Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Sinh viên ngày càng mất hứng thú với các văn bằng về chủ nghĩa Marx buộc chính phủ Việt Nam phải miễn học phí

AP | 15.8.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng



Hà Nội, Việt Nam — Các lực lượng thị trường đang vận hành trái ngược với những gì mà người ta vẫn thuyết giảng về Marx, Lenin và Hồ Chí Minh tại các trường đại học ở Việt Nam, nơi chính phủ cộng sản đã phải viện đến phương sách miễn học phí hòng thu hút sinh viên.
Tháng trước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một nghị định miễn học phí cho những sinh viên đồng ý theo đuổi khoá học 4 năm về chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà cách mạng lừng lẫy của đất nước, tại các trường đại học công lập.
Sinh viên vẫn đang tránh những văn bằng này bởi các nhà tuyển dụng không quan tâm đến chúng, Phạm Tấn Hà, trưởng bộ phận tuyển sinh và đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia Tp HCM, cho biết. Văn bằng về những chuyên ngành như viễn thông, du lịch, quan hệ quốc tế và Tiếng Anh được ưa chuộng hơn bởi sinh viên tin là “họ sẽ có nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao sau khi tốt nghiệp”, ông nói.
Những sinh viên nghiên cứu một số chuyên ngành y khoa nhất định như lao phổi và bệnh phong cũng được miễn học phí theo nghị định. Thông thường họ sẽ phải trả một mức học phí tương đương 400USD mỗi năm.
Hiện tại, tất cả các sinh viên Việt Namđều phải theo học ít nhất 3 môn về chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, song chỉ ít người quan tâm nhiều hơn yêu cầu tối thiểu đó.
Việt Nam nằm dưới sự cai trị của chế độ cộng sản song đã tiến hành những cải cách thị trường tự do trong những năm 1980. Những ngày này, quá khứ của đất nước thể hiện rõ ràng nhất qua khu vực doanh nghiệp nhà nước khổng lồ và kém hiệu quả, bộ máy đàn áp nhà nước, những bức tượng hay toà nhà thời Soviet đây đó và những liên minh còn lay lắt với các nước cánh tả khác.
Kiếm việc làm – chứ không phải những nét khang khác của một hệ tư tưởng chính trị và kinh tế đã bị ngờ vực và đối nghịch với thứ chủ nghĩa tư bản đang vận hành xuyên khắp các đô thị ở Việt Nam – mới là mối quan tâm hàng đầu của phần lớn giới trẻ Việt Nam cũng như gia đình họ.
Hơn 60% trong dân số 90 triệu người của Việt Nam ở dưới độ tuổi 30, một ưu thế dân số có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao ở các nước đang phát triển. Cạnh tranh để giành được những công việc với mức lương cao sau khi tốt nghiệp đang diễn ra khốc liệt trong số khoảng 500.000 sinh viên tốt nghiệp và tham gia thị trường việc làm mỗi năm.
Nhiều nhà tuyển dụng, trong đó có những công ty đa quốc gia trông chờ vào các công ty môi giới nhân sự hay các ngành dịch vụ, phàn nàn về chất lượng của những sinh viên tốt nghiệp mà các trường đại học Việt Nam đang tạo ra. Ở đây có nhiều trường đại học dân lập tồn tại song song với hệ thống trường công lập, song với những người có tiền, du học ở nước ngoài lại được coi là lựa chọn tốt nhất.
Dương Văn Quang, một sinh viên năm thứ nhất ở trường Đại học Dược Hà Nội, nói rằng những sinh viên muốn gia nhập bộ máy chính quyền, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, là những người có nhiều khả năng tìm kiếm một văn bằng về triết học Marx-Lenin nhất. Anh cảm thấy thật bất công khi họ được miễn học phí, bất kể là môn học gì.
Những người khác gặp nhau trong giờ ăn trưa ở thủ đô Hà Nội cũng không hào hứng với những môn học như thế.
“Việc nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin khá khô khan và nhiều sinh viên không thích điều đó”, Trần Thế Anh, một sinh viên năm thứ năm 23 tuổi, bày tỏ. “Số lượng sinh viên theo đuổi các khoá học này rất khiêm tốn vì nhiều người trong số họ tin là sau khi tốt nghiệp sẽ khó tìm việc làm.”
Phan Thị Trang, một sinh viên dược khác, thừa nhận là các môn học đó có thể sẽ thú vị nếu cô nghiên cứu nhiều hơn. Nhưng hiện cô đã thấy đủ với chúng.
“Đơn giản là chúng không thể vận dụng vào cuộc sống hàng ngày của tôi”, cô nói.

Những ưu tiên khác nhau thách thức quan hệ Mỹ-Việt

Ryan McClure | 15.8.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng



Kể từ khi bình thường hoá quan hệ với Việt Nam năm 1995, Hoa Kỳ đã trở thanh đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam và là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở đây. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong 20 năm qua. Năm 2018, đất nước này hy vọng sẽ được thừa nhận là một nền kinh tế thị trường và, muộn nhất là năm 2020, trở thành một nước công nghiệp.
Tuy nhiên, cải cách chính trị và bảo vệ nhân quyền đã không diễn ra cùng nhịp độ với tăng trưởng kinh tế. Những vấn đề này đã trở thành mối quan tâm của một số quan chức Hoa Kỳ, những người vẫn tìm kiếm một chính sách ngoại giao chủ động ở Việt Nam để hạn chế tình trạng vi phạm nhân quyền và thúc đẩy pháp quyền (rule of law). Mối quan ngại của họ lại xung khắc với mong mốn của chính quyền Obama là mở rộng sự can dự quân sự và kinh tế với Việt Nam đồng thời biến Việt Namthành một đồng minh chiến lược ở Đông Nam Á.
Kể từ khi chính quyền Obama thực hiện chính sách tái cân bằng sang Châu Á, Hoa Kỳ đã tăng cường hợp tác quân sự với các nước Đông Nam Á, chẳng hạn như Việt Nam và Philippines, nhằm đối trọng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Các hải cảng, vai trò thành viên ASEAN cũng như thị trường đang phát triển của Việt Nam dành cho hàng hoá từ Mỹ có thể biến họ thành một đối tác khu vực quan trọng.
Việc chính quyền Obama ve vãn Việt Namdiễn ra ở một thời điểm đặc thù trong lịch sử khu vực. Mối quan hệ lịch sử của Việt Namvới Trung Quốc gần đây đã xấu đi vì thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc về vấn đề chủ quyền biển đảo trên Biển Đông. Hệ quả là Việt Nam đã tìm đến một số nước để tự bảo vệ mình trước sự thù địch tiềm tàng từ phía Trung Quốc.
Chính quyền Obama đã tăng mạnh các nguồn lực mà Hoa Kỳ phân bổ cho Việt Nam. Trong năm tài khoá 2014, Bộ Ngoại giao đã tăng mức độ tài trợ cho chương trình hỗ trợ giáo dục và đào tạo quân sự quốc tế, cũng như chương trình tài trợ quân sự nước ngoài. Trong khi đó, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đến Việt Nam nhiều lần; cựu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cũng từng đến Việt Nam. Tháng Sáu vừa qua, Tướng Martin Dempsey đã gặp người đồng cấp Việt NamĐỗ Bá Tỵ tại Lầu Năm Góc. Ngoài ra, Hoa Kỳ và Việt Namvẫn đang bận bịu đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, một hiệp định thương mại tự do hứa hẹn đem lại lợi ích cho nền kinh tế đang tăng trưởng của Việt Nam.
Chuyến công du gần đây của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ đã nêu bật nỗ lực kéo Việt Namvào cuộc của chính quyền Obama. Cuối chuyến thăm của Chủ tịch Sang, ông đã công bố bản tuyên bố chung với TT Obama, loan báo về việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt nhằm tạo ra một khuôn khổ để thúc đẩy mối quan hệ. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear gọi chuyến thăm là một thành công và cho biết các cuộc gặp tiếp theo sẽ được tổ chức từ nay đến cuối năm.
Tuy nhiên, cải cách chính trị và nhân quyền lại có khả năng cản trở, nếu không muốn nói là làm lạc hướng, hy vọng của Nhà Trắng về quan hệ đối tác với Việt Nam. Đối với nhiều quan chức chính phủ, đây là những chủ đề khiến cho đàm phán đổ vỡ. Trước chuyến thăm của Chủ tịch Sang, Tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương của Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện đã tổ chức một cuộc điều trần về quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam, mà tình trạng vi phạm nhân quyền là một trọng tâm. Các thành viên Tiểu ban đã bày tỏ mối quan ngại trước thực trạng chính phủ Việt Namđàn áp những người bảo vệ nhân quyền và các nhà lãnh đạo tôn giáo, đồng thời kêu gọi Hoa Kỳ gây áp lực buộc Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và pháp quyền.
Chủ tịch Uỷ ban Steve Chabot đã chất vấn là liệu việc chính quyền Obama tài trợ cho việc phát triển quân sự ở Việt Namlà một cách sử dụng khôn ngoan đồng tiền của người đóng thuế. Ông phát biểu thêm là thật khó mà biện minh cho mối quan hệ liên tục với Việt Namcho đến khi đất nước này “thực thi những cải cách đúng đắn và chứng tỏ cam kết đảm bảo các quyền tự do cơ bản của người dân”.
Tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương lưu ý rằng ngay cả khi các cuộc đàm phán TPP đạt được một hiệp định cuối cùng, Quốc hội vẫn phải phê chuẩn các cuộc đàm phán đó, và họ sẽ tiến hành thẩm tra kỹ lưỡng bởi tình trạng vi phạm nhân quyền của Việt Nam. Dân biểu Dana Rohrabacher bày tỏ quan ngại rằng Hoa Kỳ không nên tăng cường sức mạnh cho một “chính phủ áp bức ở Việt Nam”.
Các đạo luật đang được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn có thể cản trở mối quan hệ Mỹ-Việt. Trong một phiên thảo luận ngày 27.6, Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện đã thông qua H.R. 1897, một dự luật lưỡng đảng nhằm thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam. Uỷ ban lưu ý rằng sự thụt lùi của Việt Nam về bảo vệ nhân quyền, dân chủ và tự do báo chí có thể đặt ra một giới hạn cho sự can dự của Hoa Kỳ với Việt Nam, bất chấp tầm quan trọng địa chiến lược của quốc gia này.
Đạo luật sẽ ngăn chặn hỗ trợ phi nhân đạo dành cho Việt Namnếu chính phủ nước này không cải thiện cách hành xử đối với các tù nhân chính trị và tôn giáo. Trong phiên thảo luận, Chủ tịch Ed Royce đã gọi dự luật này là “một thông điệp đầy sức nặng” gửi đến chính phủ Việt Nam.
Bất chấp việc những quan ngại về nhân quyền và cải cách chính trị đã được nêu lên trong chuyến thăm của Chủ tịch Sang, Việt Namdường như vẫn không sẵn sàng cải thiện tình hình. Chính phủ Việt Namgần đây đã thông qua một nghị định (Nghị định 72/2013/NĐ-CP) với khả năng tiềm tàng là hạn chế sự bất đồng chính trị trên Internet. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã lên án nghị định này, cho rằng nó “không nhất quán với các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, cũng như những cam kết của Việt Nam đối với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền”.
Bất chấp những quan ngại chung, giữa chính quyền Obama và Quốc hội dường như vẫn tồn tại hai ngưỡng chấp thuận khác nhau dành cho việc phát triển quan hệ Mỹ-Việt. Chính quyền Obama, vốn bận tâm nhiều hơn với an ninh quốc gia và các liên minh quân sự khu vực, dường như không coi trọng tình hình nhân quyền và chính trị ở Việt Nam bằng các thành viên Quốc hội, những người phải đối mặt với áp lực lớn hơn rất nhiều từ các cộng đồng cử tri, đặc biệt là những người Mỹ gốc Việt. Trước khi Nhà Trắng tiếp tục quan hệ đối tác Mỹ-Việt hay đưa ra cam kết với Việt Nam, Tổng thống cần tham khảo Quốc hội để đảm bảo chính sách đối ngoại của ông sẽ không gặp phải sự phản đối ở trong nước.
Ryan McClure là một luật sư và một blogger về chính sách đối ngoại. Địa chỉ của ông Twitter @The BambooC.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Việt Nam và thế giới: Trọng tâm là Hoa Kỳ và Ấn Độ | Phân tích

Rajaram Panda | 12.8.2013 |

Người dịch: Lê Anh Hùng

 


Giới thiệu

Trong số những hoạt động ngoại giao cấp tập diễn ra suốt ba bốn tháng qua ở Châu Á – Thái Bình Dương, chuyến công du của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ từ 24 ¸ 27.7.2013 và cuộc gặp thượng đỉnh của ông với Tổng thống Barack Obama đã không nhận được sự chú ý đáng có của giới phân tích và truyền thông. Tầm quan trọng của chuyến thăm trong bối cảnh lập trường quyết đoán của Trung Quốc về vấn đề chủ quyền trong khu vực, mối quan ngại của Việt Namtrước yêu sách của Trung Quốc đối với gần như toàn bộ Biển Đông và chính sách “xoay trục” sang Châu Á của TT Obama không thể bị coi nhẹ. Chuyến thăm của Chủ tịch Sang diễn ra giữa lúc Việt Namđang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn trong việc quyết định tương lai của mình. Obama đã tận dụng cơ hội này để thuyết phục Chủ tịch Sang dẫn dắt một lộ trình vì dân chủ, cho dù ở giai đoạn chuyển tiếp này việc quân đội kiểm soát chính phủ một thời gian ngắn có thể là điều đáng mong muốn, như đã từng xẩy ra với Đài Loan và Hàn Quốc, bất chấp sự phản đối từ các nhà hoạt động nhân quyền.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Sang tới Washingtonvà mới chỉ là chuyến thăm thứ hai của một Chủ tịch Việt Nam tới Phòng Bầu dục kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam bình thường hoá quan hệ ngoại giao ngày 11.7.1995. Việt Nam đã rút ra bài học rằng trong ngoại giao không có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có bạn bè. Lịch sử thật trớ trêu khi mà gần 4 thập niên sau chiến tranh, Việt Nam lại ngày càng trông chờ vào Hoa Kỳ để tìm kiếm sự đảm bảo chiến lược trước mối đe doạ rõ rệt từ Trung Quốc. Nỗi bất an của Việt Nam bắt nguồn từ lập trường hiếu chiến của Trung Quốc thời gian gần đây, đặc biệt là những yêu sách ở Biển Đông và việc họ vi phạm những quy tắc ứng xử quốc tế mà không bị trừng phạt. Nếu xét đến điều này thì ở đây có sự đồng thuận nhận thức ngày càng tăng rằng Trung Quốc đang đặt ra một mối đe doạ đối với chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Liệu Hoa Kỳ có nhận ra cơ hội này để thuyết phục Việt Nam chuyển hoá sang một hệ thống dân chủ, trong bối cảnh quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam đang góp phần vào sự dựa dẫm ngày một nhiều của Việt Nam vào thương mại và đầu tư của Mỹ? Sự thân thiện ngày càng tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mở ra một cánh cửa cơ hội cho thay đổi dân chủ ở Việt Nam. Các tổ chức xã hội dân sự nhận thấy sự chông chênh của Việt Nam bắt nguồn từ thái độ hung hãn thường trực của Trung Quốc bởi Việt Nam không thể một mình kháng cự nổi sự hung hãn của Trung Quốc. Việt Nam cần bạn bè. Vì vậy, họ đã và đang đưa ra những quyết định sáng suốt là bắt tay với Hoa Kỳ và các nước ASEAN khác nhằm hình thành nên một mặt trận chung để ứng phó với thách thức mang tên Trung Quốc. Chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tới Ấn Độ đầu tháng 7.2013 cũng cần được nhìn nhận từ góc độ đó. Điều này là bởi cả Ấn Độ lẫn Việt Namđều đang hợp tác với nhau để tăng cường mối quan hệ chiến lược vì hoà bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Môi trường chiến lược xung quanh Việt Namđang biến chuyển nhanh chóng và những thay đổi về chính trị - xã hội cũng đang tác động đến cuộc đối thoại về chính sách ngoại giao của Việt Nam. Sau hàng thập niên nằm dưới chế độ độc tài quân sự, Myanmar đang tiến hành chuyển đổi hệ thống và sự chuyển tiếp từ từ sang chế độ dân chủ đang được cộng đồng quốc tế hoan nghênh. Ban lãnh đạo Myanmarđang thực hiện lời hứa là phóng thích toàn bộ số tù nhân chính trị trước khi năm 2013 kết thúc, để chứng kiến “tất cả mọi người đều có thể đóng góp vào sự đi lên của đất nước”. Campuchia, láng giềng của Việt Nam, cũng đã tổ chức các cuộc bầu cử, và nhà lãnh đạo đối lập của họ đã được phép quay trở lại đất nước sau một thời gian lưu vong. Những biến chuyển này đặt Việt Nam vào tình thế phải lựa chọn lộ trình cho mình. Bất chấp bản chất gan dạ của quân đội Việt Nam khi đối đầu với bất kỳ mối đe doạ bên ngoài nào, ở đây vẫn có những giới hạn. Người dân nói chung cần phải được tham gia vào đời sống chính trị, tức là quan điểm và ý kiến của những người bất đồng chính kiến và phía đối lập phải được tôn trọng nhằm đạt được một sự đồng thuận quốc gia về kiểu chiến lược mà Việt Nam áp dụng cho chính sách ngoại giao của mình.

Liệu Myanmar có thể là một tấm gương cho đổi thay ở Việt Namhay không? Trong khi những biến chuyển ở Myanmarlà do sự thúc đẩy bên trong, những gì Việt Nam cần lại là áp lực bên ngoài và điều đó có thể làm nên sự khác biệt. Những người có đầu óc cải cách trong chính phủ, vốn là một nhóm thiểu số, cần được tham gia vào quá trình ra quyết định.

Chủ tịch Sang đã đạt được gì từ chuyến thăm Mỹ? Thành quả rõ rệt lớn nhất là việc nâng cấp quan hệ song phương lên “mối quan hệ đối tác chiến lược”. Quả thực, một trong những mục tiêu ngoại giao của Việt Nam là thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Trong một bài phát biểu ngày 24.7 vừa qua, Chủ tịch Sang đã bày tỏ là Việt Nam mong muốn được nhìn thấy dấu ấn mạnh mẽ hơn của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ông nhận xét: “Trong bối cảnh khu vực và thế giới đang biến chuyển, các cường quốc, trong đó có Hoa Kỳ, có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc xử lý những điểm nóng ở khu vực như Biển Đông.” Mặc dù nhiều thành viên Quốc hội hối thúc Nhà Trắng nắm bắt lấy cơ hội này và thúc đẩy một sự thay đổi ở Việt Nam để đem lại lợi ích cho nhân dân Việt Nam, người ta vẫn còn chưa rõ là Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ cân bằng như thế nào giữa nhân quyền, thương mại cùng những cân nhắc địa chính trị mà nhiều nước trong khu vực, đáng kể là Trung Quốc, sẽ dõi theo.

Ý nghĩa của tuyên bố chung


Trong bản tuyên bố chung ngày 25.7, hai nhà lãnh đạo đã khẳng định cam kết của họ là mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung. Chuyến thăm của Chủ tịch Sang diễn ra vào một thời điểm quan trọng với cả hai nước, phản ảnh một mong muốn chung là xây dựng một mối quan hệ hướng tới tương lai giữa hai quốc gia. Hai nhà lãnh đạo quyết định thiết lập mối Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt để tạo một khuôn khổ chung nhằm thúc đẩy mối quan hệ. Họ nhấn mạnh các nguyên tắc của mối quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt, trong đó có sự tôn trọng Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, và hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền cùng sự toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Họ phát biểu rằng mối quan hệ đối tác toàn diện này nhằm mục đích đóng góp vào hoà bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ đối tác toàn diện mới này sẽ tạo ra các cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực như quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ kinh tế và thương mại, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, sức khoẻ và môi trường, các vấn đề di sản chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, và văn hoá, thể thao và du lịch.

Hợp tác chính trị và ngoại giao


Như một phần của mối quan hệ đối tác toàn diện, hai bên đã nhất trí tăng cường hoạt động trao đổi cấp cao cũng như các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp, và đẩy mạnh các cơ chế đối thoại và hợp tác. Chủ tịch Sang hoan nghênh việc Hoa Kỳ tăng cường hợp tác ở Châu Á – Thái Bình Dương, đóng góp vào hoà bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cuộc đối thoại thường xuyên giữa hai bộ trưởng ngoại giao, và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các thực thể gắn với các đảng phái chính trị ở hai nước.

Cả hai đồng ý tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, bao gồm Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+), để thúc đẩy hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định sự ủng hộ của họ đối với việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế, kể cả những quy định trong Công ước LHQ về Luật Biển. Họ cũng tái khẳng định sự ủng hộ của họ đối với nguyên tắc không sử dụng bạo lực hay đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp lãnh thổ và hàng hải. Họ nhấn mạnh giá trị của việc tuân thủ đầy đủ Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và tầm quan trọng của việc khởi động các cuộc đàm phán nhằm đi đến ký kết một bộ Quy tắc Ứng xử (COC) hữu hiệu.

Quan hệ kinh tế và thương mại


Trong lĩnh vực kinh tế và thương mại, hai nhà lãnh đạo nhắc lại các cuộc thảo luận ở Campuchia vào tháng 11/2012, và tái khẳng định cam kết ký kết một hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) toàn diện với chuẩn mực cao càng sớm càng tốt trong năm 2013. Người ta mường tượng ra rằng một hiệp định TPP của thế kỷ 21 sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, tăng tiến các mục tiêu phát triển và tạo ra việc làm ở Hoa Kỳ, Việt Nam, và tất cả các nước thành viên TPP, trong khi vẫn tính đến sự đa dạng về trình độ phát triển của các thành viên trong bối cảnh một gói điều khoản bao hàm và cân bằng.

Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh những nỗ lực liên tục nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương. Họ nhận mạnh giá trị quyết định của những nỗ lực như thế đối với việc thúc đẩy quan hệ song phương, và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế như một nền tảng và động lực cho quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt mới. Hai vị nguyên thủ đồng ý tăng cường hợp tác theo Hội đồng Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư Mỹ-Việt (TIFA) cũng như theo sáng kiến Tăng cường Hợp tác Kinh tế ASEAN (ASEAN Enhanced Economic Engagement) và trong APEC nhằm tăng cường hợp tác kinh tế và thương mại, phù hợp với quan hệ đối tác toàn diện song phương và những mục tiêu chung trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), APEC, và các diễn đàn ASEAN. Tổng thống Obama hoan nghênh tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế và ghi nhận mối quan tâm của Việt Nam trong việc đạt được quy chế quốc gia kinh tế thị trường. Ông cam kết tăng cường sự can dự mang tính xây dựng của Hoa Kỳ với Việt Namtrong những cải cách kinh tế ở đây. Hai nhà lãnh đạo thừa nhận ý định của Việt Nam muốn tham gia Công ước Cape Town về Lợi ích Quốc tế Đối với Thiết bị Di động (CTC).

Trong khi thừa nhận tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nền kinh tế, hai nhà lãnh đạo đã đề cập đặc biệt đến biên bản ghi nhớ được ký giữa Petro Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng ở Việt Nam; thoả thuận khung về dự án phát triển mỏ Cá Voi Xanh ngoài khơi Việt Nam giữa Tập đoàn Exxon Mobil và Petro Việt Nam; thoả thuận hợp tác giữa Tập đoàn Murphy Oil và Tổng Cty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP); biên bản ghi nhớ giữa Cty Metropolitan Life Insurance (MetLife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); và sự đồng ý về mặt nguyên tắc của Bộ Tài chính Việt Nam về việc thành lập một công ty quản lý quỹ của ACE Insurance.

Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký kết hiệp định thương mại song phương lịch sử năm 2001. Kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng 50 lần kể từ năm 1995. Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Namđã tăng gần 500%. Cùng với Việt Nam và các nước khác trong khu vực, Hoa Kỳ đang nỗ lực để ký kết một hiệp định TPP lịch sử, một hiệp định thương mại chuẩn mực cao của thế kỷ 21 để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, thịnh vượng và cơ hội cho người dân của tất cả các nước thành viên.

Quốc phòng và an ninh


Hợp tác về các vấn đề quốc phòng và an ninh là một khía cạnh mới trong quan hệ Việt-Mỹ. Một biên bản ghi nhớ về việc thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương đã được ký kết năm 2011 và hai nhà lãnh đạo đã tái khẳng định cam kết thực thi đầy đủ biên bản đó ghi nhớ đó. Hai bên nhất trí rằng Đối thoại Chính sách Quốc phòng Mỹ-Việt vẫn tiếp tục diễn ra và các cơ hội để đánh giá quan hệ quốc phòng và an ninh để hợp tác trong tương lai vẫn được để ngỏ. Những lĩnh vực hợp tác khác đã được xác định là tăng cường năng lực, chẳng hạn như trong hoạt động tìm kiếm, cứu trợ và phản ứng trước thảm hoạ. Hai nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn nữa để chống khủng bố; tăng cường hợp tác thực thi luật biển; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm cướp biển, buôn lậu ma tuý, động vật hoang dã và buôn người; và đối phó với tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng. Việt Namđã quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của LHQ và TT Obama hoan nghênh sáng kiến đó. Về phần mình, TT Obama nhấn mạnh mong muốn của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ công tác đào tạo và trợ giúp khác cho nỗ lực này thông qua Sáng kiến Hoạt động Hoà bình Toàn cầu (GPOI).

Hội nhập với thế giới


Việt Nam đã tự chuyển hoá nên đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Việt Namđã loan báo ý định tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của LHQ vào năm 2014. Việt Namcũng đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào các vấn đề an ninh hàng hải và hỗ trợ nhân đạo cũng như năng lực cứu trợ nhân đạo. Về phần mình, Hoa Kỳ đang tập trung vào các chương trình hỗ trợ của họ về thích nghi (adaptation), năng lượng sạch, phát triển bền vững nhằm ứng phó với tình trạng dễ bị tổn thương của Việt Nam trước hiện tượng biến đổi khí hậu. Chủ đề Sáng kiến Hạ vùng Sông Mekong đã được thảo luận tại Hội nghị APEC gần đây ở Brunei.

Quá trình bình thường hoá bắt đầu với Tổng thống Mỹ George Herbert Walker Bush, người – cùng với Brent Scowcroft – đã đưa ra những quyết định dũng cảm để thúc đẩy quá trình và dỡ bỏ một lệnh cấm vận, và kết thúc với Tổng thống Clinton, người không chỉ đi đến bình thường hoá mà còn thực hiện chuyến thăm đầu tiên của một tổng thống Mỹ tới Việt Nam năm 2000. Bốn mươi năm trước, hàng trăm ngàn người Mỹ chiến đấu trên những cánh đồng và dòng sông ở Việt Nam. Ngày nay, hàng trăm ngàn người Mỹ đang tìm đến thị trường và các di tích lịch sử của Việt Nam. Mối quan hệ song phương đã trải qua một chặng đường dài.

Sau 25 năm cải cách, từ một nước chậm phát triển, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình. Việt Namđạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài và về đích trước thời hạn với một số Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Chính sách của Việt Nam được sắp đặt để duy trì đà tăng trưởng, tiếp tục nâng cao đời sống nhân dân, tái cấu trúc nền kinh tế, và đẩy mạnh cải cách hành chính và chống tham nhũng. Về đối ngoại, Việt Namđang theo đuổi chính sách hội nhập quốc tế tích cực và chủ động, tiếp sau vị trí thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ hai năm 2008-2009 và vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010.

Việt Nam đang ngày càng can dự sâu hơn với một số tổ chức đa phương, bên cạnh việc chuẩn bị tham gia vào lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ. Việt Nam thực sự muốn trở thành một thành viên có trách nhiệm và đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, với những đóng góp tích cực vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế nhằm duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác ở Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh khu vực và thế giới không ngừng thay đổi, các cường quốc, trong đó có Hoa Kỳ, có một vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc giải quyết những điểm nóng ở khu vực như Biển Đông và các vấn đề quốc tế như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, v.v. Điều này đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trên tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh việc Hoa Kỳ tăng cường hợp tác với Châu Á – Thái Bình Dương và chính sách “xoay trục” sang Châu Á của họ.

PHẦN II


Một diễn biến quan trọng khác trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là họ đang phát triển mối quan hệ gần gũi với Ấn Độ, mối quan hệ mà cả hai nước đều nhận thấy những lợi ích bổ sung cho nhau và tương đồng. Về phía Ấn Độ, quan hệ với Việt Namchiếm vị trí đặc biệt trong chính sách ngoại giao của của họ, và đã phát triển thành mối quan hệ đối tác chiến lược. Giống như Aung San Suu Kyi của Myanmar (bố bà từng công tác ở Ấn Độ và bà được giáo dục ở đây), Bộ trưởng Ngoại giao hiện nay của Việt Nam, Phạm Bình Minh, cũng sinh ra ở Ấn Độ, nơi bố ông từng là một nhà ngoại giao. Đáng ngạc nhiên là so với truyền thông Trung Quốc, truyền thông Ấn Độ lại đưa tin ít hơn về chuyến thăm của Phạm Bình Minh tới Ấn Độ tháng Bảy năm 2013.

Liệu đấy có phải là chính sách hữu ý của Ấn Độ khi họ hạ thấp tầm quan trọng của chuyến thăm vì xét tới phản ứng của Trung Quốc trước thương vụ khai thác dầu mỏ Ấn-Việt trên Biển Đông? Dẫu cho đó có thể không phải là sự thật thì Trung Quốc cũng không lấy gì làm thoải mái với cam kết của Việt Namvì một quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ hay việc Việt Nam vạch ra một lộ trình tương lai nhằm tăng cường mối quan hệ này.

Bộ trưởng Quốc phòng A K Antony và Ngoại trưởng Ấn Độ đã tái khẳng định cam kết của Ấn Độ là ủng hộ lập trường của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Vì thế mà thật tự nhiên khi bài phát biểu của Phạm Bình Minh tại Hội đồng Thế giới vụ của Ấn Độ lại được đặt một cái tên xác đáng là “Tăng cường quan hệ Việt-Ấn vì hoà bình và ổn định ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Vị ngoại trưởng phát biểu nhiều về hai chủ đề chính: những biến chuyển trên thế giới và trong khu vực tác động đến môi trường an ninh Châu Á, và vai trò của Ấn Độ ở ASEAN trong sự biến chuyển của cấu trúc khu vực. Ông phác hoạ sự chuyển dịch quyền lực toàn cầu sang Châu Á và sự chú ý thường trực của các cường quốc chính tới khu vực Châu Á. Ông chỉ ra bốn diễn biến chính tác động đến việc định hình môi trường an ninh Châu Á. Đó là (a) sự trỗi dậy ngoạn mục của Trung Quốc, (b) sự tái cân bằng lực lượng chiến lược của Hoa Kỳ ở Châu Á – Thái Bình Dương, (c) chính sách Hướng Đông của Ấn Độ, và (d) vai trò lớn hơn của Nhật Bản. Chính trong bối cảnh này, cộng đồng quốc tế có trách nhiệm to lớn trong việc tuân thủ và tôn trọng luật pháp và công ước quốc tế cũng như đặt niềm tin vào quá trình đối thoại đa phương nhằm giải quyết bất kỳ xung đột nào.

Vị ngoại trưởng tập trung vào sự trỗi dậy của Châu Á và những thay đổi sâu sắc đang diễn ra ở Châu Á và thế giới, cũng như cách thức mà cả Ấn Độ lẫn Việt Nam được định vị để ứng phó trước những đổi thay này. Quả thực, “cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đưa đến những thay đổi về cấu trúc trong nền kinh tế toàn cầu, trong các mô hình và chiến lược tăng trưởng, trong các xu hướng của thị trường sản phẩm chế tạo, thị trường hàng tiêu dùng và thị trường tài chính, và trong tính kết nối ngày càng tăng của các nền kinh tế và khu vực”. Bản chất của chính trị cường quyền đã thay đổi một cách cơ bản khi các nền kinh tế mới nổi đảm trách vai trò mới của chúng. Kết quả là mối quan hệ giữa các cường quốc chính không còn là địa hạt riêng của các quốc gia công nghiệp hàng đầu trong bối cảnh xuất hiện những đấu thủ mới tìm kiếm một vai trò lớn hơn và quyết đoán hơn.

Châu Á đã trở thành trung tâm của sức hút, động cơ của tăng trưởng và phục hồi kinh tế của thế giới. Bất chấp sự đi xuống của nền kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế Châu Á vẫn đạt được mức tăng trưởng cao. Chẳng hạn, năm 2012 Châu Á tăng trưởng 7,6%. Một đặc điểm đáng chú ý của tăng trưởng ở Châu Á là sự nổi lên đồng thời của chủ nghĩa khu vực (regionalism). Thế giới hiện có tổng cộng 76 hiệp định thương mại tự do (FTA) và Châu Á – Thái Bình Dương dẫn đầu thế giới về động lực thúc đẩy hội nhập kinh tế giữa lúc vòng đàm phán Doha không đạt được tiến bộ. Trong những năm tới, số lượng FTA và các hình thức liên kết kinh tế khác sẽ tiếp tục gia tăng. Chẳng hạn, cùng với quá trình hình thành Cộng đồng ASEAN, ở đây đang dần dần xuất hiện Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Khu vực Thương mại Tự do Đông Bắc Á, Diễn đàn Tăng cường Hợp tác Kinh tế giữa ASEAN và Hoa Kỳ, và Diễn đàn Hợp tác Tiểu vùng Sông Mekong. Phạm vi hoạt động trong ASEM và APEC nay đã bao hàm cả những chủ đề phi truyền thống.

Ấn Độ đã áp dụng một lập trường có nguyên tắc về an ninh và tự do hàng hải dọc theo các tuyến hàng hải chính và về sự cần thiết phải xuống thang căng thẳng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông thông qua cơ chế đối thoại, đây là một sự phản đối trước cách tiếp cận xử lý song phương của Trung Quốc. Về cấu trúc khu vực và vai trò của ASEAN và Ấn Độ, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã nêu rõ những trông đợi của Việt Nam và ASEAN từ Ấn Độ trong việc áp đặt ảnh hưởng và sử dụng những ảnh hưởng về chính trị, kinh tế và chiến lược của họ nhằm đảm bảo hoà bình và ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trên phương diện kinh tế, Ấn Độ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần vào trăng trưởng khu vực “thông qua mạng lưới ngày một dày đặc của những FTA và PTA (khu vực thương mại ưu đãi) với ASEAN và các nước khác cũng như dòng đầu tư hai chiều ngày càng tăng với phần còn lại của Châu Á”. Để theo đuổi chính sách Hướng Đông, Hiệp định Đối tác Chiến lược Ấn Độ-ASEAN vì Hoà bình và Thịnh vượng chung đã được thiết lập năm 2012. Sự kiện này đã đưa quan hệ hợp tác của Ấn Độ với Việt Namvà ASEAN nói chung lên tầm cao mới. Quả thực, sự hiện diện của Ấn Độ ở Đông Nam Á đã trở nên rõ rệt trong nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, thương mại, hợp tác quốc phòng và năng lượng. Những số liệu thống kê ấn tượng chứng thực cho điều này: Kim ngạch thương mại song phương giữa Ấn Độ và ASEAN đạt 80 tỷ USD năm 2012. Hiệp định Thương mại Tự do về Hàng hoá giữa Ấn Độ và ASEAN đã tạo ra một mối liên kết giữa hai thị trường khổng lồ với 1,8 tỷ người tiêu dùng và giá trị GDP gộp 3 tỷ USD.

Vị Ngoại trưởng nhận xét: “Về mặt chiến lược, Ấn Độ chiếm giữ một vị trí địa chính trị bao trùm không gian lục địa và đại dương giữa Đông và Tây. Là nước sáng lập và là thành viên lãnh đạo của Phong trào Không liên kết, Ấn Độ có uy tín cao và đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng các quốc gia đang phát triển. Ấn Độ và mối quan hệ của họ với các cường quốc khác đã từ lâu hình thành nên một bộ  phận của cấu trúc an ninh khu vực. Quan trọng hơn, Ấn Độ đang chứng tỏ là họ nằm trong số những quốc gia dẫn đầu với tầm quan trọng và ảnh hưởng toàn cầu.”

Bất chấp tiến bộ ấn tượng đó, ở đây vẫn còn tiềm năng rất lớn và có thể được tận dụng, khai thác hơn nữa. Những sáng kiến liên khu vực như sáng kiến kết nối Sông Mekong – Sông Hằng và kết nối giữa ASEAN và Hiệp hội Nam Á vì Hợp tác Khu vực (SAARC) là những lĩnh vực mà ở đó Ấn Độ có thể hỗ trợ một cách nhiều ý nghĩa, chẳng hạn như hợp tác trong Sáng kiến Hạ lưu Sông Mekong mà Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hàn Quốc là thành viên, và những sáng kiến nhằm kết nối về hạ tầng, đất đai và vận tải hàng hải. Thừa nhận sự can dự của Ấn Độ với ASEAN về mặt chính trị và kinh tế, với tư cách một thành viên ASEAN trách nhiệm và chủ động, Việt Namsẵn sàng đi đầu trong công cuộc hợp tác giữa ASEAN và Ấn Độ.

Ở cấp độ song phương, cả Ấn Độ và Việt Nam đều quý trọng lịch sử tương tác lâu đời giữa họ. Nền văn minh Ấn Độ đã để lại những dấu ấn hữu hình và vô hình trong văn hoá Việt Nam. Kể từ khi nước Việt Nam hiện đại ra đời năm 1945, Việt Namđã coi Ấn Độ như một người bạn thuỷ chung và ngược lại. Được vun đắp qua bao năm tháng, sự tin cậy lẫn nhau là di sản quan trọng nhất đã củng cố mối quan hệ giữa hai nước. Mối quan hệ này chỉ trở nên bền chặt khi Việt Nam đã trải qua một giai đoạn nhiều biến động, một tầm nhìn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru từng thúc đẩy và hướng tới.

Quan hệ Đối tác Chiến lược giữa hai nước, được thiết lập năm 2007, đã nêu rõ 5 trụ cột hợp tác. Đó là hợp tác chính trị, quốc phòng và an ninh; hợp tác kinh tế và thương mại; quan hệ chặt chẽ hơn về thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ; hợp tác về văn hoá và kỹ thuật; và hợp tác ở các diễn đàn đa phương và khu vực. Trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ năm 2011 của Chủ tịch Sang, Ấn Độ và Việt Nam đã nhất trí về những bước đi và mục tiêu cụ thể hơn mà cả hai bên cần bắt tay vào. Một trong số đó là mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai chiều hàng năm lên 7 tỷ USD trước cuối năm 2015.

Các cuộc viếng thăm song phương của các nhà lãnh đạo hàng đầu đã mở đường cho việc củng cố và thúc đẩy quan hệ song phương. Kapil Sibal, Bộ trưởng Công nghệ Truyền thông và Thông tin Ấn Độ, thăm Việt Nam tháng 6/2013 và đã đạt được một số thoả thuận với người đồng cấp Việt Nam. Trong những năm tới đây, Việt Nam sẽ lựa chọn công nghệ thông tin (IT) như một nền tảng cho mô hình phát triển mới. Việt Nam trông sang Ấn Độ như một cường quốc công nghiệp IT hàng đầu trên thế giới để tìm kiếm sự giúp đỡ và ủng hộ. Việt Namvà Ấn Độ cần thành lập các liên doanh về IT, tận dụng triệt để lợi thế của Ấn Độ về phần mềm và của Việt Namvề các sản phẩm phần cứng.

Việt Nam có nhiều thứ để chào mời trong lĩnh vực thương mại và đầu tư. Việt Nam ủng hộ các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc khai thác thêm những cơ hội về khai thác dầu khí, điện lực, khoa học – công nghệ, và nông nghiệp. Một dẫn chứng sinh động là Tata Power đã giành được một hợp đồng 1,8 tỷ USD để xây dựng nhà máy nhiệt điện Long Phú II ở Sóc Trăng, qua đó đưa Ấn Độ từ vị trí 40 lên vị trí 12 trong danh sách các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Việt Nam. Tiềm năng là rất lớn và cả hai đều cần hợp tác với nhau để khai thác những cơ hội đó.

Kết luận


Người ta đã nhận ra rằng Việt Namtuy chậm chạp nhưng đang từng bước tăng cường can dự với thế giới bên ngoài. Nhân tố đơn lẻ quan trọng nhất, bên cạnh sự thúc bách kinh tế, đang dẫn dắt chính sách đối ngoại của Việt Namlà những cân nhắc chiến lược. Trước kinh nghiệm quá khứ cay đắng với Trung Quốc và sự quả quyết cũng như chính sách miệng hố chiến tranh gần đây của Trung Quốc khiến các nước ASEAN vốn nhỏ hơn cảm thấy bất an về ý định của người khổng lồ này, Việt Nam, giống như các nước ASEAN khác, đang củng cố quan hệ với các nước bạn bè cũ và tìm kiếm bạn bè mới. Chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Sang và chuyến thăm Ấn Độ của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cần được nhìn nhận từ góc độ đó. Trung Quốc vẫn “nổi tiếng” vì luôn phủ nhận lập trường hiếu chiến của mình và phần còn lại của Châu Á hẳn là quá ngây thơ nếu chấp nhận điều đó. Tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản về quần đảo Senkaku, tranh chấp biên giới với Ấn Độ, những yêu sách quá lố ở Biển Đông và việc vi phạm những quy tắc ứng xử quốc tế điều chỉnh luật biển cũng như nhiều thứ khác là những tín hiệu gây lo ngại và tất cả đang thúc đẩy phần còn lại của Châu Á tìm kiếm một nền tảng chung nhằm ứng phó với thách thức mang tên Trung Quốc. Nỗ lực của họ nhằm hội nhập Trung Quốc về mặt kinh tế đã thất bại. Kết quả là phần còn lại của Châu Á, trong đó có ASEAN, đang chờ đợi Ấn Độ đóng vai trò “quốc gia kiến tạo cân bằng trong khu vực” và là một đối trọng với Trung Quốc ở Châu Á – Thái Bình Dương.

Câu hỏi vẫn còn để ngỏ ở đây là: Ấn Độ đã sẵn sàng cho việc tiếp nhận vai trò “quốc gia kiến tạo cân bằng trong khu vực” chưa, hay lại ưa lẩn tránh với “chính sách đẩy lùi rủi ro” chiến lược khi ứng phó với Trung Quốc? Với sự ủng hộ của Hoa Kỳ và để đáp lại kỳ vọng lớn lao từ phần còn lại của thế giới (ngoại trừ Trung Quốc), điều đáng mong muốn ở đây là Ấn Độ tiếp nhận vai trò lãnh đạo trong các sự vụ ở Châu Á. Trong khi người ta không gợi ý rằng Ấn Độ phải lãnh đạo hay gia nhập một mặt trận chống lại Trung Quốc, với tư cách một quốc gia lớn mạnh ở Châu Á, Ấn Độ không thể lẩn tránh trách nhiệm của mình để nhận ra rằng hoà bình và trật tự ở Châu Á được duy trì bởi chính sách chủ động của họ.


Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Kiểm duyệt Internet ở Việt Nam: Bước lùi với một chính phủ đang tìm cách hội nhập

Arthur I. Cyr | 11.8.2013 |
Người dịch: Lê Thiên Hà


“Các quyền tự do cơ bản trên không gian mạng cũng được vận dụng tương tự như bên ngoài không gian ấy”, Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam tuyên tố như vậy ngày 6.8 vừa qua để phản ứng trước một tuyên bố từ Hà Nội rằng thông tin liên lạc trên Internet phải tập trung vào hoạt động chia sẻ thông tin cá nhân, chứ không phải bày tỏ quan điểm về chính trị hay chính sách. Chính sách mới sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng Chín.
Sự bủa vây rõ ràng nhằm vào truyền thông xã hội như thế trên thực tế là một nỗ lực nhằm kiểm soát dư luận và các hoạt động xã hội theo kiểu cũ, thông qua việc áp dụng hà khắc sức mạnh đe nẹt của quyền lực nhà nước. Văn bản pháp luật mới, gọi là Nghị định 72/2013/NĐ-CP, nghiêm cấm việc chỉ trích chính quyền hay những phát ngôn đe doạ “an ninh quốc gia”. Năm nay, chính phủ Việt Namđã kết án ít nhất 46 người vì hoạt động chống phá nhà nước. Trong nhóm này còn có sự góp mặt của cả những blogger chỉ bày tỏ ý kiến một cách thuần tuý.
Trong cuộc tấn công nhằm hạn chế việc sử dụng Internet, giới lãnh đạo của thể chế độc tài cộng sản với nền kinh tế lao đao này đang nỗ lực để trở nên mạnh hơn bằng cách khiến cho dân chúng suy yếu về mặt chính trị. Tuy nhiên, một bài học cơ bản của lịch sử, đặc biệt là trong thế kỷ 20, là ở chỗ ngay cả các chế độ độc tài toàn trị cũng sẽ không tồn tại mãi. Nền Đệ tam Đế chế “ngàn năm” của Adolf Hitler chỉ kéo dài trong 12 năm.
“Vạn lý Tường lửa” của Trung Quốc nhằm kiểm duyệt Internet hoạt động hiệu quả, song ở đây lại có một trào lưu đang ngày càng trở nên phổ biến là hack và vượt thoát khỏi các công cụ kiểm soát này. Qua đó cho thấy, nhà chức trách Trung Quốc đã hết sức thận trọng trong việc đàn áp thành tựu dân tuý mà nhìn chung là hướng vào tuổi trẻ và đang ngày càng lan rộng này.
Tuyên bố công khai từ Đại sứ quán Hoa Kỳ đã mô tả là các quan chức Mỹ “quan ngại sâu sắc” về chính sách đàn áp thông tin mới. Đây là thứ ngôn ngữ của các nhà ngoại giao nhằm chỉ ra rằng chúng tôi phản đối những gì đang diễn ra nhưng chúng tôi không dự định thực hiện hành động thù nghịch để đáp lại.
Và đó là lộ trình đúng đắn với Washington. Thay vì tìm kiếm thứ quyền lực tiêu cực, đặc biệt là trong bối cảnh lịch sử hết sức đau thương giữa hai nước, chúng tôi cần sử dụng ảnh hưởng tích cực để mở cửa nền kinh tế và xã hội đang có vấn đề của Việt Nam.
Hoa Kỳ có một lịch sử dày dặn về những hành động sáng suốt và hiệu quả mà chính quyền Obama có thể dựa vào, bắt đầu với chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush. Mùa Hè năm 1990, 15 năm sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Baker tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ mở cuộc đối thoại với Việt Nam.
Năm năm sau, chính quyền Clinton chính thức thừa nhận Việt Nam. Pete Peterson, một cựu tù binh chiến tranh Việt Nam, đã tỏ ra đầy kỹ năng trên cương vị đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tháng 11/2006, hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức ở Việt Nam. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Rumsfeld, đến trước Tổng thống George W. Bush, được đón tiếp long trọng với màn duyệt đội danh dự, một nghi lễ bao gồm cả việc tấu quốc ca Mỹ.
Nhiều năm sau chiến thắng quân sự của Hà Nội năm 1975, Việt Nam đã không thể vượt qua cột mốc từ cách mạng chính trị sang phát triển kinh tế. Cuộc hội nghị thượng đỉnh đã đem lại cho Việt Nam một vai trò trung tâm, và một cơ hội lớn lao để nêu bật cam kết vì tiến bộ kinh tế.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn hết sức cần đến vốn đầu tư. Hoa Kỳ có thể tạo thuận lợi cho sự hỗ trợ như thế từ các nguồn vốn nhà nước cũng như tư nhân – nếu Hà Nội chấm dứt chiến dịch truy bức rất hà khắc hiện hành nhằm vào những người bất đồng chính kiến.
Trong những năm tháng căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh lạnh, những hoạt động trao đổi nghệ thuật và khoa học với Liên bang Soviet được thiết lập và từng bước mở rộng, phản ảnh những ưu tiên của Tổng thống Dwight Eisenhower. Liên quan đến Việt Nam, những hoạt động trao đổi qua lại giữa các cựu binh trong chiến tranh Việt Namcủa cả hai bên đã và đang diễn ra, và có thể dễ dàng mở rộng.
Trùng hợp với sáng kiến chính sách năm 1990 của Ngoại trưởng Baker, Trường Âm nhạc Dân gian Phố cổ (Old Town School of Folk Music) ở Chicago đã tổ chức một chương trình đặc biệt về các bài hát chiến tranh Việt Namdo các cựu binh viết và trình bày. Một bài hát hoà giải gây xúc động được cải biên từ một bài hát Giáng sinh kinh điển và được đặt tên là “Hồ Chí Minh đang về thành”.
Arthur I. Cyr là Giáo sư Xuất chúng tại trường Carthage Collegevà là tác giả của cuốn “After the Cold War” (Hậu chiến tranh lạnh – NXB Đại học New York và Macmillan). Email của ông là acyr@carthage.edu.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Hợp tác an ninh Mỹ-Việt: Tuần tự tiến | Phân tích

Sadhavi Chauhan | Observer Research Foundation| 9.8.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng



Chuyến công du Washington của Chủ tịch Trương Tấn Sang ngày 24.7 vừa qua là chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo Việt Nam tới Hoa Kỳ, và là chuyến thăm thứ hai của một nguyên thủ Việt Nam tới Nhà Trắng kể từ khi hai nước cựu thù khôi phục quan hệ ngoại giao năm 1995. Trong 17 năm qua, công cuộc hợp tác giữa hai nước từng bước phát triển và chuyến thăm tháng qua đã chứng kiến việc ký kết hiệp định đối tác toàn diện giữa hai quốc gia.
Đáng chú ý là mặc dù hiệp định kêu gọi tăng cường quan hệ song phương về quốc phòng và an ninh, song các chủ đề bàn thảo lại chỉ đơn thuần là lặp lại những nỗ lực song phương đang diễn ra, thể hiện thái độ thận trọng của cả hai bên. Bài viết này sẽ xem xét phạm vi hợp tác an ninh hiện tại và tương lại giữa Hoa Kỳ và Việt Namtrong bối cảnh động lực an ninh không ngừng biến chuyển trong khu vực. Trong khi nhấn mạnh lợi ích an ninh chung của cả hai nước ở khu vực, bài viết cũng sẽ nêu bật những nhân tố đang cản trở mối quan hệ an ninh sâu sắc hơn giữa giữa hai bên.
Nhng diễn biến gần đây
Phát biểu trước báo giới sau cuộc gặp với Chủ tịch Sang ngày 25.7, Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố là sự “tiến bộ từng bước một” trong mối quan hệ “đã cho phép chúng ta giờ đây loan báo về mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Điều này sẽ cho phép sự hợp tác còn lớn hơn nữa trên một loạt chủ đề từ hợp tác thương mại cho đến quân sự”. Ông đang ám chỉ đến bản chất tuần tự tiến của quá trình bình thường hoá quan hệ an ninh Mỹ-Việt sau khi hai nước khôi phục quan hệ ngoại giao.
Quyết tâm chung của cả hai nước trong việc tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh song phương đã được minh hoạ qua bản tuyên bố chung, được công bố sau cuộc gặp tại Phòng Bầu dục.[1] Đặc biệt, một Biển Đông bất ổn được thừa nhận là mối quan ngại lớn đối với cả hai nước và hai bên đã nhấn mạnh một giải pháp “hoà bình” cho những tranh chấp trong khu vực. Mặc dù không có sự đề cập trực tiếp nào đến Trung Quốc, song những lời kêu gọi về “…việc giải quyết các tranh chấp [trên Biển Đông] thông qua các biện pháp ôn hoà phù hợp với luật quốc tế, kể cả những quy định trong Công ước LQH về Luật Biển (UNCLOS)” đã thể hiện mối quan ngại trước một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong khu vực.
Hồi đầu tháng Sáu, lời kêu gọi tương tự về việc tìm kiếm một giải pháp pháp lý mà quốc tế thừa nhận cho những tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng được đưa ra bởi Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Martin Dempsey, khi ông chào đón Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tới Washington. Với sự tháp tùng của Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân và Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo Quân đội, cũng như các sỹ quan cao cấp khác, đây là chuyến thăm đầu tiên của một vị Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam tới Lầu Năm Góc. Một điểm hết sức quan trọng của chuyến đi này là chuyến thăm chóng vánh của Phái đoàn Quân sự Cao cấp Việt Nam đến tổng hành dinh Quân đoàn Lục quân số 1 của Mỹ, đơn vị được giao nhiệm vụ hoạt động ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, như một phần của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Đáng chú ý, chính chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tới Vịnh Cam Ranh và Hà Nội cuối tháng Sáu năm ngoái đã mở đường cho các chuyến thăm lịch sử nói trên. Chuyến thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tới căn cứ quân sự cũ của Hoa Kỳ kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, điều đó đã nêu bật tầm quan trọng của hợp tác quân sự Mỹ-Việt trong khu vực. Trong chuyến thăm, Panetta đã được dẫn lời khi phát biểu, “…sẽ đặc biệt quan trọng nếu chúng ta có thể hợp tác với những đối tác như Việt Nam, có thể sử dụng những hải cảng như thế này khi chúng ta di chuyển các con tàu của mình từ các hải cảng ở Bờ Tây đến các hải cảng hay nơi đồn trú ở đây, trong khu vực Thái Bình Dương”.

Nhng nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác an ninh

Mặc dù Hoa Kỳ không trực tiếp dính dáng gì đến các vụ tranh chấp lãnh thổ đang diễn ra ở Châu Á – Thái Bình Dương, song họ lại là một “cường quốc thường trực ở Thái Bình Dương”, như khẳng định của Phó Tổng thống Joe Biden. Thật dễ hiểu khi sự ổn định ở khu vực là mối quan tâm an ninh hàng đầu của Mỹ. Giải thích về điều này, Kurt M Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, đã nói trong một bài phát biểu ở Thượng viện năm ngoái rằng “…cơn bùng phát tranh chấp gần đây ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và Biển Nhật Bản đang tạo ra những hiệu ứng trên khắp khu vực, đe doạ gây ra những bất ổn có thể làm xói mòn lợi ích của Mỹ”.
Với mục tiêu chính ở Châu Á – Thái Bình Dương là tránh và giải quyết những xung đột khu vực, Hoa Kỳ đã từ chối đứng về một bên trong các vụ tranh chấp lãnh thổ cụ thể. Phó Tổng thống Biden đã mô tả chính sách của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương là củng cố đồng minh, thắt chặt các mối quan hệ đối tác an ninh và đầu tư như chưa từng bao giờ vào các thiết chế khu vực nhằm xử lý các vụ tranh chấp một cách hoà bình. Trước một Trung Quốc hung hãn và ở thế đối đầu, một Trung Quốc đang đặt ra những yêu sách lớn nhất so với bất kỳ bên tranh chấp nào ở Biển Đông và vạch bản đồ của mình với yêu sách đường chữ lưỡi bò chín đoạn bao trùm phần lớn vùng biển thì việc Hoa Kỳ tìm kiếm các đồng minh khu vực hòng đối trọng với kẻ bắt nạt đang trỗi dậy này quả không cần nhiều lời giải thích.
Đặc biệt, Việt Namđã cho thấy là một đối tác then chốt trong chính sách “xoay trục” sang Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.[2]Theo Carlyle Thayer, một chuyên gia về Đông Nam Á ở Đại học New South Wales, Việt Nam liên tục tìm kiếm sự can dự nhiều hơn của Mỹ vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông thông qua các diễn đàn đa phương ở khu vực.[3]
Giải thích lý do của Việt Nam đằng sau việc quốc tế hoá vấn đề, và đặc biệt là sự hợp tác của họ với Hoa Kỳ, TS Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành của tổ chức bảo vệ các quyền dân sự Boat People SOS (tiểu bang Virginia), viết: “Một điều đang thực sự đóng vai trò xúc tác hiện nay là sự hung hãn thường trực [đề cập đến Biển Đông] từ phương Bắc, tức là, từ Trung Quốc… Việt Nam không thể chống lại sự hung hãn ấy một mình… Họ phải đưa ra một quyết định – hoặc là hợp tác với Hoa Kỳ và các nước ASEAN khác để hình thành nên một mặt trận chung nhằm đẩy lùi sự hung hãn đó, hoặc là tiếp tục đồng hành với Trung Quốc.”[4]
Quyết định của Việt Namở đây đã trở nên rõ ràng qua nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI - mô tả một sự can dự chủ động với thế giới như một trong những ưu tiên hàng đầu của Hà Nội để tăng cường năng lực quốc phòng. Mặc dù những người theo đường lối cứng rắn trong ban lãnh đạo Đảng CSVN vẫn nổi tiếng vì sự gắn bó về ý thức hệ với Trung Quốc, số vụ phản đối Trung Quốc không ngừng tăng lên ở Việt Nam lại phản ảnh tai tiếng ngày càng tệ hại của Trung Quốc. Đáng chú ý là vài tháng gần đây đã chứng kiến sự đàn áp mạnh tay mà chính quyền Việt Nam nhằm vào các cuộc biểu tình như thế. Tuy nhiên, Reuters lại đưa tin rằng điều này chủ yếu được thúc đẩy bởi thực tế là các cuộc biểu tình này đã trở thành một nguồn phản đối trong nước đối với nhà nước chứ không phải bởi bản chất chống Trung Quốc của chúng.

Nhng giới hạn của việc thắt chặt hợp tác an ninh

Bất chấp mối quan hệ an ninh tăng cường giữa Việt Namvà Hoa Kỳ, điều quan trọng là cần lưu ý rằng chuyến công du mới đây của Chủ tịch Sang tới Washingtonđã kết thúc trong một cuộc đối thoại toàn diện thay vì một cuộc đối thoại chiến lược song phương như nhiều đồn đoán trước đó. Giải thích về sự khác nhau giữa mối quan hệ đối tác chiến lược và mối quan hệ đối tác toàn diện, Carlyle Thayer nói rằng các nước vẫn ký kết hiệp định đối tác chiến lược với những nước được xem là quan trọng cho việc bảo vệ lợi ích quốc gia.[5]Những diễn biến gần đây còn thiếu chuẩn mực thiết yếu đó và định hình bản chất đang tiến triển của mối quan hệ Mỹ-Việt. Vấn đề chính yếu ở đây là những diễn biến đó cũng nêu bật những giới hạn then chốt mà qua đó xác lập phạm vi hợp tác an ninh song phương trong tương lai gần.
Đầu tiên, mặc dù là mối quan ngại an ninh chung của hai nước, Bắc Kinh vẫn là một đối tác kinh tế chủ chốt của Hà Nội và Washington. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam.[6]Vì thế, điều dễ hiểu là cả hai đều tỏ ra thận trọng khi thực hiện một bước đi có thể khiến Trung Quốc thù địch.
Thứ hai, chế độ chính trị hiện thời ở Việt Nam lại tương đồng về ý thức hệ với Bắc Kinh. Lê Chí Dũng (Bộ Ngoại giao Việt Nam, đảng viên ĐCS) được dẫn lời khi phát biểu: “Chủ nghĩa dân tộc phát triển từ Khổng giáo.” Hai nước cũng tham gia vào một cuộc hội thảo giữa hai đảng cộng sản nhằm thổi luồng sinh khí mới cho cam kết vì chủ nghĩa xã hội của họ và thúc đẩy tình hữu nghị.
Thứ ba, một bộ phận người Mỹ vẫn phản đối mạnh mẽ việc tăng cường hợp tác với Việt Nam vì thành tích nhân quyền nghèo nàn của Hà Nội. Scott Flipse, Phó Giám đốc Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ gần đây đã mô tả Việt Nam là quốc gia có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất ở Đông Nam Á.[7]
Thứ tư, Hoa Kỳ và Việt Namcùng chia sẻ một lịch sử quan hệ ngoại giao căng thẳng.[8]Lịch sử thăng trầm của họ không phải là tâm điểm trong mối quan hệ hiện nay giữa hai bên. Tuy vậy, vấn đề POW/MIA (tù binh chiến tranh / mất tích trong chiến đấu) vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của các chính phủ Mỹ với Việt Nam, trước mức độ nhạy cảm của vấn đề đối với dư luận trong nước. Tương tự, những người Việt Nambảo thủ vẫn tiếp tục ngờ vực rằng mục tiêu lâu dài của Mỹ là làm suy yếu độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN.[9]
Những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng như sự quyết đoán ngày một tăng của họ trong việc theo đuổi chúng đã dẫn đến sự tương đồng ngày càng tăng của lợi ích chiến lược Mỹ-Việt. Việt Nam có thể sẽ thắt chặt hơn nữa mối quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, song điều này có thể diễn ra với nhịp độ tuần tự. Việc nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam khác nhau đề cập đến “sự tôn trọng lẫn nhau” và “chủ quyền” đã chứng tỏ rằng mặc dù Việt Nam sẽ hợp tác với Mỹ song họ sẽ không liên minh với Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc.
Trên thực tế, chuyến thăm của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Washington đã xác lập nên khuôn khổ hợp tác trong những vấn đề an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, điều sẽ không phát tín hiệu nguy hiểm đến Bắc Kinh. Vấn đề quan trọng là cuộc gặp đã tránh những đặc điểm mang nhiều màu sắc quân phiệt của chủ đề an ninh quốc gia. Để kết thúc, mặc dù cuộc gặp gần đây giữa hai nhà lãnh đạo đã tạo ra một khuôn khổ đối thoại chính trị và ngoại giao cấp bộ trưởng,[10]song người ta vẫn còn phải chờ xem cả Washington lẫn Hà Nội sẽ xử lý những giới hạn của họ và thực hiện bước đi tiếp theo để xác lập một hiệp ước an ninh song phương toàn diện như thế nào.
(Tác giả là một thành viên chưa đầy đủ của Observer Research Foundation, Delhi.)





[1] Kêu gọi tăng cường hợp tác về những vấn đề an ninh phi truyền thống, bản tuyên bố chúng đã chứng kiến một thoả thuận giữa hai nhà lãnh đạo nhằm hợp tác trong nỗ lực chống khủng bố, an ninh hàng hải, nỗ lực bài trừ tội phạm xuyên quốc gia và nhằm xử lý tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng.
[2] Mark E. Manyin, “US-Vietnam Relations in 2013: Current Issues and Implications for U.S. Policy,” 26 July 2013, Congressional Research Service, Pp. 2, xem tại đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/R40208.pdf
[3] Năm 2010, Việt Nam đã sử dụng vai trò Chủ tịch ASEAN để tích cực thúc giục Hoa Kỳ chủ động hơn trong những vấn đề an ninh hàng hải tác động đến Biển Đông. Trích dẫn trong: Carlyle Thayer, “Vietnam and the US: Convergence but not Congruence”, 13/2/2013; xem tại đây: http://www.isn.ethz.ch/Digital-Library/Articles/Special-Feature/Detail/?lng=en&id=159647&contextid774=159647&contextid775=159646&tabid=1453526659
[4] Natalie Liu, “Vietnamese President Seeks New Relationship With US”, Voice of America, 25 July 2013; xem tại đây: http://m.voanews.com/a/1709661.html
[5] Carlyle A Thayer, “Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt: Đằng sau cái tên là gì?” The U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership: What’s in a Name?”, 26/7/2013; xem tại đây: http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/08/03/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-sau-mot-cai-ten-la-gi/
[6] Wayne M. Morrison, “China-U.S. Trade Issues”, Congressional research Service, Summary, xem tại đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL33536.pdf
[7] ParameswaranPonnudurai, “Vietnamese President Highlights ‘Differences’ Over Human Rights”, Radio Free Asia, 25 July, 2013; xem tại đây: http://www.rfa.org/english/news/vietnam/rights-07252013161937.html
[8] Mười bảy năm trước, quan hệ song phương Mỹ-Việt đã lâm vào bế tắc trước những chủ đề bắt nguồn từ cuộc chiến tranh Việt Nam còn tồn đọng: giải trình đầy đủ về vấn đề POW/MIA, người Việt tị nạn, và yêu cầu của Việt Nam là Hoa Kỳ phải giải quyết những vết thương chiến tranh và chấm dứt ủng hộ những đối tượng chống cộng lưu vong đang tìm cách lật đổ chính quyền Hà Nội.
[9] Mark E. Manyin (2013), Summary, xem ở đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/R40208.pdf
[10] Carlyle A Thayer, “Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt: Đằng sau cái tên là gì?” The U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership: What’s in a Name?”, 26/7/2013; xem tại đây: http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/08/03/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-sau-mot-cai-ten-la-gi/