Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Thư trả lời ông Phạm Phú Thiện Giao - Trưởng ban Việt ngữ VOA

Kính gửi: Ông Phạm Phú Thiện Giao - Trưởng ban Việt ngữ VOA
Trước hết, tôi cám ơn ông vì cuối cùng ông đã hồi âm cho tôi. Tuy nhiên, chưa kịp vui mừng thì những dòng chữ đầu tiên của ông đã dội cho tôi một gáo nước lạnh, vì ông viết: “Tôi tình cờ đọc được entry ngày 14 tháng Giêng, 2018 trên trang Facebook của anh, tựa đề ‘Trưởng Ban VOA Việt Ngữ hay An Ninh Cộng Sản?’”

Thưa ông, entry trên Facebook đó tôi đăng sau khi đã gửi bức thư với cùng nội dung cho ông và một số người khác trong VOA Tiếng Việt mà tôi biết địa chỉ email cũng như cho email group của Hội Nhà báo Độc lập và của một loạt cơ quan truyền thông nhà nước. Một vài người đã hồi âm cho tôi, nghĩa là ông đã nhận được nó ít nhất là từ trước khi ông “tình cờ” nhìn thấy nó trên trang Facebook của tôi.  

Trong thư ông bày tỏ nỗi “băn khoăn” là “liệu chúng ta có còn niềm tin và sự tin cậy cần thiết” hay không? Câu trả lời dứt khoát của tôi là KHÔNG, vì ít nhất 5 lý do sau:
Thứ nhất, đó là lý do mà tôi đã nêu ở trên. Tôi gửi email cho ông vào sáng 14/1, đến tối 16/1 tôi gửi bài mới cho VOA Tiếng Việt và ông đã nhận được, vậy mà trong bức thư ông gửi tôi sáng 17/1 ông lại nói là ông chỉ “tình cờ” đọc được bức thư ấy trên Facebook của tôi, trong khi một số trang mạng cũng đã đăng tải bức thư ngay sau đó. Làm sao tôi có thể tin một người dối trá đến mức trơ trẽn như vậy.
Thứ hai, sau những gì ông đã đối xử với các bài viết của tôi thì hẳn ai cũng hiểu đó là sự phá hoại, chứ không phải là biên tập, và là một sự phá hoại có hệ thống. Chẳng ai lại có thể ngu xuẩn đến mức đặt niềm tin vào một người đối xử với những đứa con tinh thần của mình như thế cả.
Thứ ba, trong bức thư nhan đề “Trưởng ban VOA Việt ngữ hay an ninh cộng sản?” mà tôi đã công bố công khai, tôi đã nêu cụ thể 4 bài viết gần nhất của tôi mà ông loại bỏ (trước đó chưa tính). Vậy mà ông lại chỉ chuyển mỗi 1 bài cho 3 biên tập viên khác xem và cho ý kiến? Thế có nghĩa là sao? Tại sao 3 bài kia ông không chuyển cho họ xem?
Nhân đây, tôi cũng gửi cho ông bức thư nhan đề “Những trò phá hoại nhằm vào Blog Lê Anh Hùng trên VOA” mà tôi đã gửi cho bà Judy Nguyen, cựu Trưởng ban VOA Việt ngữ, ngày 17/6/2016. Tôi muốn nhắc lại rằng, tình trạng blog Lê Anh Hùng trên VOA bị phá hoại đã diễn ra từ lâu, nhưng lúc đó vì thủ phạm phá hoại mới chỉ ở tầm nhân viên và đặc biệt là vì tôi tin tưởng bà Judy Nguyen nên tôi đã gửi thư riêng cho bà. Còn bây giờ thủ phạm lại chính là đương kim Trưởng ban VOA Việt ngữ thì tôi không còn cách nào khác là buộc phải công khai vụ việc.
Làm sao có thể có sự khách quan nếu 3 nhân viên kia hoặc là những người từng có “thành tích” phá hoại blog của tôi, hoặc do ông mới đưa vào Ban Việt ngữ VOA?
Dù vậy, tôi cũng xin lưu ý rằng bài “Vì sao ông Trần Đại Quang ‘đánh trống bỏ dùi’ vụ Formosa Hà Tĩnh?” đó là một trong những bài mà chính ông đã gợi ý cho tôi trong một bức thư mà tôi dẫn dưới đây: “Giao đề nghị anh cứ quay lại như cách ngày xưa, nhìn những việc lớn, biết những thông tin phía sau, và dựa trên đó bình luận.”
Thứ tư, ngay từ khi biết tin ông về làm Trưởng ban VOA Việt ngữ là tôi đã cảm thấy lo ngại rồi, bởi những tai tiếng về ông cũng như tờ Người Việt giai đoạn ông làm chủ bút đầy rẫy trên không gian mạng. Họ còn công khai vạch mặt ông là một tên “Việt gian” kia mà, và những bằng chứng họ đưa ra đơn giản là không thể bác bỏ. Tôi “phản hồi tích cực” trong vài email với ông chẳng qua là vì tôi không muốn gây căng thẳng với người đang xét duyệt bài của mình thôi, chứ điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tôi tin ông.
Thứ năm, không phải mới gần đây, mà ông đã từng viện những lý do hết sức lố bịch để biện minh cho việc loại bài của tôi. Tôi xin dẫn ra đây lý do ông loại bài “Chuyện một ‘sư oan’ ở Tiền Giang” mà tôi gửi cho ông ngày 26/7/2017, cũng như phản hồi của tôi mà qua đó độc giả có thể tự tìm cho mình câu trả lời là phản hồi đó có “tích cực” hay không cũng như vì sao ông lại loại bài viết mà Việt Nam Thời Báo sau đó đã đăng (“tự do tôn giáo” là một chủ đề rất “nhạy cảm” với nhà cầm quyền Việt Nam):


Thưa ông Phạm Phú Thiện Giao,
Ban đầu, trong bức thư “Trưởng ban VOA Việt ngữ hay an ninh cộng sản?” mà tôi đã công bố, tôi dự định tuyên bố đơn phương ngừng cộng tác với VOA Tiếng Việt. Nhưng sau đó tôi đã suy nghĩ lại, vì mấy lẽ sau:
1) Tôi ký hợp đồng với BBG (Broadcasting Board of Governors) của chính phủ Mỹ, chứ không phải ký với cá nhân ông;
2) Nếu tự ngưng hợp đồng với BBG thì tôi không chỉ tự cắt cây cầu của mình với VOA Tiếng Việt, trang mạng mà tôi đã coi như một phần máu thịt của mình, mà còn tự loại mình ra khỏi cuộc chiến vì quyền tự do ngôn luận của bản thân, vì tương lai của VOA Tiếng Việt, và xa hơn nữa là vì lợi ích của mối quan hệ Việt - Mỹ.
(Nhân đây, tôi cũng rất mong ai đó giúp tôi chuyển ngữ các bức thư này sang Tiếng Anh để tôi gửi cho lãnh đạo BBG và VOA. Đây rõ ràng là một vấn đề nghiêm trọng, liên quan đến an ninh quốc gia của nước Mỹ.)
Ngoài những gì tôi đã nêu trên, bức thư của ông còn thể hiện thái độ thiếu trung thực ở những điểm dưới đây:
1) Ông viết rằng “khi tiếp nhận công việc tại VOA Tiếng Việt, duyệt xét danh sách cộng tác viên, tôi là người quyết định giữ anh lại”. Thưa ông, hợp đồng đầu tiên tôi ký với BBG có hiệu lực từ ngày 1/3/2016 đến ngày 31/8/2017, nên việc tôi vẫn tiếp tục hợp đồng đó sau khi ông đến VOA Tiếng Việt không phải là do ông quyết định, mà do hợp đồng của tôi với BBG vẫn còn hiệu lực.
2) Hợp đồng đầu tiên của tôi ban đầu cũng theo khung 8 bài/1 tháng, chính tôi chủ động đề nghị khung 4 bài. Vì thế, khi đề nghị gia hạn hợp đồng, việc tôi đề nghị nâng số bài từ 4 lên 8 là điều bình thường. Việc tôi được VOA gia hạn hợp đồng trước hết là nhờ chất lượng bài vở của tôi trong hợp đồng trước cũng như quá trình hợp tác hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện của tôi với VOA Tiếng Việt từ tháng 7/2013 đến tận tháng 2/2016. Nếu mới gia nhập VOA mà ông không có lý do chính đáng để loại bỏ cây bút đối lập mạnh mẽ nhất đang sống trong lòng chế độ độc tài cộng sản Việt Nam thì người ta buộc phải nghi ngờ động cơ của ông.
3) Ông viết rằng “tôi là người quyết định tăng số bài viết của anh, từ 4 thành 8 bài mỗi tháng” trong khi những hình ảnh dưới đây lại cho thấy điều ngược lại:


Tóm lại, vấn đề của VOA Tiếng Việt đã được tôi phát hiện ra từ lâu, tuy nhiên lúc đó nó chưa thực sự nghiêm trọng. Tuy nhiên, kể từ khi ông Phạm Phú Thiện Giao, cựu chủ bút Người Việt, về làm Trưởng ban thì vấn đề của VOA Tiếng Việt đã trở nên trầm trọng, không chỉ qua những gì mà tôi đã trình bày, mà độc giả có thể nhận thấy điều đó qua các bài vở được vị tân Trưởng ban chỉ đạo đăng tải thời gian gần đây.
Một mình tôi xem ra khó đủ sức đương đầu lại với họ. Do vậy, tôi rất mong nhận được sự hỗ trợ của các thành viên VOA tâm huyết và trách nhiệm, cũng như quý độc giả của VOA Tiếng Việt, vì quyền tự do ngôn luận, vì tương lai của VOA Tiếng Việt, và vì lợi ích của mối quan hệ Việt - Mỹ.
Rất mong sớm nhận được hồi âm của ông Phạm Phú Thiện Giao.
Trân trọng!
Hà Nội, ngày 17/1/2018
Lê Anh Hùng

Mobile Phone: 01292091829 Email: leanhhung2020@gmail.com


Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Trưởng ban VOA Việt ngữ hay an ninh cộng sản?

Kính gửi:      
  • Ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ
  • Quý vị độc giả và những người quan tâm
Kính thưa quý vị!
Thông qua sự giới thiệu của Luật sư Vũ Đức Khanh ở Canada, tôi bắt đầu cộng tác với Ban Tiếng Việt của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – cơ quan truyền thông chính thức của chính phủ Hoa Kỳ – từ tháng 7 năm 2013. Từ đó cho đến tháng 3/2016, tôi đều đặn đóng góp bài vở cho chuyên mục Diễn Đàn (trước kia là Bạn Đọc Làm Báo) của VOA Tiếng Việt trên tinh thần tự nguyện.
Bắt đầu từ tháng 3/2016, tôi được Ban Biên tập VOA Tiếng Việt ký hợp đồng viết blog cho Đài (blog Lê Anh Hùng trên VOA ở địa chỉ https://www.voatiengviet.com/author/23311.html). Theo hợp đồng, mỗi tháng tôi viết 4 bài cho VOA, nhuận bút mỗi bài là 100$, thời hạn hợp đồng 1 năm rưỡi.

Đến tháng 9/2017, tôi được tái ký hợp đồng, với khác biệt duy nhất là theo hợp đồng mới, mỗi tháng tôi viết 8 bài cho VOA. (Ban đầu, hợp đồng cũ của tôi cũng theo khung 8 bài, nhưng vì mới ký hợp đồng viết lách chuyên nghiệp lần đầu nên tôi đề nghị chuyển sang khung 4 bài.)
Nhìn chung các bài viết của tôi trên VOA Tiếng Việt đều được độc giả quan tâm, đón nhận; gần như bài nào cũng được các trang mạng độc lập uy tín đăng lại; phần lớn các bài đều rơi vào nhóm “Bài được xem nhiều nhất” của VOA.

Ông Vinh Nguyễn, người gửi email trên cho tôi, nguyên là Trưởng ban VOA Việt ngữ
giai đoạn 2007-2010.
Việc tôi cộng tác với VOA nằm trong quãng thời gian VOA Tiếng Việt nằm dưới sự điều hành của 3 vị Trưởng ban là bà Judy Nguyen (từ 7/2013 đến 8/2016), ông Đỗ Hải (từ 8/2016 đến 1/2017) và ông Phạm Phú Thiện Giao (từ 1/2017 đến nay). Nếu tính cả ông Vinh Nguyễn, Trưởng ban VOA Tiếng Việt giai đoạn 2007-2010, người sau khi về hưu vẫn phụ trách biên tập trang Blog và mục Diễn đàn và trực tiếp biên tập bài của tôi cho đến tháng 4/2017, thì tôi đã vinh dự được làm việc với 4 vị Trưởng ban VOA Tiếng Việt.
Quãng thời gian từ khi tôi bắt đầu cộng tác với VOA Tiếng Việt cho đến tháng 4/2017, thời gian mà các bài của tôi do cô Stephanie Tu và đặc biệt là ông Vinh Nguyễn biên tập, tất cả các bài viết của tôi gửi đến đều được đăng tải. Các bài viết đều trải qua khâu biên tập, nhưng hầu như không đáng kể, bởi những ai đọc bài của tôi hẳn đều thấy là tôi viết lách rất cẩn thận, từ việc dẫn nguồn dữ liệu cho bài viết cho đến từng dấu chấm, dấu phẩy trong bài.
Tuy nhiên, từ tháng 4/2017 đến nay lại xẩy ra nhiều chuyện rất khó giải thích liên quan đến các bài viết của tôi. Đây là thời gian mà ông Vinh Nguyễn mắc bệnh rồi mất và các bài viết của tôi được vị tân Trưởng ban VOA Tiếng Việt trực tiếp biên tập và xét duyệt. (Chính ông Phạm Phú Thiện Giao đã cho tôi biết như vậy.) Kể từ đấy, các bài viết của tôi không còn có thể xem là “được biên tập” nữa, mà chính xác hơn là “bị can thiệp”, và bị can thiệp một cách thô bạo, đến mức không thể hiểu nổi. (Những gì tôi nêu ra đây đều có hình ảnh làm bằng chứng.)
Điển hình cho việc bài viết của tôi bị can thiệp một cách thô bạo là bài “Thế lực nào ngăn cản trả nhà ông bà Trịnh Văn Bô”. Bài viết đã được “biên tập” bằng cách thêm vào cả một đoạn dài (mà tôi không hề gửi cho VOA) dưới đây:
Còn bà Trịnh Văn Bô, mặc dù phải liều chết mới lấy lại được ngôi nhà thân yêu của mình, nhưng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5/11 vừa qua, vẫn chưa được chính quyền cấp sổ đỏ.Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.ang Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.Đến nước cuối cùng, tháng 10/2003, họ mới quyết làm liều. Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà (lúc này đã 90 tuổi già yếu) liều đột nhập vào ngôi nhà, mang "Bằng khoán điền thổ" gốc trưng ra, với dải lụa mang dòng chữ "Vui mừng trở về ngôi nhà cũ", kèm theo một can xăng đầy để liều sống chết với lũ cướp cộng sản.
Bài “Vũ đi liệu Vũ có về?” là một ví dụ khác. Nó bị can thiệp nhiều đến mức gần như bị biến tướng, đặc biệt là những thông tin giúp phơi bày bộ mặt nhơ nhuốc của bộ máy an ninh cộng sản Việt Nam đều bị cắt bỏ. (Xin đối chiếu với bài gốc của tác giả ở đây https://goo.gl/tyQiza, hoặc ở đây https://goo.gl/wSpCPc.)
Bài cuối cùng của tác giả trên blog VOA cũng vậy. Nhan đề bài gốc là “‘Biến đối tượng thành đối tác’: sai lầm chiến lược hay mưu đồ bán nước của CSVN?”, nhưng khi đăng trên VOA thì nó đã trở thành “Nguy hiểm chết người khi ‘biến đối tượng thành đối tác’”. Hai câu cuối cùng của bài gốc là “Không còn nghi ngờ gì, chủ trương biến đối tượng thành đối tác trên thực tế đã trở thành chủ trương ‘cõng rắn cắn gà nhà’, ‘rước voi về dày mả tổ’. Và nếu không phải là mưu đồ bán nước thì đó cũng là sai lầm chiến lược vô cùng nguy hiểm của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam.” đã được “biên tập” thành một câu là “Không còn nghi ngờ gì, chủ trương biến đối tượng thành đối tác trên thực tế đã trở thành sai lầm chiến lược vô cùng nguy hiểm của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam.”  
Chưa dừng lại ở đó, điều thậm chí còn khó hiểu hơn nữa là những bài viết “nhạy cảm”, đụng chạm đến bộ máy an ninh hay các ông trùm an ninh thì lại bị loại bỏ thẳng tay mà tác giả không hề nhận được một câu giải thích:
  1. Sự nhân đạo của một hệ thống tội ác – do Việt Nam Thời Báo đăng ngày 11/1/2018 https://goo.gl/KhqeL5 (bài này tôi gửi cho VOA ngày 3/1/2018 nhưng không được đăng).
  2. Có nên hợp tác với cơ quan an ninh? – do Việt Nam Thời Báo đăng ngày 6/1/2018  https://goo.gl/FrMnUm (bài này tôi gửi cho VOA ngày 22/12/2017).
  3. Bộ Chính trị có nguỵ tạo một cuộc họp quan trọng? – do Việt Nam Thời Báo đăng ngày 26/12/2017  https://goo.gl/ipMUvj (bài này tôi gửi cho VOA ngày 12/12/2017).
  4. Bài “Vì sao ông Trần Đại Quang ‘đánh trống bỏ dùi’ vụ Formosa Hà Tĩnh” mà tôi gửi từ hôm 5/1 cũng chưa được đăng, mà lý do có lẽ là vì tôi đã nêu rõ trách nhiệm của cựu Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang (cũng như cả bộ máy an ninh cộng sản Việt Nam) đối với đại hiểm hoạ quân sự - kinh tế - môi trường mang tên Formosa Hà Tĩnh cùng vô số thảm hoạ khác mà “nhóm lợi ích Tàu” do Hoàng Trung Hải cầm đầu đã và đang gây ra cho Việt Nam.
(Một bài đề cập đến công an Việt Nam được đăng là “Ông Trọng đã nắm được công an chưa?”, nhưng đây lại là bài viết có lợi cho lực lượng an ninh cộng sản.)
Độc giả thậm chí có thể phải đặt dấu hỏi về sự logic trong tư duy của tôi khi gặp phải những câu như: “Nói ‘chừng nào’ là bởi Nguyễn Phú Trọng không phải không có ‘tử huyệt’ mà chỉ là do ‘tử huyệt’ của ông ta quá ư nhạy cảm, nhạy cảm đến mức đủ sức xô đổ cả hệ thống: đó là Hoàng Trung Hải, kẻ quá thân với Bắc Kinh” trong bài “Tử huyệt’ của Nguyễn Phú Trọng ở đâu?”. (Trong khi đó, nhan đề bài viết gốc là “Vì sao Nguyễn Phú Trọng quyết bắt Đinh La Thăng?”, còn câu văn gốc là: “Nói ‘chừng nào’ là bởi Nguyễn Phú Trọng không phải không có ‘tử huyệt’ mà chỉ là do ‘tử huyệt’ của ông ta quá ư nhạy cảm, nhạy cảm đến mức đủ sức xô đổ cả hệ thống: đó là Hoàng Trung Hải, nhân vật cầm đầu ‘nhóm lợi ích Tàu’ tại Việt Nam suốt bao năm qua.” Xin lưu ý, tôi luôn khẳng định Hoàng Trung Hải là người Hán trá hình, “con ngựa thành Troy”, hay kẻ cầm đầu “nhóm lợi ích Tàu” ở Việt Nam. Có độc giả đã thắc mắc với tôi là tại sao lại cho rằng Hoàng Trung Hải chỉ đơn giản là một kẻ “quá thân với Bắc Kinh” – nếu chỉ vậy thì sao Hoàng Trung Hải đáng được xem là “tử huyệt” của Nguyễn Phú Trọng, một kẻ vốn dĩ đã không thèm che dấu lập trường thân Tàu?)
Nói ra sự thật như thế này, tôi có thể sẽ phải trả giá bằng việc bị chấm dứt hợp đồng, dù những gì tôi nêu lên là không thể bác bỏ. Nhưng im lặng là điều mà lương tâm tôi không cho phép. Tôi thà chết đói chứ không thể bẻ cong ngòi bút, hay chấp nhận thực tế các bài viết của mình tiếp tục bị can thiệp theo cách không thể giải thích nổi như trên. Tôi nghĩ không chỉ tôi mà bất cứ cây bút chính trực nào cũng sẽ chọn cách ứng xử như tôi.

Chủ bút Phạm Phú Thiện Giao của  báo Người Việt từng cho đăng những bài như thế. 
Tôi không tin là sự phản hồi qua kênh nội bộ sẽ giải quyết được vấn đề mang tính hệ thống như thế này nên buộc lòng phải lên tiếng công khai. Rất mong các thành viên Ban Việt ngữ VOA thông cảm và chia sẻ. Đây cũng là trách nhiệm của tôi đối với VOA Tiếng Việt, bởi nó đã trở thành một phần máu thịt của tôi.
Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất của mình đối với VOA Tiếng Việt. Dù thế nào đi nữa thì cũng không thể phủ nhận được thực tế là suốt gần 5 năm qua, VOA Tiếng Việt đã dành cho tôi một diễn đàn đặc biệt hiệu quả để cất lên tiếng nói của mình trong cuộc chiến chống lại bè lũ cướp nước và bán nước, đồng thời qua đó thúc đẩy mối quan hệ Việt - Mỹ cũng như lợi ích của Mỹ ở Việt Nam. Điều này quả thực là vô cùng ý nghĩa, không chỉ với riêng cá nhân tôi, mà với cả công cuộc “thoát Trung” và dân chủ hoá xã hội của Việt Nam.
Tôi chưa bao giờ khẳng định các bài viết của mình là “mẫu mực” hay “toàn bích”. Sự biên tập lúc nào cũng cần thiết, chỉ có điều đó không phải là kiểu “biên tập” như tôi đã trình bày trên đây. (Được biết, trước khi trở thành Trưởng ban Việt ngữ VOA, ông Phạm Phú Thiện Giao là chủ bút báo Người Việt, một tờ báo với nhiều tai tiếng về khuynh hướng “thân cộng” và bị nhiều cộng đồng người Việt tại Mỹ tẩy chay.)
Ở Việt Nam, những người lên tiếng mạnh mẽ trước các vấn đề của xã hội và đất nước thường bị nhà cầm quyền bao vây về kinh tế, trong khi tôi lại là đối tượng mà các thế lực hắc ám luôn tìm mọi cách thức bẩn thỉu nhất để bịt miệng. (Trong bản phúc trình thường niên năm 2014 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Lê Anh Hùng là cái tên đầu tiên trong danh sách những người bị nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền năm 2013.)
Nếu bị VOA chấm dứt hợp đồng, tôi sẽ gần như thất nghiệp. Mặc dù tôi còn một lựa chọn khác là gửi bài cho trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, song chế độ nhuận bút của VNTB lại hết sức khiêm tốn, mà không phải bài nào họ cũng dám đăng, nhất là khi các bài viết của tôi lại thường rất “nhạy cảm” và đụng chạm. Chẳng hạn, khi tôi tham khảo Ban Biên tập VNTB về bài “Vì sao ông Trần Đại Quang ‘đánh trống bỏ dùi’ vụ Formosa Hà Tĩnh” thì được hồi âm: “Bài này ‘nhạy’ quá, khó đăng Hùng à.”
Trong khi đó, để gây áp lực với tôi, những kẻ bị tôi tố cáo đã nhiều lần cướp đoạt điện thoại, tiền bạc và tài sản của cô Lê Thị Phương Anh, vợ cũ và là người đang nuôi những đứa con còn thơ dại của tôi. Họ còn phá hoại việc làm ăn, hành hung và cướp cả chứng minh nhân dân của cô. Khi cô đi làm lại CMND thì họ cứ lần lữa, viện đủ lý do để không cấp. Thậm chí, dịp sinh nhật con gái đầu lòng vào ngày 2/11/2017 vừa qua, tôi không thể vào Đông Hà với con. Vợ cũ của tôi cầu xin tôi đừng vào, bởi không muốn lại bị chúng cướp phá.
Trong trường hợp không thể đấu tranh bằng ngòi bút, tôi sẽ phải lựa chọn hình thức khác, dù có thể cực đoan, để tiếp tục đánh động dư luận và ngăn chặn bàn tay tội ác của bè lũ cướp nước và bán nước do cặp bài trùng Hoàng Trung Hải - Nguyễn Phú Trọng cầm đầu, điều tôi luôn tâm niệm là “sứ mạng” mà số phận đã run rủi “phó thác” cho mình trong cuộc đời này.
Một lần nữa, xin chân thành cám ơn VOA Tiếng Việt cũng như toàn thể quý vị độc giả đã dành cho tôi sự quan tâm, chia sẻ và khích lệ trong suốt những năm qua.
Nhân dịp năm mới, xin kính chúc quý vị một năm 2018 tràn đầy sức khoẻ, hạnh phúc và thành công!
Hà Nội, ngày 14/1/2018
Lê Anh Hùng

Mobile Phone: 01292091829 Email: leanhhung2020@gmail.com
Skype: lehunglpa

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Sự nhân đạo của một hệ thống tội ác

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 11.1.2018


Chế độ cộng sản Việt Nam vẫn thường tự cho mình là “đạo đức”, là “văn minh”, là thuộc về “nhân loại tiến bộ”, và đặc biệt là rất “nhân đạo”.
Nắm trong tay ngót một nghìn cơ quan báo và tạp chí cùng hệ thống truyền thanh và truyền hình quốc gia, bộ máy tuyên truyền của đảng luôn dành một tỷ lệ trang, bài hay thời lượng lớn hầu tô điểm cho bộ mặt nhân đạo của chế độ. Bản tin “Cậu bé mồ côi thành tiến sỹ” trong chương trình thời sự VTV 19h ngày 27/12/2017 là một trong muôn vàn ví dụ như thế.
Đó là một phóng sự dài hơn 3 phút, từ phút 38 đến phút 41, về chuyện một cậu bé học sinh dân tộc Tày 5 tuổi mồ côi bố, 7 tuổi mồ côi mẹ, được nuôi dạy trong một trường dân tộc nội trú của một tỉnh miền núi phía bắc trước khi trở thành một phó giáo sư - tiến sỹ triết học.

Trước ống kính truyền hình, vị PGS.TS không giấu nổi xúc động khi bày tỏ suy nghĩ của mình: “Nhờ có chính sách dân tộc mà mình được đi học, được chăm sóc, được trưởng thành, và cũng vì lẽ đó mà công ơn với cha mẹ là mình gửi gắm ở Đảng và Nhà nước. Và đúng là cha mẹ mình gửi lại mình cho Đảng và Nhà nước, cho thầy cô.”

PGS.TS ngành triết học Vi Thái Lang
Không quên những tháng ngày đau thương, khó khăn thiếu thốn khi xưa, cậu bé mồ côi nay đã trở thành thầy giáo vẫn trích một phần lương hàng tháng để giúp đỡ những học trò nghèo quê mình.
Chứng kiến cảnh tượng vị PGS.TS dâng trào cảm xúc cùng những giọt nước mắt, có lẽ nhiều người không khỏi xúc động, bởi những gì mà clip thể hiện là tình cảm đích thực của nhân vật. (Một diễn viên lão luyện cũng khó mà đóng được như thế chứ đừng nói là một người Tày chân chất như ông.) Và hình ảnh một trí thức hoa niên khóc ngon lành trước ống kính truyền hình trong chương trình thời sự của đài truyền hình quốc gia chính là “điểm nhấn” của bản tin. Những người làm chương trình rõ ràng là muốn qua đó để phát đi thông điệp: Chế độ cộng sản ở Việt Nam nhân đạo như thế đấy, ưu việt như thế đấy!
Vị PGS.TS ấy là thượng tá Vi Thái Lang, Trưởng khoa Triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Công an Nhân dân. Điều đó có nghĩa là, công việc hàng ngày của nhà giáo Vi Thái Lang bao năm qua – một công việc mà ông coi như là cách để báo hiếu cha mẹ hay đúng hơn là để đền đáp công ơn của Đảng và Nhà nước – là gieo vào đầu óc còn như trang giấy trắng của nhiều thế hệ học viên công an niềm tin về một chủ thuyết ngoại lai đã bị vứt vào sọt rác ngay trên chính quê hương của nó, thứ mà thậm chí người đứng đầu Đảng CSVN hiện nay cũng không biết là liệu đến hết thế kỷ này đã xuất hiện ở Việt Nam chưa, trong khi một vị bộ trưởng thì huỵch toẹt luôn là “làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.
Và rồi từ những kiến thức bị nhồi sọ về thứ chủ nghĩa không tưởng và phi nhân đó, những học viên công an kia – mà nhiều trong số họ là đối tượng của những chính sách “nhân đạo” như “con em trong ngành” – sẽ trở thành công cụ bạo lực của chế độ, thẳng tay trấn áp bất kỳ tiếng nói nào của lương tri, của lí trí trái với chủ thuyết ấy.
Buồn thay, người thầy với tấm lòng nhân hậu đó chưa ngộ ra được một sự thật là ông đã bị biến thành công cụ tội ác của chính cái hệ thống mà ông vẫn đang hết lời ca ngợi về tính “nhân đạo” của nó.
<><><> 
Người Việt vốn có truyền thống “nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”... Thế nên cứ mỗi khi một vùng nào đó bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn… là người Việt trong và ngoài nước lại kẻ ít người nhiều chung tay cứu giúp những đồng bào ruột thịt đang trong cơn hoạn nạn.
Vậy nhưng, trớ trêu thay, tình trạng ăn chặn hàng cứu trợ lại đang trở thành một thứ bệnh dịch lây lan khắp xã hội Việt Nam.

Nguyên do của thực trạng trên tưởng không có gì khó hiểu. Để thể hiện bản chất “nhân đạo” của chế độ, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/5/2008 quy định về việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp hỗ trợ nhân đạo.
Theo đó, hoạt động cứu trợ nhân đạo, từ việc kêu gọi, vận động đến việc tiếp nhận và phân phối hàng cứu trợ gần như hoàn toàn bị chính quyền kiểm soát thông qua hai hệ thống từ trung ương xuống đến xã phường là Mặt trận Tổ quốc và Hội Chữ thập đỏ. Ngoài các cơ quan truyền thông đại chúng ra, các quỹ xã hội hay quỹ từ thiện muốn tham gia đều buộc phải có giấy phép thành lập quỹ, như Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 (trước đó là Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007) đã quy định. Khoản 3 Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP còn nêu rõ là “Ngoài các tổ chức, đơn vị nêu trên, không một tổ chức, đơn vị, cá nhân  nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ.”
Nghĩa là, hoạt động cứu trợ nhân đạo nếu không muốn bị gây khó dễ hay thậm chí là bị ngăn chặn thì phải thông qua hệ thống công quyền – một “cỗ máy tham nhũng” theo đúng nghĩa, bởi nó là tập hợp của những kẻ sẵn sàng “ăn của dân không từ một thứ gì”.
<><><> 
Trong câu chuyện nhiều kỳ “Trường cai nghiện”, tác giả Bạch Cúc – nguyên là một quản giáo của trường – đã vẽ nên một bức tranh hiện thực sinh động và khá đầy đủ bên trong một trung tâm cai nghiện ở Lâm Đồng. Tại đây, hàng nghìn nam nữ nghiện ngập – những người vốn dĩ đã là nạn nhân của hệ thống pháp luật kiểu cộng sản, khi họ luôn dễ dàng tìm được nguồn cung ma tuý ngoài xã hội – đã bị bắt và tống vào trại mà không thông qua bất kỳ một thủ tục tư pháp đúng nghĩa nào, thậm chí phải sau một thời gian gia đình họ mới được báo tin.  

Đột nhiên rơi vào cảnh bị giam cầm và đặc biệt là bị tước đoạt gần như tất cả các quyền cơ bản của một con người bình thường, học viên nào cũng tìm mọi cách trốn trại, dù không một ai thành công. “Khi bị bắt trở lại, họ cho hay là họ sẵn sàng bất chấp sinh mạng để hy vọng tìm được tự do. Họ không thể chịu đựng nổi một cuộc sống giam hãm, lay lắt, chết dần chết mòn trong kìm kẹp, thiếu thốn và tuyệt vọng!”
Ngoại lệ duy nhất là một học viên nữ xinh đẹp. Song cô gái tên là Dung ấy đã chấp nhận chết trong căn chòi lá của một người đàn ông dân tộc giữa núi rừng Tây Nguyên, mang theo xuống tuyền đài mối tình câm lặng, đơn phương và ngang trái, chứ dứt khoát không trở về trại để được hưởng sự “nhân đạo” của đảng và nhà nước.  
<><><> 
Để kết thúc bài viết, xin mượn lời của một gương mặt điển hình trong hệ thống – Thiếu tướng Lê Kiên Trung, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, con trai của nhân vật từng đứng đầu chế độ CSVN suốt 26 năm – khi ông ta thản nhiên bình luận: “…Và thay vì một cuộc tắm máu như báo chí nước ngoài đã dự đoán trước giải phóng, những người thuộc chính quyền cũ chỉ bị đưa đi cải tạo, giáo dục” (!!!).
Suy cho cùng, cây độc thì không thể cho ra trái ngọt. Và với một hệ thống tội ác, sự nhân đạo của nó cũng là tội ác.

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

Có nên hợp tác với cơ quan an ninh?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo | 6.1.2018



LTS.
Chế độ CSVN còn được gọi là chế độ “công an trị”. Đâu đâu trong xã hội VN người ta cũng thấy sự hiện diện của công an, đặc biệt là an ninh cộng sản. Không chỉ ở VN mà trên thế giới cũng vậy, gần như ở đâu có cộng đồng người Việt là ở đó có bàn tay lông lá của an ninh cộng sản, kể cả trong các cơ quan truyền thông quốc tế có phân ban Tiếng Việt.
Trong bối cảnh nhà cầm quyền cộng sản đang tăng cường đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu những người cất lên tiếng nói của lương tri và lý trí trước thực trạng đất nước hiện nay, bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả những lựa chọn về cách ứng xử với lũ ma quỷ an ninh cộng sản, công cụ bạo lực bất nhân, vô đạo của bè lũ buôn dân bán nước Việt gian cộng sản.
Trân trọng,
Lê Anh Hùng

Việt Nam Thời Báo | “Làm việc với cơ quan an ninh” là một mệnh đề đã trở nên quá quen thuộc với giới bất đồng chính kiến, hay với bất cứ người Việt quốc nội nào cất lên tiếng nói của lương tri và lý trí trước những vấn đề của xã hội và đất nước.
Quen thuộc là vậy nhưng có lẽ đến tận bây giờ, hầu hết những ai bị cơ quan an ninh “mời” hay “triệu tập” lên làm việc vẫn còn phải cân nhắc rất thận trọng giữa việc hợp tác hay bất hợp tác với đại diện của chính quyền.
“Hợp tác” ở đây được hiểu là chấp hành giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan an ninh; sẵn sàng trả lời các câu hỏi của họ; thừa nhận mình là chủ nhân của các tài khoản Gmail, Facebook hay blog cá nhân và dĩ nhiên là những bài viết, phát ngôn hay bình luận đăng trên đó.
“Bất hợp tác” được hiểu là một hành vi “bất tuân dân sự”, không chấp hành giấy mời hay giấy triệu tập, và khi bị cưỡng chế đến “làm việc” với cơ quan an ninh thì sử dụng quyền im lặng, không trả lời các câu hỏi của họ, không thừa nhận hay phủ nhận việc làm hay lời nói cũng như các tài khoản mạng hay blog cá nhân là của mình.
Giữa “hợp tác” và “bất hợp tác” còn một hình thức thứ ba là hợp tác nửa vời. Tức là, người bị công an mời hoặc triệu tập giả vờ hợp tác với họ, sẵn sàng đến trụ sở công an để “làm việc”, trả lời một số câu hỏi “vô hại”, nhưng lại từ chối hoặc phủ nhận những gì “nhạy cảm” liên quan đến bản thân.
Vậy những người được cơ quan an ninh “mời” hoặc “triệu tập” nên hợp tác, bất hợp tác hay hợp tác nửa vời với họ?
“Đồng xu nào cũng có hai mặt.” Lựa chọn nào cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng. Từ kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân, dưới đây chúng tôi sẽ đánh giá ưu nhược điểm của từng cách thức ứng xử.
Hợp tác
Ưu điểm:
Lựa chọn thái độ hợp tác thể hiện sự “quang minh chính đại” của người đấu tranh. Theo nhà báo Nguyễn Vũ Bình, một người đấu tranh dân chủ kỳ cựu, việc công khai tên tuổi, địa chỉ khi viết bài hoặc khi thực hiện hoạt động đấu tranh và sẵn sàng thừa nhận điều đó nghĩa là người đấu tranh tin tưởng việc làm của mình là đúng, là chính nghĩa, không có gì phải che giấu, phải chối bỏ và hay nói dối. 
Nhược điểm:
(i) Người đấu tranh dễ tạo điều kiện cho các cơ quan tố tụng lập hồ sơ kết tội mình.
Chúng ta biết, ánh sáng của cuộc cách mạng Internet và cuộc cách mạng truyền thông xã hội đang từng ngày từng giờ xua tan bóng tối của quyền lực độc tài và phơi bày những sự thật trần trụi của chế độ cộng sản. Trong bối cảnh đó, bộ máy đàn áp của nhà cầm quyền CSVN không còn mù quáng và dễ sai khiến như trước kia. Vì thế, nếu trung thực với an ninh, người đấu tranh có thể đẩy các cơ quan tố tụng cũng như bản thân mình vào tình thế “án tại hồ sơ”.
(ii) “Mềm nắn rắn buông.” Khi thấy đối tượng tỏ ra “mềm”, cơ quan an ninh có thể sách nhiễu người đấu tranh bằng cách “mời” hoặc “triệu tập” bất cứ lúc nào họ muốn, khiến họ mất thời gian, tốn công sức rồi đi tới chỗ nản chí.
(iii) Khi làm việc với những người bất đồng chính kiến, an ninh thường “khích” những ai bất hợp tác hoặc hợp tác nửa vời bằng những câu như: “Hoá ra anh cũng chỉ là anh hùng bàn phím thôi à?” hay “Dám làm mà không dám nhận là hèn!”, v.v.
Vậy nhưng, những câu trả lời của họ sẽ được an ninh ghi vào “Biên bản lấy lời khai”. Tức là, lời nói của người bị thẩm vấn lúc này dù trung thực và khảng khái đến đâu đi nữa cũng bị coi là “lời khai” – một cụm từ đủ khiến bất kỳ một người chính trực nào cũng cảm thấy bị xúc phạm.
Chưa hết, khi một người bất đồng chính kiến bị bắt, thái độ trung thực, khảng khái của họ sẽ được “chuyển hoá” thành những câu như “Đối tượng đã phải khai nhận” hay thậm chí “đối tượng đã thành khẩn khai báo” trong hồ sơ vụ án. Hình ảnh hiên ngang của người đấu tranh sẽ bị các cơ quan tố tụng và bộ máy tuyên truyền cộng sản hạ thấp bằng những lời lẽ xuyên tạc như vậy.
Bất hợp tác
Ưu điểm:
(i) Gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng lập hồ sơ kết tội. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, điều này ít nhiều cũng giúp nhà đấu tranh tự bảo vệ mình, dù dĩ nhiên là không hoàn toàn đảm bảo rằng họ sẽ không bị bắt.
(ii) Không phải mất thì giờ nghĩ cách đối phó với cơ quan an ninh.
(iii) Tránh được việc cơ quan an ninh cứ hứng lên thì lại phát giấy mời hay giấy triệu tập, khiến mình mất thời gian, công sức.
Với giấy mời thì theo luật, người được mời có quyền từ chối chấp hành.
Với giấy triệu tập mà không ghi rõ là liên quan đến vụ án nào đã khởi tố, người bị triệu tập cũng có quyền từ chối vì trái luật.
Với giấy triệu tập liên quan đến một vụ án nhân quyền đã khởi tố, người bị triệu tập nêu lý do chính đáng: (a) Tôi đã phản đối vụ án đó nên tôi không có lý do gì phải chấp hành giấy triệu tập liên quan đến nó; (b) Bản chất hoạt động của tôi không giống như những gì được quy định tại Điều 258, Điều 88 hay Điều 79 Bộ luật Hình sự – những điều luật mà với tư cách công dân tôi đã phản đối – nên tôi không liên quan đến một vụ án nào như thế; (c) Những gì tôi đã và đang làm là quyền tự do cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp Việt Nam cũng như các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Tôi không có nghĩa vụ hay trách nhiệm phải trình bày với ai, càng không phải xin xỏ ai về các quyền bất khả xâm phạm đó. Ngoài ra, công dân không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội.
Nhược điểm:
Có thể khiến cho mối quan hệ với cơ quan an ninh trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, sự căng thẳng không cần thiết vẫn có thể giải toả được bằng những lý lẽ xác đáng như trên.
Lưu ý, bất hợp tác không có nghĩa là chúng ta tuyệt đối không nói chuyện gì với đại diện của chính quyền, đặc biệt là không tận dụng cơ hội để tuyên truyền, cảm hoá họ. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất sợ hiện tượng “tự diễn biến, tự chuyển hoá” lây lan trong bộ máy đàn áp, bởi một khi lực lượng này không còn sẵn sàng thực thi ý chí tội ác của cấp trên một cách mù quáng nữa thì hệ thống tự khắc sụp đổ.
Hợp tác nửa vời
Ưu điểm:
Cho phép người đấu tranh tỏ “thiện chí” hợp tác với cơ quan an ninh mà không rơi vào cảnh “lạy ông tôi ở bụi này”.
Nhược điểm:
(i) Dễ tạo điều kiện cho cơ quan an ninh dễ bề sách nhiễu, gây khó khăn cho mình bằng cách “mời” hay “triệu tập” mỗi khi họ muốn.
(ii) Dễ mắc “bẫy” của an ninh, bởi họ thường thuộc lòng những mánh khoé quỷ quyệt, trong khi người nói dối thì hay gặp cảnh “đường tắt hay tối, nói dối hay cùng”. Đặc biệt, khi cơ quan an ninh đưa ra những bằng chứng xác thực, như hình ảnh hay phim ảnh, nếu người đấu tranh vẫn cứ phủ nhận thì khó thuyết phục. Trong khi đó, nếu chúng ta chọn giải pháp im lặng ngay từ đầu thì không sao.
(iv) Vi phạm nguyên tắc đạo đức trung thực. Vẫn theo nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Việt Nam là một nạn nhân của quan điểm “mục đích biện minh cho phương tiện”. Những người đấu tranh vẫn thường xuyên lên án chính quyền cộng sản là dối trá, bịp bợm. Vậy nên, việc vi phạm nguyên tắc đạo đức trung thực là điều mà những người vẫn mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn nếu không tránh được khi phải đương đầu với bạo quyền thì cũng cần hạn chế tối đa, không nên coi đấy là chuẩn mực ứng xử và càng không nên tự hào về điều đó.
Kết luận
Phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam vốn dĩ là tập hợp của những thành phần đa dạng, mỗi người có một khả năng, trình độ, nhận thức và điều kiện khác nhau. Vì thế, mỗi người cần tự chọn cho mình cách ứng xử với cơ quan an ninh phù hợp nhất với hoàn cảnh và đặc biệt là mức độ dấn thân của mình.
Bản thân tôi trước kia từng chủ động tìm đến cơ quan công an để tố cáo một số vị lãnh đạo đảng và nhà nước. Tuy nhiên, sau khi nhận thấy mọi nỗ lực nhằm bảo vệ đất nước của mình đều hoài công, trong khi bản thân lại thường xuyên bị khủng bố, trả thù mà không được bảo vệ hay thậm chí là bị rình rập để chụp vào đầu những tội danh vu vơ, tôi không còn niềm tin vào lực lượng “chỉ biết còn đảng còn mình” nữa. Thế nên, tôi quyết định bất hợp tác với họ.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

'Biến đối tượng thành đối tác’: sai lầm chiến lược hay mưu đồ bán nước của CSVN?

Lê Anh Hùng | VOA| 2.1.2018



Cách đây hơn một tháng, một loạt tờ báo “lề đảng” đã đưa tin về một sự kiện đáng chú ý: Tàu container liên vận Việt Nam - Trung Quốc bắt đầu hoạt động.
Theo thông tin trên các tờ báo, đoàn tàu gồm 33 container 40 feet chứa các loại hàng hoá như nội thất văn phòng, thực phẩm, phụ tùng linh kiện ô tô... xuất phát từ Nam Xương, Giang Tây ngày 22/11 và đến ga Yên Viên, Hà Nội ngày 25/11. Sau khi đến Việt Nam, đoàn tàu quay về cùng các hàng hóa như nông sản, khoáng sản, sản phẩm điện tử... Việc tổ chức chạy tàu giúp rút ngắn thời gian vận chuyển từ 15 ngày bằng đường biển xuống còn 4 ngày; cước phí vận chuyển chỉ bằng một nửa so với đường bộ. Dự kiến, hai bên sẽ tiến hành chạy đều đặn với tần suất 1 chuyến/tuần, rồi nâng dần lên 3 chuyến/tuần.
“Ý đảng” trái “lòng dân”
Nếu sự kiện nói trên là bằng chứng cho thấy sự tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế láng giềng nào đấy thì chắc chắn đó là tin vui cho cả lãnh đạo lẫn nhân dân hai nước.  
Tuy nhiên, điều này lại không đúng với hai quốc gia “núi liền núi, sông liền sông” Việt Nam - Trung Quốc. Và trong khi một số cơ quan truyền thông nhà nước đưa tin về sự kiện này với thái độ hồ hởi (một số khác tỏ ra bình thản) thì công chúng Việt Nam lại đón nhận thông tin trên vừa bất ngờ, vừa không khỏi âu lo.

Vì sao vậy?
Câu trả lời tưởng không có gì khó hiểu. Đối với ban lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc là một đối tác như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, theo đường lối ngoại giao “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế.
Trong khi đó, đối với phần lớn người Việt, hai chữ Trung Quốc lại đồng nghĩa với hiểm hoạ, mà bằng chứng là từ lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước, cũng như từ những vấn nạn “made in China” trên khắp Việt Nam hiện nay. Nghĩa là với họ, Trung Quốc là một “đối tượng” cần thường xuyên đề cao cảnh giác.
Từ “bá quyền”, “xâm lược” đến “4 tốt”, “16 chữ vàng”
Mối quan hệ Việt - Trung dưới thời cộng sản cũng lúc thăng lúc trầm giống như lịch sử hàng ngàn năm trước. Dù vậy, bất kể mối quan hệ đó đang thăng hay trầm, nồng ấm hay lạnh nhạt thì thực tế không bao giờ thay đổi là: Trung Quốc không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính quốc gia láng giềng phương Nam – một “chân lý” đã được “kiểm nghiệm” qua hàng ngàn năm lịch sử.
“Đỉnh cao” của “chân lý” ấy là việc Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam suốt 10 năm liền, từ năm 1979 đến 1989. Xen giữa quãng thời gian đó là sự kiện Trung Quốc thảm sát 64 chiến sỹ QĐND Việt Nam và chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam ngày 14/3/1988. Hệ quả là trong Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam 1980, Trung Quốc bị vạch mặt, chỉ tên là một quốc gia “bá quyền”, “xâm lược”.
Cuối thập niên 1980, cuộc khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội trầm trọng đã dẫn đến sự sụp đổ của một loạt nước XHCN ở Đông Âu. Lo sợ cho số phận của mình, một số nhân vật chủ chốt trong ban lãnh đạo CSVN đã quay sang ôm chân các ông chủ Trung Nam Hải. Và từ Hội nghị Thành Đô ngày 3/9/1990, hai nước từng bước bình thường hoá quan hệ.
Trong chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 25/2 đến 2/3/1999 của TBT Lê Khả Phiêu, phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” lần đầu tiên được đưa vào Tuyên bố chung của hai nước. Từ đấy về sau, “16 chữ vàng” ấy luôn xuất hiện trong các bản tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Chưa hết, trong chuyến công du Việt Nam từ ngày 31/10 đến 2/11/2005 của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” đã được đưa vào Tuyên bố chung Việt - Trung. Và kể từ đó, “16 chữ vàng” và “4 tốt”, những mỹ từ mô tả mối quan hệ giữa hai quốc gia, đã trở thành “một phần tất yếu” của các bản tuyên bố chung Việt - Trung.
Từ “đối tượng” đến “đối tác”
Ngược dòng lịch sử, trong bang giao với quốc gia láng giềng phương Bắc, các triều đại phong kiến Việt Nam thường áp dụng kế sách “trong đế ngoài vương”, một sách lược ngoại giao mềm dẻo và sáng suốt.
Ở trong nước, các vị vua Việt Nam vẫn lên ngôi hoàng đế nhằm thể hiện tinh thần độc lập và bình đẳng với hoàng đế Trung Hoa, song bên ngoài họ lại để cho hoàng đế Trung Hoa phong vương và chấp nhận chế độ triều cống như một nước chư hầu. Những lời lẽ nhún nhường trong các tờ biểu mà hoàng đế Việt Nam dâng lên hoàng đế Trung Hoa hoàn toàn không ảnh hưởng đến vị thế độc lập của Việt Nam trước Trung Quốc, mà chỉ giúp cho các hoàng đế của “vương quốc trung tâm” tự mãn với danh hiệu “thiên triều”, để không có cớ gây sự với Việt Nam.
Trong khi đó, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi quốc gia láng giềng phương bắc là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, tức là “đối tượng” mà người Việt không được phép lơ là, mất cảnh giác.
Dưới thời cộng sản, cho dù các nhà lãnh đạo Việt Nam mô tả mối quan hệ Việt - Trung bằng những mỹ từ cao đẹp đến đâu đi nữa, họ cũng không thể che lấp được một sự thật là Trung Quốc vẫn luôn rình rập nhằm phá hoại và thôn tính Việt Nam.
Thậm chí, ngay trong những ngày tháng mặn nồng nhất của “mối tình cộng sản” Việt - Trung, Bắc Kinh đã đưa quân sang “giúp” Việt Nam làm đường theo kiểu “rất Tàu” như thế này: đặt mìn tiêu huỷ “hòn đá Liễu Thăng” tại Lạng Sơn; ở Côn Sơn, nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi, họ đã đào xuyên ngang dọc quả núi thành đường hầm và bít cửa vào, không ai biết họ làm gì trong đó; nhiều di tích như An Sinh, nơi gần đây mới xây đền thờ các vị vua Trần, hết thảy tượng đá thời Trần đều bị phạt cụt đầu hoặc bắn vào bụng; ở Ngọa Vân am, tháp Phật Hoàng đựng xá lị Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm cổ kính bị đào rỗng ruột, toàn bộ bài vị trong tháp bị đập nát, tấm bia do Trịnh Căn lập bị đập thành ba bảy mảnh, 13 ngọn tháp đứng thành một hàng chạy xuống phía Tây Nam đều bị phạt ngang, phía dưới có một đường hầm lộ thiên đào thông tháp nọ với tháp kia (nhằm phá long mạch nhà Trần lừng lẫy chiến công chống giặc phương Bắc, tức là phá long mạch Việt Nam chăng?); khai thác trộm của cải, thăm dò ngầm tài nguyên, địa thế...
Mặc dù “16 chữ vàng” và “4 tốt” đã được lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc xác định là “kim chỉ nam” cho mối quan hệ giữa hai bên, song suy cho cùng thì đó cũng chỉ là ngôn ngữ ngoại giao. Chúng chẳng khác gì mấy so với tinh thần của những tờ biểu mà các hoàng đế Việt Nam ngày xưa vẫn dâng lên hoàng đế Trung Hoa, hay những bức “điện mừng” mà  nguyên thủ hai quốc gia láng giềng thù nghịch Toracanxi và Hopantomola vẫn cấp tập gửi cho nhau ngay trước khi lao vào nhau để quyết một phen sống mái. Và kể từ năm 1979 đến nay, Việt Nam vẫn bố trí một lực lượng quân sự hùng hậu và tinh nhuệ thường trực tại các tỉnh biên giới phía bắc, mà lý do chủ yếu là để đề phòng đội quân xâm lược từ bên kia biên giới.
Vậy điều gì đã góp phần quyết định khiến các bản tuyên bố chung Việt - Trung thời gian sau này luôn kèm theo những thoả thuận hợp tác cụ thể và nguy hại, dẫn đến thực trạng báo động đỏ hiện nay là đâu đâu trên khắp Việt Nam người ta cũng thấy bàn tay lông lá của Tàu cùng những hiểm hoạ “made in China” lơ lửng trên đầu dân tộc?
Thật trớ trêu, thủ phạm hoá ra lại là “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới” do Hội nghị Trung ương 8 khóa IX thượng tuần tháng 7 năm 2003 đề ra và Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” do Hội nghị Trung ương 8 khoá XI ban hành. Chính xác hơn, đó là sự mơ hồ, ngây thơ và chủ quan khi định nghĩa khái niệm “đối tượng” và “đối tác”, cũng như chủ trương biến đối tượng thành đối tác, trong hai văn kiện đóng vai trò “kim chỉ nam” cho hệ thống chính trị liên quan đến nhiệm vụ tối quan trọng là bảo vệ Tổ quốc.  

Cờ Trung Quốc sẽ còn tung bay phấp phới tại Vĩnh Tân (Bình Thuận), một vị trí cực kỳ xung yếu về an ninh quốc phòng, trong hàng chục năm tới. Ảnh: Lê Anh Hùng
Khi dẫn ra câu “không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc là vĩnh viễn” trong hai nghị quyết nêu trên, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã (cố tình) bỏ qua điểm quan trọng nhất: người đầu tiên phát ngôn câu đó – Lord Palmerston – là một ngoại trưởng và về sau trở thành thủ tướng Anh, chứ không phải là một hoàng đế Việt Nam, và địa chính trị nước Anh hoàn toàn khác với địa chính trị Việt Nam. Tiền đề sai lầm đó đã dẫn đến hàng loạt sai lầm trong việc định nghĩa “đối tượng” và “đối tác”, cũng như sự ngây ngô, duy ý chí trong chủ trương biến đối tượng thành đối tác.
Và kết cục tất yếu
Việc “đối tượng” Trung Quốc được ban lãnh đạo Việt Nam phù phép thành “đối tác” đã mở đường cho việc hai nước ký kết hàng loạt thoả thuận hợp tác nguy hại cho Việt Nam, đặc biệt là mỗi dịp lãnh đạo nước này thăm viếng nước kia, vốn diễn ra với tần suất xoành xoạch. Kết quả là vô số người Tàu lũ lượt theo chân hàng trăm “dự án kinh tế” – đến 90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – trên khắp Việt Nam, từ một Hà Nội ồn ào náo nhiệt đến những cánh rừng đầu nguồn biên giới xa xôi hẻo lánh, đặc biệt là những vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng.
“Đối tượng” Trung Quốc đã trở thành “đối tác” nên TBT Nguyễn Phú Trọng cứ việc vô tư hợp tác với Bắc Kinh để họ đào tạo cán bộ cấp cao cho Việt Nam hay phó thác cho họ nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho một loạt tỉnh biên giới.
Chưa dừng lại ở đó, Việt Nam còn đang đứng trước làn sóng xâm lăng kinh tế mới của “đối tác tốt” Trung Quốc thông qua những phương thức như “tàu container liên vận”, thương mại điện tử, mua bất động sản hay thâu tóm doanh nghiệp… bất chấp thực tế những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đem đến cho người dân Việt Nam luôn “lợi bất cập hại”.
Không còn nghi ngờ gì, chủ trương biến đối tượng thành đối tác trên thực tế đã trở thành chủ trương “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”. Và nếu không phải là mưu đồ bán nước thì đó cũng là sai lầm chiến lược vô cùng nguy hiểm của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA