tình hình kinh tế tồi tệ ở Nga; điều này khiến cho mối quan hệ đối tác chiến lược trở nên yếu ớt. Kể từ năm 2008, tình hình chính trị của Nga ổn định trở lại và nền kinh tế được thúc đẩy nhờ sự phát triển của hoạt động khai thác dầu khí. Nga tìm cách khai thác cơ hội thị trường tại một Việt Nam đang tăng trưởng nhanh cũng như các tuyến vận tải giữa Việt Nam và vùng Viễn Đông của Nga.
Việc Nga bán vũ khí cho Việt Nam nhanh chóng trở thành một bộ phận quan trọng trong mối quan hệ đối tác chiến lược.
Từ năm 2008 đến 2012, Hải quân Việt Nam nhận 2 khinh hạm (frigate) lớp Gepard gắn tên lửa điều khiển và 4 tàu tuần tiễu cao tốc lớp Svetlyak. Ngoài ra, Hải quân Việt Nam còn mua 40 tên lửa chống hạm Yakhont/SS-N-26 và 400 tên lửa chống hạm Kh-35Uran/SS-N-25.
Năm 2009, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 tàu ngầm lớp Kilo cải tiến.
Quân chủng Phòng không - Không quân của Việt Nam nhận 20 máy bay chiến đấu Su-30MK2V với các tên lửa hành trình chống hạm Kh-59MK, 100 tên lửa không đối không tầm ngắn R-73 (AA-11 Archer), 200 tên lửa đất đối không 9M311/SA-19 Grisons, 2 khẩu đội pháo đất đối không S-300PMU-1, 4 radar phòng không Kolchnya và thiết bị định vị radio thụ động VERA. Ngoài ra, Việt Nam còn tiếp nhận 2 khẩu đội pháo bảo vệ bờ biển K-300P Bastion.
Ngày 27.7.2012, Tổng thống Putin gặp Chủ tịch Sang tại thành phố nghỉ dưỡng Sochi và thông qua Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ song phương lên đối tác chiến lược toàn diện. Các hợp đồng bán vũ khí và cung cấp dịch vụ quân sự mà Nga dành cho Việt Nam giờ đây đã trở thành hợp phần quan trọng nhất trong mối quan hệ giữa hai nước.
Từ năm 2012, Việt Nam đã đặt mua thêm 12 máy bay Su-30MK2s và 2 khinh hạm lớp Gepard 3.9 (được thiết kế để chiến đấu chống tàu ngầm). Nga cũng được trao hợp đồng xây dựng một cơ sở bảo dưỡng và sửa chữa tàu quân sự ở vịnh Cam Ranh.
Trước thềm chuyến thăm Việt Nam mới đây của Putin, Nga đã cho chiếc tàu ngầm lớp Kilo đầu tiên của Việt Nam lên tàu vận chuyển để giao cho Việt Nam đồng thời loan báo rằng họ sẽ bàn giao trung tâm đào tạo thuỷ thủ tàu ngầm mà họ đang xây dựng ở cảng Cam Ranh vào tháng 1.2014.
Kết thúc chuyến thăm của Putin, bản Tuyên bố chung đã đề cập đến một thoả thuận về hợp tác quốc phòng giữa hai bên mà không cung cấp chi tiết cụ thể. Báo chí cũng như những tuyên bố chính thức khác cho thấy Nga sẽ tham gia tích cực vào việc sửa chữa, bảo dưỡng các vũ khí và trang thiết bị quân sự mà họ đã bán cho Việt Nam, đồng thời chuyển giao công nghệ quân sự cho nhà máy liên doanh của hai nước. Chẳng hạn, Việt Nam và Nga có thể sẽ đồng sản xuất tên lửa hành trình chống hạm Uran (SS-N-25 Switchblade).
Trong cuộc phỏng vấn ngày 9.11, trước thềm chuyến thăm của Tổng thống Putin, Chủ tịch Trương Tấn Sang đã kêu gọi hai nước “đưa hợp tác quân sự lên tầm mức mới”. Để “tạo bước đột phá mới” trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, Chủ tịch Sang còn đề xuất “hình thành liên doanh sản xuất, trong hoạt động nghiên cứu, trong việc thành lập các trung tâm dịch vụ và triển khai dịch vụ hậu mãi, cũng như trong việc xuất khẩu sang nước thứ ba”.
Tuyên bố trước khi đến Hà Nội, Tổng thống Putin lưu ý: “Hợp tác quân sự và kỹ thuật đã diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn mới. Công cuộc hợp tác đó không còn bó hẹp trong phạm vi cung ứng hàng xuất khẩu, mà hai bên đang thực hiện các bước để khởi động dự án sản xuất thiết bị quân sự tiên tiến với sự trợ giúp của các công ty Nga ở Việt Nam.”
Nga đang thúc ép Việt Nam cho phép họ độc quyền tiếp cận các cơ sở hậu cần và sửa chữa, bảo dưỡng tàu quân sự hiện đang được xây dựng ở vịnh Cam Ranh.
Những vũ khí và trang thiết bị quân sự mà Việt Nam tiếp nhận hiện nay, cũng như dự đoán sẽ tiếp nhận trong tương lai, dẫn đến nhu cầu thúc bách đối với các dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa và đào tạo thích hợp mà chỉ các doanh nghiệp quốc phòng của Nga mới có thể cung cấp. Ngoài ra, Nga còn đề xuất mở rộng khu lưu trú tại các học viện quân sự của mình để đào tạo nhân sự cho quân đội Việt Nam.
Mới đây, James Goldrich, đô đốc hồi hưu người Australia, đã lưu ý về việc Việt Nam mua 6 tàu ngầm lớp Kilo rằng: “Người Việt Nam đang nỗ lực để nhanh chóng đạt được điều mà trong thời gian gần đây, không một lực lượng hải quân nào xoay xở thành công với một quy mô lớn như thế và từ một nền tảng hạn hẹp đến thế”. Ông kết luận: “Những tàu thuyền mới có thể có số lượng người Nga đáng kể trên boong trong những năm sắp tới… Các chuyên gia Nga chắc chắn là sẽ được cần đến ở trên bờ.”
Tóm lại, “gấu Nga” đang trở lại Việt Nam. Những năm tới đây, các công ty Nga sẽ trợ giúp Việt Nam trong việc sửa chữa và bảo dưỡng những vũ khí và trang thiết bị quân sự mà họ mua từ Nga. Các công ty quốc phòng của Nga sẽ hỗ trợ Việt Nam trong hoạt động đồng sản xuất nhiều loại tên lửa và vũ khí, trang thiết bị quân sự, những thứ sẽ được lắp vào các bệ tác chiến trên không và trên biển mới của Việt Nam. Bên cạnh đó, các sỹ quan và chuyên gia khác của Nga cũng sẽ giúp Việt Nam phát triển hạm đội tàu ngầm của mình.
Các tiện ích quân sự của Nga ở Cam Ranh cũng được cho là sẽ cung cấp hậu cần và dịch vụ cho các tàu hải quân của Nga trên đường từ Viễn Đông đến vịnh Aden và ngược lại. Như bản Tuyên bố chung của hai nước ngày 12.11 tiết lộ, các liên doanh dầu khí Việt-Nga sẽ tiếp tục thăm dò và sản xuất các loại hydro-carbon trên thềm lục địa của Việt Nam. Vì thế, Việt Nam và Nga có lợi ích tương đồng trong việc duy trì hoà bình và ổn định trên Biển Đông.


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

The Diplomat: Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục đạt được những bước tiến chiến lược quan trọng

Chuyến thăm cấp cao đến New Delhi tuần này cho thấy một loạt lĩnh vực hợp tác giữa hai nước.

Ankit Panda | The Diplomat | 21.11.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị kết thúc chuyến thăm quan trọng tới New Delhi. Chuyến thăm dường như lại tiếp thêm sức sống cho mối quan hệ vốn dĩ đã nồng ấm giữa hai quốc gia Á Châu này, đồng thời cũng đưa đến những thoả thuận ảnh hưởng tới tương lai của quan hệ Việt-Ấn trên Biển Đông. Bắt đầu với chuyến thăm này, New Delhi sẽ dành vài tháng tới cho nghị trình ngoại giao Hướng Đông của mình, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-Hye và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng sẽ sớm công du New Delhi.
Trong diễn tiến của chuyến thăm tuần này – chuyến thăm quan trọng thứ ba mà các nhà lãnh đạo Việt Nam thực hiện kể từ năm 2011 – Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết nhiều thoả thuận và một Biên bản Ghi nhớ quan trọng. Nếu ai đó từng nghi ngờ về mức độ sâu rộng chiến lược của mối quan hệ này – vốn được nâng cấp thành quan hệ đối tác chiến lược năm 2007 – thì những thoả thuận này sẽ xua tan những nghi ngờ ấy.
Ấn Độ đã sải những bước dài trong công cuộc hiện thực hoá “Chính sách Hướng Đông” vốn bị trì hoãn khá lâu bằng cách cung cấp khoản tín dụng 100 triệu USD cho Việt Nam mua vũ khí. Phía Việt Nam bày tỏ sự quan tâm đến tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos do Ấn Độ và Nga hợp tác phát triển. Ngoài ra, hai bên còn ký một thoả thuận về dịch vụ hàng không nhằm tăng lượng hành khách hàng không trực tiếp giữa hai nước và thoả thuận thành lập một “phòng thí nghiệm tội phạm công nghệ cao ở Hà Nội” – sự kiện đã được bàn thảo đầu năm nay. Phòng Thí nghiệm Tội phạm Công nghệ cao Indira Gandhi (IGHCL), tên gọi chính thức của phòng thí nghiệm, được tài trợ thông qua một khoản viện trợ tài chính của Ấn Độ (cũng được nhất trí trong chuyến thăm này).
Về quan hệ thương mại, hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 7 tỷ USD vào năm 2015. Theo Indo-Asian News Service, Việt Nam trao cho tập đoàn Tata Power của Ấn Độ một hợp đồng quan trọng, “xây dựng nhà máy nhiệt điện than Long Phú II ở Sóc Trăng”. Ấn Độ đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách ngoại giao của mình bằng cách lần đầu tiên tặng một siêu máy tính cho nước khác – Trung tâm Tính toán Hiệu năng cao PARAM tại Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ sử dụng máy tính này.
Sự hào phóng tích cực về mọi mặt của Ấn Độ xem ra đã đem lại kết quả. Đáp lại sự can dự đầy khích lệ của Ấn Độ với Việt Nam, phía Việt Nam tuyên bố rằng họ đánh giá cao “vai trò mang tính xây dựng” của Ấn Độ trên Biển Đông. Rõ ràng, Ấn Độ quan tâm đến việc kéo Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của mình để đối trọng với Trung Quốc trong khu vực (giống như Nga), và hai bên có mối quan hệ quốc phòng ngày càng sâu sắc. Ấn Độ đã hỗ trợ và đào tạo thuỷ thủ đoàn tàu ngầm cho Việt Nam.
Việt Nam giao cho Ấn Độ, nước đã hợp tác với Việt Nam trong hoạt động thăm dò dầu ngoài khơi Biển Đông, 7 lô dầu ngoài khơi để thăm dò. Hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực này trong quá khứ từng khiến Trung Quốc tức giận. Tờ Times of India đưa tin: “Năm ngoái, khi Ấn Độ muốn từ bỏ lô dầu số 128 ngoài khơi Biển Đông của Việt Nam vì ở đó thực sự không có dầu, Hà Nội đã yêu cầu New Delhi ở lại cho đến tận năm 2014. Chuyện này xẩy ra giữa lúc Trung Quốc đang phùng mang trợn má để bảo vệ yêu sách của mình trên Biển Đông.”
Cái cách Ấn Độ tiếp cận Việt Nam đã thay đổi từ hình thức dựa chủ yếu vào tình đoàn kết hậu thuộc địa sang hình thức ngày càng dựa trên tầm nhìn chiến lược. Phương diện kinh tế của mối quan hệ không thực sự được mở rộng cho đến những năm gần đây do sự trì hoãn của quá trình tự do hoá ở Ấn Độ và chính sách kinh tế phi tự do của Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Tính chất bổ trợ chiến lược quan trọng của mối quan hệ nằm ở chỗ, khi hai nước tăng cường quan hệ, họ đều nhận thấy vị thế của mình trước Trung Quốc ngày càng lớn hơn. Đối với Ấn Độ, Việt Nam là một nút thắt trọng yếu trong nỗ lực nhằm xoá nhoà lằn ranh giữa Ấn Độ Dương và những lợi ích ở Biển Đông của họ.
Việt Nam vẫn luôn coi Ấn Độ là một đối tác Á Châu quan trọng, luôn nhớ tới sự ủng hộ mà Ấn Độ dành cho mình trong cuộc chiến tranh ở Campuchia hàng chục năm trước. Ấn Độ, trong tầm nhìn chiến lược của Việt Nam, là một đối trọng khả dĩ với Trung Quốc. Những năm gần đây, Việt Nam vẫn nhiệt tình mời Ấn Độ tới Biển Đông để thăm dò tài nguyên. Thậm chí, họ còn đi xa đến mức mời chào Ấn Độ tới thăm dò tại những khu vực mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền (Ấn Độ đã quyết định không theo đuổi vì sự bất khả thi của công nghệ khai thác). Chắc chắn, Việt Nam sẽ tiếp tục ve vãn Ấn Độ như một đối tác chủ chốt trước thái độ đón nhận của Ấn Độ. Trong bối cảnh hai nước tiếp tục hợp tác về quốc phòng và năng lượng, mối quan hệ Việt-Ấn chỉ có thể trở nên quan trọng hơn trong việc định đoạt kết cục địa chính trị ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái  Bình Dương.

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Siêu bão Hải Yến đã dạy chúng ta điều gì về Trung Quốc?

Người dịch: Lê Anh Hùng



Nếu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cần một lời nhắc nhở về sự khác biệt giữa trật tự do Mỹ lãnh đạo với một trật tự do Trung Quốc định hình thì phản ứng của hai siêu cường này trước siêu bão Hải Yến là một ví dụ trần trụi. Một nước điều lực lượng hải quân cùng thuỷ quân lục chiến đến giúp đỡ và cam kết viện trợ 20 triệu USD. Nước kia thì trao khoản hỗ trợ 100.000USD của chính phủ, cho đến khi không chịu nổi áp lực của cộng đồng quốc tế mới chịu tăng mức đóng góp lên 1,6 triệu USD, một con số vẫn thể hiện sự bần tiện.
Những bạn bè và đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực cần xem xét nghiêm túc ý nghĩa của sự so sánh này. Đây không phải là một hiện tượng bất thường.
Hoa Kỳ đã phạm sai lầm trong nhiều năm. Việc liên minh với các chế độ phi dân chủ — bất kể là Marcos ở Philippines hay Suharto ở Indonesia — thường là cần thiết để giành chiến thắng trong chiến tranh lạnh. Trong một số trường hợp, như ở Đài Loan hay Hàn Quốc, sự ủng hộ của chúng ta là một nhân tố quyết định để những nước này rốt cuộc cũng đi đến chỗ dân chủ hoá. Song chắc chắn là có những trường hợp mà ở đó chúng ta đã ủng hộ các nhà độc tài lâu hơn và đầy đủ hơn mức cần thiết.
Giờ đây, tất cả dường như đã quá rõ ràng. Nhưng trước đây thì không phải vậy. Và trong thực tiễn, đôi khi chúng ta cũng phạm sai lầm trong những sự việc cụ thể. Dù vậy, Hoa Kỳ vẫn luôn tìm cách đảm bảo một mức độ phép tắc cơ bản khi thực thi chính sách ngoại giao của mình. Cộng đồng cử tri đòi hỏi điều đó. Và khi thiếu vắng một bối cảnh chiến lược chi phối, bao trùm như thời chiến tranh lạnh, người ta lại càng dễ đưa ra phán xét cá nhân.
Xin dẫn ra đây một dẫn chứng trước khi siêu bão Hải Yến đổ bộ vào Philippines. Năm 2008, sau khi một cơn lốc xoáy tàn phá Myanmar, Hoa Kỳ đã hỗ trợ và 15 lần yêu cầu cho phép sử dụng lực lượng hải quân để hoạt động cứu trợ nạn nhân đạt hiệu quả cao nhất. Chính quyền Myanmar đã từ chối những yêu cầu đó, xuất phát từ thói đa nghi cũng như sự khiếm nhã “thâm căn cố đế” của họ. Vấn đề nằm ở chỗ, năm 2008 là thời điểm mà ít nước trên thế giới có mối quan hệ với Hoa Kỳ tồi tệ hơn quan hệ Myanmar - Hoa Kỳ. Dù vậy, Hoa Kỳ vẫn vượt qua điều đó để nỗ lực cứu trợ.
Hãy so sánh hành động trên đây của Mỹ với sự đối xử mà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa dành cho Philippines khi thảm hoạ Hải Yến xẩy ra. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines không diễn ra tốt đẹp trong ba bốn năm qua, song vẫn không tồi tệ như mối quan hệ Hoa Kỳ - Myanmar năm 2008. Không có lệnh cấm vận nào giữa hai quốc gia; hai bên vẫn giao thương với nhau, vẫn duy trì quan hệ ngoại giao đầy đủ, vẫn tương tác ở cấp cao, vẫn tham gia các diễn đàn ngoại giao với nhau, v.v. Nhưng theo chuẩn mực khu vực về quan hệ láng giềng tốt — đặc biệt là chuẩn mực của Trung Quốc, quốc gia vẫn đánh đồng sự phản bác yêu sách lãnh thổ của họ với sự thù địch — thì mối quan hệ đó là sóng gió. Philippines vẫn tiếp tục khẳng định yêu sách lãnh thổ của họ trên Biển Đông mà không cần biện minh, đồng thời thuyết phục bạn bè và láng giềng về quyền của mình. Trước sự phản đối của Trung Quốc, Philippines đã viện đến một hiệp ước quốc tế — Công ước LHQ về Luật Biển (mà Trung Quốc cũng là một thành viên) — để củng cố yêu sách của mình. Với những tội đó, trong con mắt của ban lãnh đạo Trung Quốc, Philippines rõ ràng là đã từ bỏ cơ hội nhận được sự hỗ trợ của Trung Quốc dành cho những người dân bị thảm hoạ.
Thật khó mà quy điều này cho sự tính toán sai lầm. Theo ý nghĩa rộng nhất, nó nằm trong một xu hướng. Tại sao Trung Quốc lại vứt bỏ chiến dịch “tấn công thiện cảm” nhằm vào Đông Nam Á mà họ từng thực hiện rất thành công vào đầu những năm 2000? Tại sao họ lại huỷ hoại các mối quan hệ ở đây vì những yêu sách lãnh thổ lạ lùng, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật? Tại sao họ lại chấp nhận rủi ro chiến tranh với Nhật Bản (và rộng ra là với các đồng minh của Mỹ) trên Biển Hoa Đông bằng việc tìm cách làm đảo lộn một hiện trạng hoà bình vốn phụng sự cả khu vực tốt đến vậy? Tại sao họ vẫn tiếp tục ủng hộ và bảo vệ chế độ đáng chê trách nhất trên thế giới ở Bắc Triều Tiên? Trên thực tế, Trung Quốc là đồng minh hiệp ước của Bắc Triều Tiên, họ vẫn tiếp tục hà hơi tiếp sức và trước sau như một ủng hộ Bắc Triều Tiên về ngoại giao.
Câu hỏi nổi lên từ sự kiện siêu bão Hải Yến là tại sao việc giúp đỡ một nước láng giềng đang bị tàn phá lại không phải là chuyện “không phải nghĩ” đối với ban lãnh đạo Trung Quốc. Có thể là người Trung Quốc không phải đang phạm sai lầm nghiêm trọng. Có thể là họ đang giải một bài toán khác với Hoa Kỳ. Lợi ích của họ không phải là trở thành một “cổ đông” hữu ích, cùng với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, trong công cuộc duy trì một trật tự khu vực tự do, công bằng và hoà bình. Trái lại, bài toán của họ hướng tiêu điểm rất hẹp vào nhiệm vụ tìm kiếm giải pháp trực tiếp cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.
Một trật tự quốc tế với tâm điểm là tất cả các quốc gia thành viên theo đuổi những lợi ích quốc gia hẹp hòi (đến mức không có chỗ cho phép tắc con người cơ bản) không phải là một trật tự tương xứng với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Đó chính là bài học cho chúng ta từ siêu bão Hải Yến.
  • Walter Lohman giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á Châu (Asian Studies Center) của Quỹ Di sản (The Heritage Foundation).