Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

“TÁI CẤU TRÚC” LÀ THẾ NÀY ĐÂY

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 9/12/2011



Chuyên gia kinh tế Jonathan Pincus, người làm việc cho Chương trình Việt Nam của Harvard Kennedy School và là Hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Tp HCM, vừa có bài viết đăng trên trang mạng của tờ Financial Times (Anh) ngày 2/12/2011, đánh giá về nỗ lực tái cấu trúc kinh tế của Việt Nam, trong đó ông đưa ra nhận định: Những người khác nhau thì nhận thức về tái cấu trúc nền kinh tế theo những cách khác nhau. Cách diễn giải triệt để nhất – và là cách mà các nhà ngoại giao nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Hà Nội ủng hộ – dựa trên việc tái định nghĩa vai trò của nhà nước, chủ yếu thông qua hình thức bán các công ty nhà nước… Tái cấu trúc thực chất sẽ chỉ diễn ra khi những cân nhắc về kinh tế thế chỗ cho toan tính chính trị như là cơ sở để ngân hàng mở hầu bao của mình. Làm thế nào để đạt được sự thay đổi đó vẫn là vấn đề cơ bản của việc tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam.1
Tại cuộc hội thảo về tái cơ cấu đầu tư do Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư tổ chức hôm 27/10/2011, khi bàn về đổi mới tư duy để có thể tái cấu trúc nền kinh tế, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn cho hay, nhận thức của chính ông về kinh tế nhà nước đã khác so với hơn 1 năm trước.Đầu năm 2010, khi thảo luận về vị trí của kinh tế Nhà nước, ông còn cho rằng, nói kinh tế nhà nước là chủ đạo vẫn đúng. Thế nhưng, qua những chuyến đi khảo sát ở các nước, nhận thức của ông về vị trí của kinh tế Nhà nước đã khác. Còn nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan lại cho rằng, “Gốc gác của vấn đề là nhiều tư duy không ổn mà ta ít nhắc tới… Ở các nước, chính quyền chủ yếu lo quản lý hành chính nhà nước, không ai đi làm kinh tế cả.”

Thực tế, nền kinh tế VN đang phải trả giá cho những bất cập trong khâu phân vai giữa nhà nước và tư nhân trên phương diện kinh tế: Theo Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, khu vực này hiện đang sở hữu 70% tổng tài sản cố định của nền kinh tế, chi phối 20% vốn đầu tư của toàn xã hội, 60% tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, 50% vốn đầu tư nhà nước và 70% nguồn vốn ODA. Được bảo hộ lớn và ưu đãi nhiều, thế nhưng, khu vực này chỉ tạo ra 25% doanh thu, 37% lợi nhuận trước thuế và 20% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn nữa, khu vực này dựa vào vay nợ lớn để đầu tư. Không kể 9 tập đoàn và tổng công ty nhà nước chưa có số liệu, con số nợ của các DNNN đã lên tới 54,2% GDP, TS Phan Thanh Hà, Vụ phó Vụ tài chính và tiền tệ, Bộ Kế hoạch đầu tư dẫn lại thống kê của Ban Đổi mới và Phát triển DNNN.

Ông Vũ Khoan thẳng thắn nhận định: “Một khi tư duy không thay đổi, chúng ta sẽ chứng kiến kế hoạch mà Chính phủ đang trình, Quốc hội đang bàn sẽ không thể thay đổi được... Sẽ chẳng có tái cấu trúc đâu.” 2

Và đây là câu trả lời “đanh thép” của Thủ tướng dành cho những nhận định và “băn khoăn” kể trên, cũng như cho những ai vẫn còn tỏ ra ngây thơ khi cố ngồi chờ một cuộc “tái cấu trúc nền kinh tế” từ phía Chính phủ Việt Nam, trong cuộc Hội nghị tổng kết 10 năm sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 diễn ra ngày 8/12/2011 tại Hà Nội:
“Đánh giá hiệu quả của DNNN phải công bằng, không thể nói DNNN là “ăn hại. Những kết quả mà DNNN đã đóng góp là không thể phủ nhận. Nếu không có DNNN thì Nhà nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô”, Thủ tướng nhấn mạnh.
…Vai trò của DNNN không phải chỉ là kiếm tiền. Nhiều DNNN phải chấp nhận bán sản phẩm dưới giá thành để bảo đảm kiềm chế lạm phát, vì thế không thể coi đó là làm ăn kém hiệu quả. “Điện hiện nay bán thấp hơn giá thành, lỗ hơn 10.000 tỷ đồng. Điều này Chính phủ đã nhìn thấy nhưng đó là nhiệm vụ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam để kiềm chế lạm phát. Phải làm rõ điều này. Nếu các tập đoàn đầu tư ngoài ngành mà lỗ thì phải tách riêng để xử lý nghiêm, nhưng lỗ mà do mục tiêu bình ổn giá thì phải đánh giá công bằng để nhân dân, xã hội hiểu. Xăng dầu cũng vậy”, Thủ tướng nói.
…Mục tiêu thời gian tới được Thủ tướng nhấn mạnh: Sắp xếp DNNN phải bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động, giữ được vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế. “Phải kiên định điều này, không thể tư nhân hóa hết mọi thứ”, Thủ tướng nói.3
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việc tổng kết nhằm có cơ sở hoàn thiện đề án tái cơ cấu DNNN trong 5-10 năm tới phải bảo đảm 2 mục tiêu: Thứ nhất, DNNN là công cụ vật chất để Nhà nước can thiệp thị trường, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội…”4
Ở đây, thiết nghĩ cần phải nói rõ thêm một “ý” của Thủ tướng: Nếu không có DNNN thì Nhà nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô như cách mà Chính phủ Việt Nam vẫn “điều tiết và ổn định vĩ mô” suốt bao năm qua, với mức độ lạm phát đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai trên thế giới.5

Bất kể điều đó xuất phát từ động cơ hay từ “tư duy” đích thực của người phát ngôn, phương án “tái cấu trúc” cả con người xem ra vẫn là giải pháp vô cùng cần thiết cho đất nước trong lúc này./.


Ghi chú:
2 Theo báo Vietnamnet ngày 29/10/2011: Nhà nước có dám bỏ kinh doanh? (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-28-nha-nuoc-co-dam-bo-kinh-doanh-)
3 Báo Vietnamnet ngày 9/12/2011: Thủ tướng: Vụ Vinashin, tôi không ra quyết định nào sai (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/51894/thu-tuong--vu-vinashin--toi-khong-ra-quyet-dinh-nao-sai.html).
4 Chương trình thời sự VTV 19h ngày 8/12/2011.
5 Theo báo Thanh Niên ngày 26/10/2011: Việt Nam sẽ nằm trong top 4 nước lạm phát cao của thế giới (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111026/viet-nam-se-nam-trong-top-4-nuoc-lam-phat-cao-cua-the-gioi.aspx).   


Bài đã đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 11/12/2011: 
http://boxitvn.blogspot.com/2011/12/tai-cau-truc-la-nay-ay.html.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

TÌNH TRẠNG VÔ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: CĂN NGUYÊN VÀ THÁCH THỨC CHO BẢN HIẾN PHÁP MỚI

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, ngày 5/12/2011



Trong nhiều niềm hạnh phúc và quyền tự do khác mà
các thần dân của Bệ hạ … được hưởng … không gì mà họ coi
là quý giá và đáng trân trọng hơn điều này – được dẫn dắt và chi
phối bởi một hình thái pháp trị chắc chắn … chứ không phải
bởi bất kỳ một chính thể bất trắc và độc đoán nào.
(Trích Thỉnh Nguyện Thư của Hạ Viện Anh
gửi Vua James I, ngày 7/7/1610.)[1]


Quan sát tình hình đất nước trong nhiều năm qua, người ta hẳn sẽ dễ dàng đi đến nhận định rằng xã hội Việt Nam đang ngày càng rơi vào tình trạng vô pháp luật. Từ Kết luận của Bộ Chính trị là không xử lý kỷ luật một ai trong vụ Vinashin[2]cho đến hình ảnh các chiến sỹ cảnh sát giao thông qua loạt bài Nhức nhối nạn mãi lộ: Ghê hơn cướp cạn[3]của báo Tuổi Trẻ; từ vấn nạn chạy chức, chạy quyền, chạy dự án… cho đến tình trạng chen lấn xô đẩy, chạy ngang chạy tắt trên các đường phố ở các đô thị đông đúc; từ các vụ bắt bớ người biểu tình ôn hoà một cách tuỳ tiện ngay giữa lòng Thủ đô ngàn năm văn hiến cho đến các vụ quan tỉnh, quan huyện gây ra bao cái chết oan uổng cho những người dân vô tội;[4]từ chuyện ông Chủ tịch Hội đồng Thành viên Vinashin “dám” phớt lờ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng trong vụ mua tàu Hoa Sen[5]cho đến các vụ khiếu kiện vượt cấp diễn ra trên khắp mọi tỉnh thành, v.v., thảy đều minh chứng cho nhận định đó. Điều đáng nói là với cơ chế kiểm duyệt báo chí ngặt nghèo ở Việt Nam, những hiện tượng mà báo chí đưa tin công khai như thế mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, và tình hình xem ra đã đến hồi vô phương cứu chữa.
Pháp luật là một cơ chế cưỡng bách của xã hội, bao gồm các quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Pháp luật do những người đại diện chính trị, vốn được lựa chọn thông qua một quy trình chính trị, soạn ra và áp đặt từ trên xuống. (Chẳng hạn như ở Việt Nam, Quốc Hội soạn thảo Hiến pháp và các đạo luật; Chính phủ, các bộ ngành và các tỉnh thành ban hành các văn bản dưới luật; các đạo luật và văn bản dưới luật này được áp đặt và giám sát việc thực hiện bởi một bộ máy cưỡng bách từ trên xuống gồm lực lượng Công an cùng hệ thống Viện Kiểm sát Nhân dân và Toà án Nhân dân.) Chính vì thế, một khi hệ thống pháp luật của một quốc gia có vấn đề thì điều đó có nghĩa là vấn đề ấy bắt nguồn từ trên xuống, chứ không phải là từ dưới lên. Ông cha ta thường nói “Thượng bất chính, hạ tắc loạn” hay “Nhà dột từ nóc” là vì vậy.

Xã hội Việt Nam suốt mấy chục năm qua vẫn tồn tại một loại chủ thể điều khiển các cơ quan công quyền nhưng lại nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Căn cứ duy nhất cho “sự lãnh đạo của Đảng” chỉ là vỏn vẹn mấy dòng trong Điều 4 của Hiến pháp 1992: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Trong bối cảnh mà Đại hội Đảng các cấp cứ 5 năm mới diễn ra một lần để bầu ra các ban chấp hành (Ban Chấp hành TW Đảng hoặc ban chấp hành đảng bộ địa phương, tức là các cấp uỷ) và các cấp uỷ này mỗi năm lại chỉ nhóm họp hai lần với dăm ba ngày mỗi lần chủ yếu chỉ để “thông qua” những nghị quyết mà các ban thường vụ cấp uỷ soạn sẵn thì cụm từ “Đảng Cộng sản Việt Nam” chung chung và trừu tượng kia thực chất là Bộ Chính trị ở Trung ương và các ban thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ… ở địa phương. Bộ Chính trị và ban thường vụ cấp uỷ các cấp thường xuyên vin vào câu khẩu hiệu “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” để biện minh cho việc can thiệp độc đoán và vô pháp luật vào các cơ quan công quyền hay vào cánh tay nối dài của Đảng như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, v.v., mà Kết luận của Bộ Chính trị trên đây là một ví dụ điển hình. Nó không tuân theo bất kỳ một quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật nào nhưng “hiệu lực” của nó thì khỏi phải bàn cãi, ngay cả Quốc Hội, “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, cũng chỉ biết im lặng mà phục tùng.

Theo khoản 1, Điều 5 của Luật Công an Nhân dân hiện hành thì “Công an Nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Như vậy, lực lượng nòng cốt để bảo vệ pháp luật trên thực tế hoàn toàn nằm trong tay Bộ Chính trị và ban thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ. Lực lượng Công an rõ ràng là cũng tuân theo pháp luật nhưng “pháp luật” ở Việt Nam “khác hẳn về bản chất với các nước tư bản xấu xa” là ở chỗ đó và “sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình” của Đảng cũng nằm ở chỗ đó. Tham nhũng bắt nguồn từ quyền lực, trong khi quyền lực Nhà nước ở Việt Nam lại không phải thuộc về “nhân dân” mà bị Đảng Cộng sản Việt Nam cưỡng đoạt như đã nói ở trên cũng như qua cơ chế “Đảng cử, dân bầu” từ trước đến nay. “Dao sắc không gọt được chuôi”, Bộ Chính trị và các ban thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ kia dứt khoát là không bao giờ muốn dùng pháp luật để tự “xử” mình cả.

Người ta đánh giá rằng nếu thiếu thái độ tuân thủ tự phát thì vào bất cứ thời điểm nào chính phủ cũng chỉ có thể áp đặt nhiều lắm là từ 3 đến 7% toàn bộ quy chuẩn pháp lý thông qua hình thức cưỡng bách (Institutional Economics: Social Order and Public Policy, Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit, NXB Edward Elgar, Anh, 1999, trang 139).[6]Ở một nước có nền dân chủ “khác hẳn về bản chất và thua ta đến một vạn lần”[7]như Mỹ, hình ảnh một người dân nhẫn nại chờ đèn đỏ một mình trong đêm hôm khuya khoắt là điều bình thường, chứ ở Việt Nam ai mà làm thế thì sẽ bị coi là “có vấn đề” hay thậm chí bị chửi là “đồ ngu” ngay.[8]Rõ ràng là không một quốc gia nào trên thế giới có thể nuôi nổi một lực lượng cảnh sát giao thông đủ để rải khắp mọi nẻo đường và đóng chốt ở mọi giao lộ. Song điều mà mọi quốc gia đều có thể làm được là tạo ra thái độ tự giác tuân thủ pháp luật hay ý thức chấp hành pháp luật trong mỗi người dân. Và, tương tự như sự ra đời và sự áp đặt của pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật đó cũng phải được tạo ra trong xã hội theo hướng từ trên xuống, tức là từ thượng tầng chính trị của xã hội trở xuống.

Như vậy, nhà chức trách và các cơ quan báo chí ở Việt Nam không thể cứ một hai đổ vấy cho cái mà họ gọi là “ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông” hay “ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng” khi đứng trước những bài toán nan giải như tình trạng ách tắc giao thông, tai nạn giao thông hay thảm cảnh bao cánh rừng đang ngày đêm bị triệt hạ trên khắp đất nước. Câu hỏi đặt ra ở đây là ai dám khẳng định là cần bao nhiêu kiểm lâm viên để có thể chấm dứt tình trạng mạch nguồn của đất nước đang hàng ngày hàng giờ bị tàn phá kia? Tương tự, liệu bao nhiêu thanh tra viên vệ sinh - an toàn thực phẩm thì sẽ giải quyết được tình trạng mất vệ sinh - an toàn thực phẩm vốn đang ở mức báo động và vẫn ngày ngày gieo rắc mầm độc làm suy thoái giống nòi trên khắp mọi miền đất nước? Rồi các cây xăng gian lận, hàng giả hàng nhái, thuốc tân dược giả, bằng cấp giả, cùng bao nhiêu vấn nạn xã hội khác nữa, vân vân và vân vân, liệu bộ máy công quyền phải phình thêm bao nhiêu “biên chế” nữa thì mới đủ sức ngăn chặn những hiện tượng nhan nhản như thế trong xã hội Việt Nam hiện nay?

Thực trạng vô pháp luật ở Việt Nam hiện đã trở thành căn bệnh trầm kha; thể chế chính trị hiện hành không những không ngăn chặn được mà ngược lại, đang khiến cho nó ngày một trầm trọng hơn. Nó khiến cho nền kinh tế suy đốn, tham nhũng tràn lan, tội phạm nhan nhản, môi trường bị tàn phá từng ngày, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, đời sống của đại bộ phận dân chúng ngày càng khó khăn trong khi một nhóm nhỏ lại giàu lên nhanh chóng một cách bất công. Nó bắt nguồn từ thượng tầng chính trị và chỉ có thể được giải quyết ở thượng tầng chính trị. Điều này đòi hỏi một cuộc cải cách thể chế sâu rộng từ trên xuống chứ không phải là những màn bịp bợm trơ trẽn như một cuộc vận động “học tập và làm theo” một “tấm gương đạo đức” nào đó. Đây là thách thức lớn lao mà lịch sử đặt ra cho những người chịu trách nhiệm soạn thảo bản hiến pháp sắp tới của đất nước. Hiến pháp mới cần phải xuất phát từ thực tế của nước nhà, với một tầm nhìn dài hạn, thể hiện bản lĩnh, tầm vóc và liêm sỷ của một dân tộc bốn ngàn năm văn hiến, chứ không phải bám sát bất kỳ một “Cương lĩnh” viễn vông nào hay một thứ chủ thuyết phi nhân và phi thực tế nào cả.

Trở lại với vai trò của Quốc Hội, thiển nghĩ nếu “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam” mà không biết làm gì hơn trước tình hình nóng bỏng hiện nay của đất nước thì có lẽ là hãy nên bắt chước Hạ Viện Anh cách đây hơn bốn thế kỷ để thảo một bức thỉnh nguyện thư gửi Bộ Chính trị, “vị vua tập thể”[9]của “thời đại Hồ Chí Minh”, và đề đạt lời thỉnh cầu khẩn thiết của cả một dân tộc về mộthình thái pháp trị chắc chắn chứ không phải bất kỳ một chính thể bất trắc và độc đoán nào cho đất nước này vậy. Ôi, mong lắm thay!./.


Ghi chú:

1 Institutional Economics: Social Order and Public Policy, Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit, NXB Edward Elgar, Anh, 1999, trang 134.
2 Báo Dân Trí ngày 21/3/2011: Vụ Vinashin: Bộ Chính trị quyết định không xử lý kỷ luật (http://dantri.com.vn/c20/s20-466074/Vu-Vinashin-Bo-Chinh-tri-quyet-dinh-khong-xu-ly-ky-luat.htm).
4 Báo Người Lao Động ngày 18/11/2011: Vợ anh Nguyễn Công Nhựt: Mong tìm ra sự thật (http://nld.com.vn/2011111711475549p0c1019/vo-anh-nguyen-cong-nhut-mong-tim-ra-su-that.htm); báo Dân Việt ngày 25/10/2011: Vụ “nhậu trên sông”: Gia đình cô gái chết thảm kiến nghị điều tra lại (http://danviet.vn/63037p1c24/vu-nhau-tren-song-gia-dinh-co-gai-chet-tham-kien-nghi-dieu-tra-lai.htm).
5 Báo Dân Trí ngày 18/11/2011: Truy tố cựu Chủ tịch HĐQT Vinashin và 8 thuộc cấp
6 Tôi đã dịch hoàn chỉnh tác phẩm này sang Tiếng Việt vào tháng 10/2011, với tựa đề Kinh tế học thể chế: Trật tự xã hội và chính sách công. Quý vị độc giả nào quan tâm xin vui lòng liên hệ với tôi qua địa chỉ lehunglpa@yahoo.com, tôi rất hân hạnh được gửi tặng quý vị.
7 Theo lời của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trên báo Nhân Dân ngày 5/11/2011: Vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới
8 Báo VTC ngày 24/10/2011: Bộ trưởng, VFF và cái điếu cày (http://vtc.vn/thethao/603-306670/the-thao/ban-tra-quan-nuoc/bo-truong-vff-va-cai-dieu-cay.htm).
9 Báo Vietnamnet ngày 6/12/2010: Nguyên Chủ tịch Quốc hội bàn về phương thức cầm quyền của Đảng (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-12-05-nguyen-chu-tich-quoc-hoi-ban-ve-phuong-thuc-cam-quyen-cua-dang).   


Bài đã đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 5/12/2011: http://boxitvn.blogspot.com/2011/12/tinh-trang-vo-phap-luat-o-viet-nam-hien.html.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

CƠN CUỒNG NỘ CỦA CÔNG LÝ

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 28/11/2011




Tôi từng xem một bộ phim Hồng Kông lâu lắm rồi mà dù không còn nhớ nội dung nhưng đoạn kết của nó thì tôi vẫn nhớ mãi. Một tên trùm vốn gây nhiều nợ máu, trong màn showdown với một nạn nhân của mình ở cuối bộ phim, đã thoát khỏi bị trừng phạt khi cảnh sát xuất hiện và khống chế kẻ mà hắn ta đã gieo rắc nhiều chết chóc cho người thân vào đúng lúc anh này sắp sửa bắt hắn phải đền tội. Bỗng dưng thoát chết trong gang tấc, cứ tưởng rồi sẽ như những lần trước, hắn ta hớn hở cười vang, chế nhạo và thách thức nạn nhân của mình, người lúc này đang bị cảnh sát khống chế, giơ hai tay lên trời nhưng trên tay phải vẫn còn cầm khẩu súng. Bất thần, anh quay phắt lại và nã liền mấy phát vào tên trùm nhiều nợ máu kia. Cuốn phim kết thúc vào đúng khoảnh khắc đó.
Chàng trai kia rõ ràng là sẽ bị đưa ra toà với hành vi của mình nhưng một khi đã xem từ đầu đến cuối bộ phim thì hẳn ai cũng đồng lòng với hành động bột phát của anh (nếu không như vậy thì còn gì là phim!). Pháp luật không thiếu kẻ hở để những kẻ có tiền và quyền thế có thể lợi dụng và hành động của anh chính là cơn cuồng nộ nhân danh công lý. Dù phải trả một cái giá nhưng chắc rằng anh sẽ chẳng hối tiếc với hành động của mình.

Sau cái chết nhục nhã và thê thảm của Gaddafi, nhiều người trên thế giới và cả ở Việt Nam đã lên án hành vi sát hại tù binh của lực lượng nổi dậy ở Libya. Tuy nhiên, những ai hiểu rõ tội ác man rợ chồng chất của nhà độc tài này thật khó mà không bày tỏ thái độ cảm thông trước hành động bột phát của chiến binh trẻ tuổi kia. Anh đã thay mặt các nạn nhân khác của Gaddafi thực thi công lý đối với ông ta, kẻ đã gieo rắc bao tội ác và khước từ công lý đối với hàng triệu đồng bào của mình. Điều phải đến đã đến và người chiến binh kia, mà anh ta và thân nhân của mình chắc chắn từng là nạn nhân của chế độ độc tài tàn bạo Gaddafi, đơn giản là đóng vai kẻ thực thi công lý. Và nếu không phải anh ta thì trong đám chiến binh cuồng nộ kia ắt sẽ có người khác làm điều đó.

Dư luận Việt Nam gần đây xôn xao về sự kiện “viết lại cổ tích” liên quan đến đoạn kết của câu chuyện Tấm Cám. Nhiều người phê phán rằng Tấm quá độc ác khi thực hiện hành vi trả thù man rợ đối với Cám và mụ gì ghẻ. Người ta quên mất rằng trước sự trâng tráo và lỳ lợm của cái ác, hành động của Tấm là một cách cực chẳng đã để chấm dứt cái ác. Cái kết của câu chuyện cho thấy nạn nhân của cái ác, sau khi bị vùi dập hết lần này đến lần khác, đã vùng lên để thực thi công lý và bảo vệ chính mình. Đó tuy là hành động của cô Tấm nhưng lại thể hiện cơn cuồng nộ nhân danh công lý của nhân dân trước cái ác.

Chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay đang lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Trước sau gì chế độ này cũng sụp đổ, đó là viễn cảnh mà ai cũng có thể nhìn thấy trước. Một mặt, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa muốn đi những bước tuần tự trên lộ trình hướng tới một nền dân chủ đích thực nhằm tránh một sự sụp đổ đột ngột gây nhiều tang thương và hỗn loạn kéo dài như đã từng xẩy ra ở Liên bang Soviet và vài quốc gia Đông Âu. Mặt khác, các nhà lãnh đạo Đảng lại cố tìm mọi cách hòng đẩy lùi quá trình dân chủ hoá đất nước, dập tắt mọi mầm mống dân chủ trong nước như kiểm duyệt báo chí gắt gao, đàn áp những tiếng nói dân chủ và những người bất đồng chính kiến, phớt lờ việc thông qua các đạo luật mà Hiến pháp đã quy định như Luật Lập hội, Luật biểu tình, v.v, khiến cho đất nước ngày càng lún sâu vào thảm trạng về chính trị - kinh tế - xã hội.

Sự mâu thuẫn này thể hiện qua việc Luật Biểu tình được đưa vào chương trình soạn thảo luật của Quốc Hội khoá XIII theo “sáng kiến” của Thủ tướng nhưng Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội lại chỉ đưa vào “danh sách dự bị”, rồi mới đây ông nghị Hoàng Hữu Phước lại còn diễn thuyết hùng hồn trước Quốc Hội là đề nghị loại luật này và Luật Lập hội ra khỏi chương trình làm luật của Quốc Hội khoá XIII. (Các đại biểu ngoài Đảng tự ứng cử và lọt qua được các vòng “hiệp thương” gắt gao của Mặt trận Tổ quốc phần lớn đều là những dân vật “dễ bảo”, nhiều khi còn ngu ngơ, như ông nghị Nguyễn Minh Hồng chẳng hạn, nên thiết tưởng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ông Phước lại phát biểu hàm hồ như thế. Một kẻ cơ hội như ông Hoàng Hữu Phước – thể hiện qua blog cá nhân của ông ta [http://hhphuoc.blog.com] – chắc chắn là chẳng dại gì mà phản bác “sáng kiến” của Thủ tướng nếu không do thế lực nào đó sai khiến.)

Không ai thay đổi được quá khứ nhưng lại có thể lựa chọn được tương lai. Hy vọng rằng các nhà lãnh đạo Đảng không cố chọn cho mình một kết cục trong tương lai mà cả họ và dân tộc Việt Nam đều phải trả giá đắt. Gieo gió ắt gặt bão. Ông Gaddafi có thể hoang tưởng về bản thân và chế độ của ông ta chứ các nhà lãnh đạo ở Việt Nam chắc chắn không ngu muội đến mức đó. Họ hoàn toàn ý thức được những gì họ đã và đang gây ra cho đất nước này. Và một khi điều tất yếu phải đến thì e rằng chính họ sẽ phải hứng chịu cơn cuồng nộ của công lý mà những người dân vốn phải chịu nhiều áp bức và bất công sẽ tự ra tay thực thi trước khi chờ đến bất kỳ một “quy trình pháp lý” nào./.


Bài đã đăng trên Dân Luận ngày 28/11/2011 (http://danluan.org/node/10708).

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

“TÁI CẤU TRÚC”: “AI” TÁI CẤU TRÚC “AI”?

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 8/11/2011




Thật sai lầm khi coi nhà nước hiện hành như một kẻ bảo vệ toàn
trí toàn năng cho toàn bộ hoạt động kinh tế. Song cũng thật không đúng
khi chấp nhận nhà nước hiện hành, cái chính thể vốn đang bị các nhóm lợi ích
làm cho bệ rạc, như một hiện thực không thể thay đổi và do đó đánh mất hy vọng
chinh phục bài toán xây dựng một trật tự chính trị - kinh tế thích đáng. Sự phụ thuộc
lẫn nhau của trật tự chính trị và trật tự kinh tế buộc chúng ta phải tìm cách xử lý cả hai cùng lúc. Cả hai đều là những bộ phận của cùng một trật tự hoàn chỉnh. Nếu thiếu
một trật tự cạnh tranh sẽ không tồn tại một chính phủ có khả năng hành động;
và nếu thiếu một chính phủ như thế thì sẽ không có trật tự cạnh tranh nào cả.
-Walter Eucken[1],Grundsätze der Wirtschaftspolitik
[Những nguyên lý về chính sách kinh tế, 1952]


“Tái cấu trúc nền kinh tế” đang là câu nói cửa miệng của nhiều người, nhiều giới trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, kèm theo đó lại là câu hỏi mà dường như chưa có câu trả lời thoả đáng, ít nhất là từ phía Chính phủ, là tái cấu trúc như thế nào và bắt đầu từ đâu? Bài học lịch sử cho chúng ta thấy rằng, nếu không có cải cách chính trị thì sẽ chẳng có cải cách kinh tế thực chất nào ở đây cả, và sau khi đi hết một vòng luẩn quẩn, mọi chuyện không chỉ rồi đâu sẽ hoàn đấy mà còn diễn ra theo chiều hướng ngày một xấu hơn, đồng thời kéo theo nhiều hệ luỵ xã hội khác.
Lao động để tạo ra giá trị - những hàng hoá hay dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người hay xã hội - là hoạt động cơ bản của con người. Cho đến nay, nhân loại mới biết đến thị trường cạnh tranh như là cơ chế định giá chính xác nhất và hữu hiệu nhất đối với giá trị của hàng hoá và dịch vụ do con người tạo ra trong sự phân công lao động của xã hội. Rốt cuộc, người ta có thể không sinh con đẻ cái (một nhu cầu cơ bản theo bản năng) chứ không thể không tham gia vào một hoạt động nào đó để tạo ra giá trị, phục vụ cho nhu cầu của con người hay xã hội, qua đó đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày một cao hơn của bản thân. Vì vậy, trật tự kinh tế (khuôn khổ mà ở đó các quyết định kinh tế được đưa ra), chi phối quá trình kinh tế (nơi diễn ra hoạt động tạo ra các hàng hoá và dịch vụ cho xã hội), chính là trụ cột của trật tự xã hội, trong đó có trật tự chính trị.
Ngược dòng thời gian, sự thay đổi của các hình thái xã hội, từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ, sang chế độ chiếm hữu nô lệ, đến chế độ phong kiến rồi chế độ tư bản chủ nghĩa, thảy đều hướng tới một mục đích giống nhau: một kiến trúc thượng tầng phù hợp hơn với trật tự kinh tế tự tiến triển trong lòng xã hội. Điều đó có nghĩa kinh tế chính là nguyên nhân sâu xa của những biến chuyển diễn ra trong xã hội, quyết định sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng.
Lịch sử thế giới hiện đại càng cho chúng ta thấy rõ điều đó. Cuộc cách mạng vô sản ở Nga diễn ra trong bối cảnh của một nước Nga Sa hoàng kiệt quệ về kinh tế, để rồi hơn 70 năm sau, đế chế Soviet lại sụp đổ cũng vì lý do tương tự. Các nước XHCN khác lần lượt đi đến chỗ sụp đổ đều với căn nguyên chủ yếu là kinh tế. Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng bắt nguồn từ một nguyên nhân sâu xa là kinh tế, khi mà nạn đói cùng năm đó đã gây ra cái chết cho hơn hai triệu người dân vô tội. Công cuộc “đổi mới” ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1986 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ngoài những căn nguyên sâu xa khác trong lòng xã hội, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phong trào dân chủ Mùa Xuân Ả-rập đang diễn ra hiện nay chính là về kinh tế.
Trước khi đi đến sụp đổ, hầu hết các nước XHCN ở Đông Âu cũng đã thực hiện những cải cách về kinh tế, đó là sự áp dụng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội thị trường” (market socialism). Các cuộc cải cách đó đều thất bại do không một bước cải cách nào diễn ra ở thượng tầng chính trị. Và những gì mà đất nước chúng ta đang phải trải qua ở giai đoạn hiện nay chính là do cải cách chính trị đã không song hành với cải cách kinh tế, không đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn kinh tế nước nhà.
TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế TW, đã đưa ra nhận định thẳng thắn trong cuộc hội thảo về các vấn đề kinh tế vĩ mô do Uỷ ban Kinh tế của Quốc Hội tổ chức vào cuối tháng 9/2011: “Không nghi ngờ gì nữa, tình hình KT-XH nước ta đang ở trong tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay.”[2]
Ngày nay, trong một thế giới đang ngày càng “phẳng” hơn và cạnh tranh gay gắt hơn, cạnh tranh kinh tế không còn bó hẹp trong phạm vi giữa các chủ thể kinh tế như cá nhân hay doanh nghiệp với nhau, mà nó còn diễn ra giữa các địa phương với nhau trên bình diện quốc gia và giữa các chính phủ với nhau trên bình diện quốc tế, hay chính xác hơn là cạnh tranh giữa các hệ thống thể chế với nhau (nhằm thu hút các nguồn lực [nguồn vốn, công nghệ, v.v.] trong nước và trên trường quốc tế; nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh, v.v.). Việt Nam chúng ta đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, ngày càng hiểu ra thế nào là cạnh tranh quốc tế và cạnh tranh giữa các hệ thống thể chế.
Như vậy, áp lực cải cách đối với chính thể hiện nay ở Việt Nam không chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân nội tại của nền kinh tế mà nó còn xuất phát từ bối cảnh của thế giới bên ngoài, sự cạnh tranh của các nền kinh tế khác. Nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ không thể “cất cánh” nổi để “sánh vai với các cường quốc năm châu” nếu vẫn cứ phải cõng trên lưng bộ máy ăn bám khổng lồ (Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội…). Điều này càng đặc biệt đúng khi phần lớn trong số đó lại không chỉ là ăn bám mà còn ăn hại. Với đồng lương công chức bèo bọt, với cơ chế giám sát quyền lực lỏng lẻo (trên thực tế hầu như không tồn tại) và với trách nhiệm giải trình mơ hồ, chính họ đang xâu xé nền kinh tế nhiều hơn là góp phần thúc đẩy nó phát triển một cách lành mạnh và bền vững. Vì vậy, nếu không sớm đổi mới, Việt Nam sẽ không những không bắt kịp các nước khác trong khu vực và trên thế giới mà còn đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn.
Nền kinh tế thị trường vận hành dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình”, đó là các quy luật của thị trường. Cạnh tranh là hoạt động đặc trưng và là động lực cơ bản của kinh tế thị trường. Vai trò tích cực của chính phủ trong nền kinh tế thị trường chính là sự can thiệp của chính phủ bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào mà cạnh tranh kinh tế không diễn ra bình thường và lành mạnh. Nếu đi quá giới hạn đó thì chính chính phủ lại phá vỡ cơ chế cạnh tranh của thị trường, làm méo mó các tín hiệu thị trường và cơ chế phân bổ nguồn lực hữu hiệu của nó. Hậu quả là nền kinh tế phát triển lệch lạc và cuối cùng là rơi vào trạng thái trì trệ, thậm chí khủng hoảng, từ đó gây ra những hệ luỵ xã hội khác. Đây là thông điệp từ cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay ở Châu Âu nói chung và ở Hy Lạp, Iceland hay Bồ Đào Nha nói riêng. Đây cũng chính là bài học từ nền kinh tế “đang ở trong tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay” của chúng ta. Và nếu như phong trào “Chiếm Phố Wall” đang diễn ra ở Mỹ phát đi thông điệp gì thì đấy chính là sự cần thiết phải xem lại vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường; sự can thiệp của chính phủ vào thị trường nhiều khi khiến cho nền kinh tế vận hành lệch lạc và tạo thêm bất công hơn là góp phần giảm bớt bất công trong xã hội, cho dù là ở nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới và ở nơi mà quyền lực chính phủ bị giám sát và chế ước chặt chẽ như nước Mỹ: chính các đạo luật của các cựu tổng thống Bill Clinton và George W. Bush đã góp phần tạo ra sự hỗn loạn cho thị trường tài chính, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ,[3]và các gói cứu trợ mà chính phủ Mỹ dành cho các định chế tài chính lớn sau đó đã khiến dân chúng bất bình, gây chia rẽ trong xã hội Mỹ. Tóm lại, chính phủ cần phải hạn chế can thiệp vào thị trường và khi can thiệp thì phải thận trọng với những hiệu ứng phụ của chính sách, vốn khó lường và dễ khiến cho chính sách phản tác dụng.
Friedrich A. Hayek, nhà kinh tế học kiêm triết gia xã hội vĩ đại nhất thế kỷ 20, từng nhận định: “Chúng ta chưa bao giờ thiết kế được hệ thống kinh tế của mình. Chúng ta không đủ thông minh để làm điều đó” (Friedrich A. Hayek, The Political Order of a Free People, 1979). Chính phủ nào trên thế giới mà chẳng muốn các doanh nghiệp trong nền kinh tế của mình làm ra được những sản phẩm “hoành tráng” như Boeing, Airbus hay những nhãn hiệu ô tô hàng đầu thế giới. Song họ lại không làm điều đó, đơn giản là họ phải tuân theo các quy luật của thị trường, tuân theo cơ chế phân công lao động hữu hiệu của thị trường thế giới.
Như vậy, cụm từ “tái cấu trúc nền kinh tế” mà ngày ngày vẫn xuất hiện trên các mặt báo và nằm ở cửa miệng của nhiều người, nhiều giới ở Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là cách nói khiên cưỡng thôi. Chính nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật của riêng nó, sẽ tự (tái) cấu trúc nó. Và nếu có một tác nhân “tái cấu trúc” nào ở đây thì đấy là chính nền kinh tế thị trường: nó đã, đang và vẫn sẽ tiếp tục “tái cấu trúc” chính phủ theo nghĩa hẹp và hệ thống thể chế của một quốc gia theo nghĩa rộng nhằm đạt tới một trật tự chính trị tối ưu, tạo điều kiện cho sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế. Nếu chính phủ không tự chủ động thay đổi, đi trước mở đường cho sự phát triển bền vững và lành mạnh của nền kinh tế thì sớm muộn gì nó cũng bị thị trường “tái cấu trúc”, mà đến lúc ấy thì đất nước đã phải trả một cái giá không hề nhỏ.
Ngày nay, khi mà người dân ngày càng ý thức rõ hơn về quyền của mình và trách nhiệm của chính phủ, khi mà các phương tiện truyền thông đại chúng đã lan đến mọi ngóc ngách của xã hội, người dân chắc chắn sẽ không đợi đến lúc không còn gì để mất mới chịu đứng lên đòi hỏi chính phủ phải thay đổi để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của mình. Phong trào dân chủ Mùa Xuân Ả-rập đang diễn ra ở Trung Đông hiện nay chính là minh chứng hùng hồn cho nhận định đó.
Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, chừng nào mà Chính phủ còn coi kinh tế Nhà nước là thành phần “chủ đạo”, chừng nào mà Chính phủ còn lăm lăm những “quả đấm thép”[4]để “điều tiết vĩ mô nền kinh tế”, chừng nào mà Chính phủ còn tiếp tục thọc tay quá sâu vào thị trường,[5]chừng nào mà các cơ quan Đảng còn trưng câu thần chú “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” để biện minh cho sự can thiệp tuỳ tiện và vô pháp luật vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước (như “Kết luận của Bộ Chính trị”, “Chỉ thị của Ban Bí thư”[6], “Kết luận của Thường vụ Tỉnh uỷ”, v.v.), chừng đó các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước còn phải “tái cấu trúc” tư duy của mình để tiến hành cải cách chính trị trước khi mơ màng đến sự thành công của một cuộc “tái cấu trúc” nền kinh tế./.


Ghi chú:

1[ ] Walter Eucken (1891-1950): Nhà kinh tế học và triết gia xã hội người Đức, cha đẻ của chủ nghĩa tự do ordo (ordoliberalism), tên tuổi của ông gắn liền với sự phát triển của “nền kinh tế thị trường xã hội”, khái niệm được gán cho “phép màu kinh tế Tây Đức” sau Thế Chiến II.
2[ ] Báo Công Thương ngày 1/10/2011: TS Lê Đăng Doanh: “Đến lúc nhìn thẳng vào sự thật” (http://www.baocongthuong.com.vn/p0c211n14112/ts-le-dang-doanh-den-luc-nhin-thang-vao-su-that.htm).
4[ ] Các tập đoàn và tổng công ty Nhà nước.
5[ ] Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 16/6/2011: Bộ máy phình to, nhưng vẫn đẩy việc cho Thủ tướng (http://www.sgtt.com.vn/Thoi-su/146352/Bo-may-phinh-to-nhung-van-day-viec-cho-Thu-tuong.html); Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 3/11/2011: Dự thảo Luật Giá: “Bóng” nhà nước vẫn lớn (http://vneconomy.vn/20111103081020326P0C9920/du-thao-luat-gia-bong-nha-nuoc-van-lon.htm).
6[ ] Báo Dân Trí ngày 21/3/2011: Vụ Vinashin: Bộ Chính trị quyết định không xử lý kỷ luật (http://dantri.com.vn/c20/s20-466074/Vu-Vinashin-Bo-Chinh-tri-quyet-dinh-khong-xu-ly-ky-luat.htm); Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 26/10/2011: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/50/50/164881/Default.aspx).


Bài đã đăng trên Dân Luận ngày 8/11/2011(http://danluan.org/node/10533).

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

SỰ BẤT LỰC CỦA TRUNG ƯƠNG, SỰ VÔ HIỆU CỦA CÁC THIẾT CHẾ DÂN CHỦ Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ HỆ LUỴ

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 1/11/2011



1.
Thời gian gần đây, khi thực trạng đầu tư công tràn lan từ trung ương đến địa phương được nhận diện là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao và sản xuất đình đốn hiện nay, người ta mới bắt đầu nêu lên những bất cập trong khâu phân cấp quản lý, trong đó có quản lý đầu tư, giữa trung ương và địa phương.
Phân cấp quản lý là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển, khi chính quyền trung ương không đủ khả năng bao quát hết những khía cạnh đặc thù của từng địa phương để đưa ra các quyết định quản lý hiệu quả và giám sát việc thực hiện chúng. Ở Việt Nam, quá trình phân cấp quản lý trong suốt thời gian qua diễn ra song song với quá trình “đổi mới” từ năm 1986 đến nay, chuyển từ chế độ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, do bản chất của cuộc “đổi mới” ở Việt Nam là một sự thay đổi thụ động và nửa vời, xuất phát từ sự thúc bách của tình thế, chứ không phải là một sự thay đổi chủ động, một cuộc “lột xác” theo đúng nghĩa (thể hiện qua cái đuôi “định hướng XHCN”), nên nó đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề nan giải.
Trong một bài viết cách đây hai năm, tác giả đã bàn qua về tình trạng bất lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như sự vô hiệu của các thiết chế dân chủ ở địa phương, một thực tế khiến cho quá trình phân cấp quản lý trở nên thiếu hiệu quả và gây ra nhiều hệ luỵ kinh tế - xã hội sâu rộng.1Và xem ra tình hình hiện vẫn đang diễn ra theo chiều hướng ngày một xấu hơn.
Trước hết, quý vị độc giả có thể hình dung ra phần nào bức tranh đầu tư công ở Việt Nam qua những con số sau đây từ chương trình Đối thoại chính sách: Tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả đầu tư, phát trên VTV1 vào hồi 22h20 ngày 26/10/2011:
  • Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư thì số liệu về đầu tư công trong 6 tháng đầu năm 2011 là:
  • Khởi công: 6.731 dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên (tăng gần 1.000 dự án so với cùng kỳ năm 2010);
  • Hoàn tất, đưa vào khai thác: 4.693 dự án.
  • Theo số liệu của Tổng cục Thống kê về đầu tư công trong 9 tháng năm 2011:
  • Tổng vốn 131.364 tỷ VNĐ, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2011;
  • Dự án chậm tiến độ: 6 tháng 2011: 11,15%; 6 tháng 2010: 9,78%.
  • Theo thông tin từ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương:
  • Các dự án đầu tư công năm 2012 mà các bộ, ngành và địa phương đã trình lên Chính phủ lên tới 300 tỷ USD, tức gấp 3 lần quy mô GDP hiện nay (105 tỷ USD);
  • Trong 10 năm qua, đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm 46% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội.
  • Theo số liệu của Bộ KHĐT thì bội chi năm 2009 (tính cả trái phiếu CP) là 9,7% và năm 2010 là 8,7% GDP, so với con số chính thức là khoảng 5% GDP.
Cũng trong chương trình nói trên, ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư, một trong hai khách mời tham gia chương trình (cùng với ĐBQH Trần Du Lịch), đã đưa ra con số ước định là nếu bắt đầu từ năm 2012 chấm dứt khởi công các dự án đầu tư công mới thì còn phải mất tới 8 năm nữa mới đủ ngân sách để hoàn tất các dự án đầu tư công đang dở dang.
2.
Tại cuộc hội thảo về tái cơ cấu đầu tư do Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư tổ chức ngày 27/10/2011, TS Vũ Thành Tự Anh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, nhận xét: “Việt nam có hơn 50 tỉnh địa phương đầu tư phụ thuộc vào ngân sách. Đầu tư dàn trải, phân tán, lỗi là ở người đi xin đã đành nhưng người cho cũng có lỗi.” Còn TS Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam, thì đưa ra bình luận thẳng thắn: “Quy hoạch ở Việt Nam đúng là một bức tranh châm biếm. Mỗi địa phương như một vương quốc độc lập. Tỉnh nào cũng có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, khu du lịch, sân golf, khu đô thị cao cấp... như một ‘đại công trường’ nhưng dang dở”. Nguyên Bộ trưởng bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, chủ trì cuộc hội thảo, lại nhận định: “Khuyết điểm quy hoạch đầu tư này là từ cơ quan Trung ương. Tôi không đồng tình với cách trả lời trước đây của Bộ trưởng bộ Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc khi đổ lỗi là việc đầu tư đã phân cấp rồi, Bộ không có trách nhiệm gì. Rõ ràng, người đi xin thì cứ việc đi xin, nhưng quan trọng là ở trên, ông có dám từ chối hay không?”2
Tuy nhiên, nếu từ đó mà vội quy trách nhiệm cho cơ quan Trung ương, cụ thể ở đây là Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong khâu quy hoạch thì e rằng hấp tấp quá. Trong thời buổi hiện nay, chẳng ai cho không ai cái gì cả. Và khi mà cái quyền “cho” kia lại không phải chịu một hình thức ràng buộc hay giám sát đáng kể nào thì đấy chính là mầm mống cho đủ thứ tiêu cực trong xã hội.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải từng nhắc lại trước diễn đàn Quốc Hội câu nói rất chân thật nhưng cũng đầy chua chát của một vị chủ tịch tỉnh: “Mình vừa có ý định thay nó (giám đốc sở) thì nó đã vận động thay mình”.3Và trên thực tế, những người bảo trợ ở Trung ương cho những đối tượng như vị giám đốc sở kia lại nhiều vô kể; họ không chỉ có khả năng kết bè để thao túng quyền lực ở địa phương mà còn đủ sức phá vỡ bất kỳ kiểu “quy hoạch” nào của Trung ương. (Trong cuộc hội thảo nói trên, TS Vũ Thành Tự Anh đưa ra một ví dụ minh họa sinh động là câu chuyện quy hoạch cảng biển vùng đồng bằng sông Cửu Long: Tháng 10/2009, Thủ tướng ký Quyết định phê duyệt quy hoạch với 21 cảng biển ở đây. Nhưng chỉ sau 2 năm, khi có quy hoạch chi tiết về cảng biển thì con số cảng biển đã tăng lên 27! TS Vũ Thành Tự Anh còn cho hay là khi thảo luận, chính Bộ KH-ĐT nhận định rằng con số 15 khu kinh tế ven biển là quá nhiều, mà chưa có khu nào đáng gọi là khu kinh tế. Đến lúc VN phải xem lại, chọn lựa một vài khu kinh tế biển để “làm cho ra hồn”. Thế nhưng, cũng chính Bộ KH-ĐT lại không cưỡng được “xu thế”, đầu tháng 9/2011 vừa qua lại bổ sung vào quy hoạch thêm 3 khu kinh tế biển nữa, thành 18 khu, mà mỗi khu chỉ cách nhau 40-50km.4) Với cơ chế hiện nay của chúng ta thì rõ ràng quyền hoặc tiền hoặc cả hai là sức mạnh đủ sức công phá mọi thành luỹ.
Trong thể chế chính trị hiện hành ở Việt Nam, ngoài một Thủ tướng về mặt chính thức, chúng ta còn có hai “siêu Thủ tướng” là Tổng Bí thư BCHTW Đảng và Chủ tịch nước, 11 vị uỷ viên Bộ Chính trị còn lại đều có uy quyền và ảnh hưởng tương đương những “Phó Thủ tướng Thường trực”, ấy là chưa kể các Phó Thủ tướng chính thức khác trong Chính phủ và các thế lực khác trong Đảng. Câu nói trên rõ ràng là không chỉ thể hiện nỗi chua chát của vị chủ tịch tỉnh kia mà còn là “nỗi niềm” của bản thân nguyên Thủ tướng, người chính thức phải chịu trách nhiệm trước Quốc Hội, trước nhân dân, còn mười mấy vị uỷ viên Bộ Chính trị kia (kể cả Tổng Bí thư BCHTW) thì chẳng phải chịu trách nhiệm trước một thực thể “chính danh” nào cả. Đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng giãi bày trước Quốc Hội: “Hơn ba năm nay, tôi chưa kỷ luật ai!”5Dĩ nhiên là không phải ông không muốn kỷ luật những thuộc cấp kém năng lực hay mắc sai phạm của mình để nâng cao hiệu lực của quyết định quản lý và hiệu quả của công tác điều hành. Trong bối cảnh đó, nếu vị Thủ tướng “chính thức” không đủ tài năng, bản lĩnh và đức độ để “cầm cương” thì dễ trở thành “con rối” và tình hình ngày một thêm bi bét là thực tế khó tránh khỏi.
Đằng sau các các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, vốn đang liên tiếp tung ra những “quả đấm thép” khiến nền kinh tế khó lòng gượng dậy, chính là các thế lực chính trị vững mạnh. Thử hỏi, nếu không có sự bảo trợ của “ai đó” thì liệu Vinashin có dám đầu tư vung vít như thế hay không? (Để rồi một cuộc “kiểm tra Đảng” mới khiến cho các nhà “quản lý kinh tế” hết giả đui giả điếc!) Nếu không có thế lực nào đó đứng sau lưng thì liệu EVN có mãi một mình một chợ vẫn thấy chưa đủ mà còn đầu tư tràn lan ra ngoài ngành để rồi giờ đây phải ôm khoản lỗ 31.000 tỷ VNĐ trong khi vẫn cứ bình chân như vại hay không? (Một kết quả từ cuộc thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về giá và thuế tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, do Thanh tra Bộ Tài chính thực hiện, cho thấy là vào tháng 2/2010, trong Thông tư số 08/2010/TT-BCT, Bộ Công Thương đã cho phép EVN tăng giá bán điện bình quân năm 2010 lên mức 1.058 đồng/KWh, cao hơn 2,2% so với mức mà Thủ tướng cho phép.)6
3.
Thiết chế dân chủ cơ bản ở địa phương chính là hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã). Tuy nhiên, như mọi người đều biết, hội đồng nhân dân các cấp phần lớn đều chỉ mang tính hình thức, do cơ chế “Đảng cử, dân bầu” và do sự thao túng của (ban thường vụ) cấp uỷ đối với hội đồng nhân dân. Vì nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng nên ở Trung ương thì Bộ Chính trị thao túng và thường phớt lờ Ban Chấp hành TW7(vốn xuân thu nhị kỳ nhóm họp dăm ba ngày chủ yếu chỉ để “đọc báo cáo” của Bộ Chính trị – chú nào mà dám “ho he” thì sớm muộn gì cũng đều bị “ăn đòn” tập thể, bởi với cơ chế này thì chỉ có thánh thần mới không dính chàm, mà người cộng sản vốn không mê tín nên thánh thần làm gì được “cơ cấu” vào “cấp uỷ”), còn ở các địa phương thì các ban thường vụ cấp uỷ lại thường qua mặt cấp uỷ. Ngoài ra, như đã nói ở trên, hầu hết các thế lực ở địa phương đều (buộc phải) có một cái “ô” vững mạnh nào đó ở Trung ương. Nếu lãnh đạo địa phương là bộ hạ của Thủ tướng thì nỡ nào ông lại tự bắn vào chân mình; còn nếu họ là thuộc hạ của một vị uỷ viên Bộ Chính trị nào đấy thì Thủ tướng đành phải “vuốt mặt nể mũi” thôi. Trong khi đó, như một lẽ tự nhiên, các ban thường vụ cấp uỷ, mà cao nhất là Bộ Chính trị, thì lại luôn có ý thức bao che cho nhau vì “lợi ích” của nhúm người đó, để rồi người dân và đất nước phải gánh chịu mọi hậu quả. (Như vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn chẳng hạn, Thường vụ Thị uỷ Đồ Sơn còn “đi đến thống nhất” về việc chia chác đất cho nhau.8)
Những hạn chế, bất cập của hoạt động HĐND các cấp hiện nay:

      Về cơ chế tổ chức:
Đại biểu HĐND hầu hết là kiêm nhiệm, số lượng không tương xứng với với chức năng, nhiệm vụ. Các thành viên của các ban thuộc HĐND tỉnh, huyện (5 đến 7 thành viên/ban) chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm.

Về cơ chế giao nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND:
HĐND, thường trực, các ban của HĐND và mỗi đại biểu có rất nhiều nhiệm vụ, nhưng quyền hạn lại không tương ứng. Đến nay, chưa có một văn bản pháp quy nào hướng dẫn cụ thể về công tác giám sát việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. HĐND, thường trực, các ban, đại biểu HĐND không có quyền lực gì ngoài quyền “kiến nghị”, “yêu cầu”, “chất vấn” chung chung. Bởi thế, hiện tượng phổ biến hiện nay là nhân dân rất ít đến với HĐND để kiến nghị.
Nội dung kỳ họp HĐND các cấp có rất nhiều vấn đề (ít nhất không dưới 9 nội dung theo luật định, lại còn các nội dung chuyên đề, báo cáo thẩm định của các ban thuộc HĐND), trong khi đó thời gian của mỗi kỳ họp lại rất ít. HĐND thường mỗi năm có hai kỳ họp, mỗi kỳ họp cấp tỉnh thường từ 3 đến 4 ngày, cấp huyện từ 2 đến 3 ngày, cấp xã từ 1 đến 2 ngày. Điều đó dẫn tới các vấn đề cần thảo luận, quyết định và ra nghị quyết không tương xứng với thời gian kỳ họp, là một nguyên nhân làm cho kỳ họp HĐND nhiều khi chỉ là hình thức, chung chung, không đi sâu vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm, xây dựng các phương án khả thi.

Cơ chế đảm bảo điều kiện hoạt động cho HĐND:
Hầu hết các HĐND không có trụ sở làm việc riêng, không có văn phòng riêng; ở cấp xã không có các ban. HĐND, UBND cấp xã hoạt động đã khó khăn lại càng khó khăn hơn bởi năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở, điều kiện phục vụ công việc, chế độ phụ cấp là rất thấp.
Tóm lại, từ cơ chế tổ chức, cơ chế giao nhiệm vụ, đến cơ chế đảm bảo cho điều kiện hoạt động của HĐND hiện hành, nhằm thực hiện quyền lực, thực hiện nhiệm vụ của HĐND còn nhiều vướng mắc, chưa thông thoáng, hiệu quả hoạt động của HĐND còn nhiều hạn chế, còn mang nặng tính hình thức.
(Hoàng Sỹ Hạnh: Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta - Thực trạng và giải pháp[http://www.vnjurist.com/home/Hoat-dong-cua-Hoi-dong-nhan-dan-cac-cap-o-nuoc-ta-Thuc-trang-va-giai-phap.208.html]).
Xem thêm bài: Hội đồng nhân dân tỉnh còn bị động khi ra nghị quyết (http://tintuc.xalo.vn/00-217390633/Hoi_dong_nhan_dan_tinh_con_bi_dong_khi_ra_nghi_quyet.html)
4.
Khi đồng lương công chức không đủ sống thì mặc nhiên tham nhũng được coi là hiện tượng đương nhiên trong xã hội; người dân ai cũng biết điều đó và các nhà lãnh đạo lại càng không thể không biết. (Với một hệ thống tầng tầng lớp lớp nào Đảng, nào chính quyền, nào đoàn thể, nào tổ chức chính trị - xã hội… như hiện nay thì thử hỏi tiền thuế của dân làm sao kham nổi?) Chỉ có điều “ăn quen bén mùi” lại là khuyết tật cố hữu của con người. Và khi mà Bộ Chính trị nằm ngoài khả năng giám sát của các thiết chế dân chủ và cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương còn các cấp uỷ ở địa phương lại nằm ngoài khả năng giám sát của các thiết chế dân chủ và cơ quan bảo vệ pháp luật cùng cấp thì những ý tưởng kiểu như thay vai trò trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng của chủ tịch tỉnh bằng bí thư tỉnh uỷ hoặc chủ tịch HĐND tỉnh như ông Tổng Thanh tra Chính phủ mới đưa ra gần đây chẳng qua chỉ là chuyện thay trò hề này bằng màn bịp bợm kia thôi. Hay nói như người dân quê tôi, “Bầu cái thằng nó ‘ăn’ nhiều rồi thì may ra còn chút hy vọng là nó sẽ ‘ăn’ ít hơn thôi, chứ với cơ chế này mà bầu thằng mới thì nhiều khả năng nó lại còn ‘tạp ăn’ hơn thằng cũ”.
Mỉa mai thay, tuy là chính thể độc đảng, không có đảng phái đối lập, nhưng có lẽ một trong những cơ chế ít nhiều còn có tác dụng kiềm chế sự lạm dụng quyền lực ở cả trung ương lẫn địa phương lại chính là sự tồn tại của các phe cánh trong Đảng. Nếu không như thế thì những Phạm Thanh Bình, Lã Thị Kim Oanh, v.v. vẫn còn ung dung để tiếp tục tác oai tác quái, và Chính phủ thỉnh thoảng lại cứ phải họp để “bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn” cho doanh nghiệp này doanh nghiệp nọ. Chừng đó thôi cũng đủ cho thấy các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương bất lực đến thế nào. (Theo khoản 1, Điều 5 của Luật Công an Nhân dân thì “Công an Nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Trong khi đó, Đại hội Đảng thì 5 năm mới diễn ra một lần, BCHTW Đảng thì mỗi năm nhóm họp hai lần với độ dăm ngày một lần; do vậy cụm từ “Đảng Cộng sản Việt Nam” kia nếu chẳng phải là Bộ Chính trị ở Trung ương và thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ ở địa phương thì còn ai vào đây? Lực lượng nòng cốt và tinh nhuệ nhất trong công cuộc chống thứ giặc “nội xâm” kia mà bị trói chân, trói tay như thế thì còn biết trông mong gì? Điều đó cũng cho chúng ta thấy “pháp luật” ở Việt Nam là của ai và nằm trong tay ai.)
Do sự thao túng của các ban thường vụ cấp uỷ nên hội đồng nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật thường bất lực trong việc giám sát các cơ quan công quyền cùng cấp. Điều này giải thích cho thực tế là các vụ tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ lẻ, ở cấp dưới, còn tỷ lệ án tham nhũng ở cấp cao rất ít. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng năm 2010, trong tổng số bị can bị khởi tố về hành vi tham nhũng, cán bộ cấp xã phường chiếm tỷ lệ 30,9%, còn cấp Trung ương chỉ chiếm 0,3%.9Đơn giản là làm gì còn có cấp nào “to” hơn cấp Trung ương để mà giám sát họ. Riêng ở khoản này thì các ban thường vụ cấp uỷ từ Trung ương đến địa phương đã làm đúng lời Bác Hồ dạy: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.”10
Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự bất lực của các thiết chế dân chủ và các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương chính là tình trạng khiếu kiện vượt cấp tồn tại từ bao năm qua.11Nguyên Đại biểu QH Nguyễn Minh Thuyết cho biết: “Ngày nào tôi cũng nhận được vài đơn thư, mỗi lần đi công tác về là cả một chồng dày đơn khiếu nại mà chưa thể giải quyết hết được.”12 Trong năm qua, có nhiều địa phương không phát hiện và khởi tố được vụ án tham nhũng nào, hoặc ít phát hiện và khởi tố các vụ án tham nhũng. Một số tỉnh như Quảng Trị, Điện Biên, Bến Tre, Sóc Trăng… chỉ khởi tố 1 vụ, 1 đối tượng tham nhũng. Đặc biệt, tỉnh Hà Nam không khởi tố vụ tham nhũng nào.13
5.
Đáng tiếc là trước tình trạng băng hoại đạo đức và tội phạm tràn lan trong xã hội hiện nay mà dự thảo Luật Tố cáo vừa được Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội trình ra trước Quốc Hội ngày 25/10/2011 lại đặt ra những điều khoản mâu thuẫn với một số luật khác, trong đó Luật Báo chí và Luật Phòng chống tham nhũng.14Một trong những nội dung gây ngạc nhiên của dự thảo là quy định hạn chế hình thức tố cáo, theo đó việc tố cáo qua thư điện tử, qua fax hay điện thoại không được chấp nhận.15Đây là một điều gây bất ngờ bởi ngày 12/10/2011, trong phiên thảo luận ở Thường vụ Quốc Hội, ban soạn thảo đã thống nhất bổ sung cách thức tố cáo bằng email, điện thoại, fax.16Phải chăng 18 vị uỷ viên Uỷ ban Thường vụ QH là đều là những đứa “con nít” đồng bóng hay có “thầy phù thuỷ” nào đó phù phép ở đây? Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội mà còn như vậy thì còn trông mong gì ở hội đồng “nhân dân” các cấp?
ĐBQH Nguyễn Đăng Trừng từng ví von: “Nước nào cũng có tham nhũng, mức độ ít hoặc nhiều. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, công tác phòng chống tham nhũng như dòng văn học hiện thực phê phán cuối thế kỷ 19, thấy hiện trạng, có phê phán, nhưng lại không có giải pháp gì để tháo gỡ cả.”17GS.TS Đỗ Thế Tùng (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) đưa ra lời nhận định thẳng thắn trong cuộc hội thảo do Tạp chí Cộng sản và Viện Khoa học Xã hội VN tổ chức ngày 23/8/2011: “Nếu như tham nhũng không được đẩy lùi thì nên hiểu là tham nhũng nằm ngay trong cơ chế, và cơ chế đang ‘nuôi dưỡng’ chứ không phải đẩy lùi tham nhũng!”18
Rõ ràng, trước tình hình nóng bỏng hiện nay của đất nước, cũng như bối cảnh và xu thế trong khu vực và trên thế giới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đứng trước những quyết định lịch sử, quyết định vận mệnh của dân tộc. Và nếu Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là “Đảng của Dân tộc Việt Nam” thì Đảng chỉ có một lựa chọn duy nhất ở đây, đó là: CẢI CÁCH THỂ CHẾ SÂU RỘNG VÀ TRIỆT ĐỂ./.


Ghi chú:

1 Báo Dân Luận ngày 26/10/2009: Từ chuyện “ý thức của người tham gia giao thông” đến thực trạng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay (danluan.org/node/3041).
2 Báo Vietnamnet ngày 28/10/2011: Bệnh đầu tư công: Lỗi cả kẻ xin, người cho (http://vef.vn/2011-10-28-benh-dau-tu-cong-co-loi-ca-ke-xin-nguoi-cho).
3 Website Cải cách Hành chính – Bộ Nội vụ ngày 18/7/2008: Loại bỏ công chức yếu kém: Thủ trưởng cơ quan “chịu chết”! (http://caicachhanhchinh.gov.vn/PortalPlus.aspx?/vi-VN/News/71//1033/0/2511/); Báo Dân Trí ngày 2/4/2007: “Người đứng đầu không thể dựa mãi vào tập thể”
4 Báo Vietnamnet ngày 29/10/2011: Nhà nước có dám bỏ kinh doanh? (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-28-nha-nuoc-co-dam-bo-kinh-doanh).
5 Báo Tuổi Trẻ ngày 20/11/2009: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Hơn 3 năm nay, tôi chưa kỷ luật ai” (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/348716/Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung-%E2%80%9CHon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai%E2%80%9D.html)
6 Báo Vietnamnet ngày 27/10/2011: EVN: 'Cậu ấm hư hỏng' và câu hỏi với Bộ Công Thương (http://vef.vn/2011-10-26-tang-gia-dien-cau-am-hu-hong-va-cau-hoi-doi-voi-bo-cong-thuong).
7 “Tất cả mọi cố gắng để gia tăng quyền lực của BCHTW Đảng CSVN, đồng thời giảm ảnh hưởng của Bộ Chính trị, nếu có, đều chỉ là giả tạo, vì Bộ Chính trị coi BCH TW Đảng như ‘con nít’.” Ðó là nhận xét của cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Michael Marine, về những gì diễn ra tại Hội nghị Trung ương 3, Khoá X của BCHTW Ðảng Cộng sản Việt Nam (diễn ra từ ngày 24 đến 29/7/2006), dựa trên các nguồn tin thận cận của giới ngoại giao Mỹ, qua một công điện ngoại giao gởi về Washington D.C. mà Wikileaks tung ra gần đây. (Diễn đàn X-CafeVN ngày 6/10/2011: Hồ Sơ Wikileaks: Bộ Chính trị coi Trung ương Ðảng như ‘con nít’ [http://www.x-cafevn.org/node/2611?s=047fef415d8cc2bd5def7a4e002d748a]).
8 Báo Tuổi Trẻ ngày 21/6/2007: Vụ án đất ở Đồ Sơn: Đổ lỗi cho nhau (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/206702/Vu-an-dat-o-Do-Son-Do-loi-cho-nhau.html).
9 Báo Lao Động ngày 25/10/2010: Tổng Thanh tra CP: Việt Nam nhiều “tham nhũng vặt” (http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tong-Thanh-tra-CP-Viet-Nam-nhieu-tham-nhung-vat/17900).
10 Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
11 Báo Công An Tp Hồ Chí Minh ngày 7/7/2011: Tình trạng khiếu kiện vượt cấp vẫn còn phổ biến (http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p=&id=344496).
12 Báo VnExpress ngày 17/5/2011: 'Ngại va chạm thì đừng ứng cử vào Quốc Hội' (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/05/ngai-va-cham-thi-dung-ung-cu-vao-quoc-hoi/).
13 Báo Người Lao Động ngày 23/10/2011: Còn nhẹ tay với tham nhũng (http://nld.com.vn/20111022104955169p0c1002/con-nhe-tay-voi-tham-nhung.htm).
14 Dự thảo Luật Tố cáo quy định cơ quan thông tin báo chí khi nhận được tố cáo thì phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết”, điều này sẽ ngăn trở sự tham gia của báo chí trong việc phòng chống tham nhũng; ngoài ra, việc không thừa nhận hình thức tố cáo qua email, điện thoại và fax lại mâu thuẫn với quy định trong Luật Phòng chống tham nhũng.
15 Báo Vietnamnet ngày 25/10/2011: Chấp nhận hay bỏ qua email tố cáo? (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/45294/chap-nhan-hay-bo-qua-email-to-cao-.html).
16 Báo Dân Trí ngày 12/10/2011: Chấp nhận hình thức tố cáo qua email, điện thoại
17 Báo Dân Trí ngày 28/10/2010: “Chống tham nhũng ở Việt Nam giống văn học hiện thực phê phán” (http://dantri.com.vn/c20/s20-432847/chong-tham-nhung-o-viet-nam-giong-van-hoc-hien-thuc-ph234-ph225n.htm).
18 Báo Vietnamnet ngày 28/10/2011: Vận nước! (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-28-phat-ngon-tuan-viet-nam-van-nuoc).   


Bài đã đăng trên Dân Luận ngày 2/11/2011 (http://danluan.org/node/10456); đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 3.11.2011 (http://boxitvn.blogspot.com/2011/11/su-bat-luc-cua-trung-uong-su-vo-hieu.html)