Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

THƯ TỐ CÁO LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LẦN THỨ 82

Kính thưa quý vị,
Đây là lần thứ tám mươi hai (82) tôi gửi đơn thư đến đầy đủ các cơ quan chức năng của Việt Nam để tố cáo một số vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Kể từ năm 2008 đến nay, tôi đã vạch trần âm mưu cướp nước của Trung Quốc thông qua bàn tay của ông cựu Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải, nay là Bí thư Thành uỷ Hà Nội, cùng một số lãnh đạo chóp bu đã bị ông ta khống chế và thao túng.
Ông Hoàng Trung Hải là người đã ký hai văn bản quan trọng nhất, mang tính quyết định đưa đến sự ra đời của dự án Formosa Hà Tĩnh: công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 "đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa - Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh", và công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”. Và Formosa Hà Tĩnh mới chỉ là phần nổi của tảng băng thảm hoạ mà “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải đã gây ra cho Việt Nam suốt bao năm qua:
90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia cùng hàng trăm ngàn ha rừng đầu nguồn biên giới rơi vào tay (doanh nghiệp) Trung Quốc; đại hiểm hoạ quân sự - kinh tế - môi trường Formosa Hà Tĩnh; hàng loạt vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng bị Trung Quốc chiếm lĩnh thông qua các dự án kinh tế trá hình; quy hoạch Hà Nội bị băm nát; hiểm hoạ Discovery Complex II tại 8B Lê Trực (Hà Nội); thảm nạn BOT giao thông trên cả nước, cũng như tình trạng tệ hại của hạ tầng giao thông các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong khi giao thông các tỉnh biên giới phía bắc phát triển rất nhanh, các hướng tấn công xâm lược của Trung Quốc năm 1979 đều đã hoặc sắp có đường cao tốc nối từ biên giới về Hà Nội; thảm hoạ mưa lũ năm này qua năm khác do hậu quả của công tác quản lý, bảo vệ rừng và công tác quy hoạch, quản lý thuỷ điện (hai lĩnh vực thuộc thẩm quyền của PTT Hoàng Trung Hải từ 2007-2016); nguy cơ ô nhiễm môi trường và an ninh năng lượng do công nghệ nhiệt điện than của Trung Quốc (ngành điện VN đã bị Hoàng Trung Hải lũng đoạn từ cuối thập niên 1990 cho đến nay); tình trạng biển Bình Thuận bị đầu độc; vấn nạn “chảy máu khoáng sản” (phần lớn các mỏ khoáng sản rơi vào tay Trung Quốc) cũng như việc xuất khẩu than giá rẻ sang Trung Quốc, để rồi giờ lại phải nhập than giá đắt cũng từ Trung Quốc; v.v và v.v.
Thay vì bị xử lý, ông Hoàng Trung Hải đã trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội và là một trong những ứng cử viên tiềm tàng cho một chiếc ghế trong “tứ trụ”, thậm chí cả ngôi vị Tổng Bí thư.
Ngày 16/9/2013, tôi đã trực tiếp gửi đơn thư cho ĐBQH Dương Trung Quốc. Gần 4 năm đã trôi qua, mặc dù tôi đã rất nhiều lần đốc thúc nhưng đến nay ông Dương Trung Quốc vẫn chưa hề trả lời đơn thư của tôi theo đúng quy định của pháp luật.
Tôi khẩn thiết yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết đơn thư tố cáo mà tôi đã gửi cho ĐBQH Dương Trung Quốc vào ngày 16/9/2013. Nếu tôi tố cáo đúng thì phải xử lý những người bị tố cáo; nếu tôi tố cáo sai thì phải xử tôi về tội vu khống.
Hà Nội, ngày 18/12/2017

Lê Anh Hùng

Cặp bài trùng Hán tặc cướp nước Hoàng Trung Hải - Việt gian bán nước Nguyễn Phú Trọng

THƯ TỐ CÁO LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LẦN THỨ 81

Tháng 3/2005, vợ tôi (Lê Thị Phương Anh, sinh ngày 11/11/1984, CMND số 013720063 do Công an Hà Nội cấp ngày 9/7/2004.) bắt đầu đi làm nhân viên bán hàng tại một cửa hàng của Cty May Việt Tiến (nay là Tổng Cty May Việt Tiến) trên phố Chùa Bộc. Sau 3 ngày, Trọng – Trưởng phòng Marketing của Chi nhánh Cty May Việt Tiến tại Hà Nội – điều vợ tôi về làm nhân viên tại quầy hàng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza, do Loan, sinh năm 1978, làm tổ trưởng.
Ba tuần sau, Loan bị Trọng điều đi làm tổ trưởng quầy hàng Việt Tiến tại siêu thị Metro (đường Phạm Văn Đồng). Vợ tôi được Trọng giao làm tổ trưởng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza trước thái độ kèn cựa và ghen tị của Loan và Thuỷ (sinh năm 1985, nhân viên Việt Tiến tại Tràng Tiền Plaza). Tuy nhiên, sau đó Thuỷ lại cảm phục và kết nghĩa chị em với vợ tôi, còn Loan thì vẫn ngấm ngầm ghen tức với cô ấy.
Sau khi lên làm tổ trưởng, vợ tôi đã biến quầy hàng ở Tràng Tiền Plaza thành một cửa hàng điển hình của Cty Việt Tiến không chỉ ở Hà Nội mà còn trên phạm vi cả nước, với  doanh số bán hàng cao nhất. Nhờ đó, cô ấy nhiều lần được Chi nhánh Hà Nội và Cty tuyên dương, khen thưởng.
Thời gian làm tổ trưởng ở Tràng Tiền Plaza, vợ tôi cũng được Trọng tin tưởng nhờ giúp một số việc thuộc lĩnh vực của Trọng như ký kết hợp đồng với các đại lý, giao hàng... do Trọng còn bận rộn buôn bán hàng cấm. Vì thế, đến tháng 8/2005, khi Cty Việt Tiến thay đổi nhân sự Chi nhánh Hà Nội (ông Xuân Giám đốc Chi nhánh vào Tp HCM đảm nhận nhiệm vụ khác, Trọng lên thay) thì vợ tôi được Trọng đề bạt lên thay vị trí của anh ta và được ông Nguyễn Đình Trường, TGĐ Việt Tiến chấp nhận. (Do việc này mà vợ tôi lại càng khiến Loan ghen tức.) Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/9/2005. Tuy nhiên, từ cuối tháng 8/2005, vợ tôi đã đảm trách vai trò của Trọng. Ông NĐ Trường cũng nhận vợ tôi làm con nuôi trong thời gian này.
Nhờ thành tích vô cùng ấn tượng trong một thời gian ngắn ngủi làm Trưởng phòng Marketing Chi nhánh Hà Nội mà ông NĐ Trường quyết định bổ nhiệm vợ tôi làm Giám đốc Chi nhánh Hà Nội của Cty May Việt Tiến. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2005. Do việc này ông NĐ Trường quyết định không đúng quy trình nên ông bị Lê Viết Toà (tên thật là Lê Văn Toại), Phó TGĐ Thường trực Cty May Việt Tiến và là đệ tử ruột của ông Lê Quốc Ân (Chủ tịch HĐQT Vinatex), phản đối quyết liệt. Sau khi chứng kiến cuộc “sát hạch” đối với vợ tôi ngày 3/10/2005 do Lê Văn Toại cùng bộ sậu tiến hành, ông Lê Quốc Ân lại ép ông Trường để nhận vợ tôi làm con nuôi và đưa về làm Trưởng phòng Marketing của Vinatex. Tiếp theo, sau cuộc ra mắt của vợ tôi tại Vinatex vào ngày 13/10/2005, ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Công nghiệp, lại ép ông Trường và ông Ân để nhận vợ tôi làm con nuôi. Trong thời gian đó, Lê Văn Toại, với sự xúc xiểm của Loan (bồ của anh ta), đã nẩy sinh mâu thuẫn với vợ tôi. Anh ta bị mất chức nên thuê xã hội đen trả thù vợ tôi, khiến vợ chồng tôi phải bỏ chạy vào Đông Hà, Quảng Trị (quê vợ tôi) để lánh nạn vào ngày 2/11/2005.
Ông Hoàng Trung Hải nhờ ông Lê Hồng Anh và ông Nguyễn Khánh Toàn (Bộ trưởng và Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an) để bắt Lê Văn Toại. Bố mẹ Lê Văn Toại (vốn là trùm thế giới ngầm ở Sài Gòn) đã dùng tiền để gõ mọi cánh cửa và chạy đến tận TBT Nông Đức Mạnh.
Cuối tháng 11/2005, vợ tôi tình cờ gặp ông Nguyễn Tấn Dũng, Phó TT Thường trực, đang vào Quảng Trị để chỉ đạo phòng chống bão lụt, tại cuộc tiếp đón do ông Vũ Trọng Kim, Phó Ban Dân vận TW (nguyên Bí thư TW Quảng Trị), tổ chức. Biết vợ tôi là Trưởng phòng Marketing của Vinatex và là con nuôi của Bộ trưởng CN Hoàng Trung Hải nên ông NT Dũng lại đòi nhận vợ tôi làm con nuôi. Lúc này, ông Hải cũng cho ông Dũng biết nguyên nhân vợ chồng tôi phải chạy trốn vào Đông Hà. Tiếp theo, ông NT Dũng đưa vợ tôi từ Đông Hà vào Huế đón đoàn của các ông Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười và Phan Văn Khải vào thăm Huế và Quảng Trị (hình như để bàn chuyện cơ mật trước thềm Đại hội X của Đảng). Đầu tháng 12/2005, ông NĐ Mạnh lại nhận vợ tôi làm con nuôi (ông ta muốn hình thành một liên minh chính trị với ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Hoàng Trung Hải). Sau đó, ông Mạnh đã trả lại số tiền hối lộ mà ông nhận từ gia đình Lê Văn Toại để giúp vợ chồng tôi.
Trong thời gian vợ tôi làm việc tại Cty May Việt Tiến, Trọng đã nảy sinh tình cảm và dần dần si mê cô ấy. Là đệ tử ruột trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải nên anh ta nắm được bằng chứng phạm tội của ông Hải. Dần dà, anh ta không chế, ép buộc ông Hải phải làm sao để chia lìa vợ chồng tôi, tạo điều kiện cho anh ta chiếm đoạt vợ tôi. Thành ra, mặc dù đã nhận làm bố nuôi vợ tôi trong thời gian vợ chồng tôi đang ở Hà Nội nhưng ông Hải vẫn không chịu gặp tôi. Sau khi chúng tôi chạy vào Đông Hà lánh nạn và vợ tôi trở thành con nuôi của ông NT Dũng và ông NĐ Mạnh, ông Hải lại tìm mọi cách để khiến tôi nghi ngờ vợ, qua đó hòng chia lìa vợ chồng tôi: kiếm cớ ngăn cản ông Mạnh, ông Dũng vào Đông Hà thăm vợ chồng tôi; không chu cấp cho vợ chồng tôi mặc dù vẫn nói với 2 ông kia là đã lo lắng đầy đủ cho chúng tôi, v.v.
Theo kế hoạch, ngày 22/3/2007, ông NĐ Mạnh và ông NT Dũng sẽ đích thân vào Đông Hà đón vợ chồng tôi ra Hà Nội, và lần đầu tiên tôi sẽ được diện kiến họ. Biết tin đó, Trọng liền gửi tối hậu thư cho ông HT Hải là nếu điều đó xẩy ra (đồng nghĩa với việc anh ta sẽ không bao giờ còn mơ đến việc có thể chia rẽ vợ chồng tôi và qua đó chiếm đoạt vợ tôi được nữa), anh ta sẽ tung chứng cứ phạm tội của ông Hải lên mạng. Ông Hải đã đe doạ và ép buộc vợ tôi ôm con bỏ đi, và tìm cách ngăn không cho ông Mạnh và ông Dũng vào Đông Hà đón vợ chồng tôi. Tuy nhiên, sau đó vợ tôi đã kể hết với tôi về bộ mặt thật của ông HT Hải và Trọng, cũng như chuyện cô ấy từng tham gia vào băng đảng ma tuý của ông Hải như thế nào. Ông Hải từng thú nhận với vợ tôi chuyện ông ta sát hại tay trợ lý người Quy Nhơn, Bình Định để bịt đầu mối tội ác. Tôi khuyên vợ tôi kể cho ông Mạnh và ông Dũng biết hết sự thật về ông Hải. Tuy nhiên, diễn biến sau đó lại cho thấy hoá ra cả ông Dũng và ông Mạnh đều đã bị ông Hải “trói” theo những cách thức khác nhau. Ông Dũng từng hãm hiếp một cô trinh nữ do Trọng cung cấp và bị ông Hải bố trí quay phim toàn bộ hoạt cảnh. Sau đó, để bịt đầu mối tội ác của mình, ông Dũng đã đồng ý để cho ông Hải và đàn em thủ tiêu cô gái kia. Còn ông Mạnh thì từng buôn lậu vũ khí với ông Hải. Lúc này, ông Hải chuyển toàn bộ chứng cứ phạm tội của ông Mạnh và ông Dũng cho Trọng để anh ta đe doạ và ép buộc hai ông này phải tiếp tục âm mưu lừa dối vợ chồng tôi.
Đến cuối tháng 6/2007, khi biết không thể chia rẽ được vợ chồng tôi, đồng thời lại bị công an truy lùng ráo riết, nên Trọng sang Pháp sinh sống. Anh ta đòi ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải phải cấp cho anh ta 5 tỷ USD nếu không anh ta sẽ tố cáo họ. Ba ông này nhờ vợ tôi xin Trọng “bớt” cho một ít, song Trọng không đồng ý mà nói là cho vợ tôi 2 tỷ trong số 5 tỷ USD đó.
Vợ chồng tôi dự định là tháng 10/2007 sẽ ra nước ngoài theo sự sắp xếp của Trọng. Tuy nhiên, sau đó 3 ông kia và Trọng lại tiếp tục lừa dối vợ chồng tôi. Trọng tiếp tục lừa vì anh ta vẫn chưa thôi ý định chiếm đoạt vợ tôi (trong khi chúng tôi lại không hề nghi ngờ gì anh ta cả), còn ba ông kia muốn tiếp tục lừa tôi vì sợ tôi về sau tố cáo, hoặc viết câu chuyện thành sách. Do ba ông kia vẫn tìm mọi cách chia rẽ vợ chồng tôi và ngăn cản việc tôi ra nước ngoài nên đến tối 8/11/2007, tôi quyết định để cho vợ ra Hà Nội rồi ra nước ngoài trước cùng Trọng và Thuỷ (người lúc này đã trở thành vợ của Trọng và có với anh ta một đứa con gái). Trọng hứa với vợ chồng tôi là sẽ tìm cách đưa tôi ra nước ngoài sau. Ngày 12/11/2007, tôi cũng bỏ trốn khỏi Đông Hà vì 3 ông kia bắt đầu cho người truy lùng tôi.
Trước khi vợ tôi sang Pháp vào ngày 16/11/2007, ông HT Hải đã bắt cóc con gái Trọng (lúc đó mới khoảng 7-8 tháng tuổi), vì biết Trọng rất yêu quý con gái, và giam giữ tại một ngôi nhà nằm ở một khu vực hẻo lánh thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ông ta đánh hơi thấy Trọng lừa mình (tay Trọng này rất ma lanh, anh ta vừa lừa ba ông kia vừa lừa vợ chồng tôi). Vì thế, Trọng và Thuỷ bị kẹt lại ở Việt Nam, vợ tôi và con gái (Lê Thanh Mai, sinh ngày 2/11/2006) sang Pháp trước cùng với 1 bà giúp việc người Nghệ An. Bạn của Trọng (tên là Trinh) đón vợ con tôi ở Paris.
Thời gian này, vợ tôi lại bị chứng chảy máu não, và bệnh tình ngày càng trở nên nguy kịch. Ngày 27/11/2007, vợ tôi phẫu thuật chứng chảy máu não ở Mỹ theo sự thu xếp của ông HT Hải và Trọng, sau đó mẹ con cô ấy trở lại London (Anh). Giữa tháng 12/2007, Trọng bị đàn em của ông Hải bắt khi anh ta tìm cách tiếp cận ngôi nhà mà ông Hải đang giam giữ con gái anh ta.
Chờ mãi không thấy tin tức gì từ Trọng, cuối tháng 1/2008, vợ tôi tìm cách về lại Việt Nam (đầu tháng 12/2007, sau khi phẫu thuật xong một thời gian ngắn, vì lo lắng cho tôi nên vợ tôi cũng tìm cách trốn về Việt Nam, nhưng sau đó bệnh tái phát nên lại phải sang London để điều trị tiếp). Ngày 30/1/2008, tôi cũng từ nơi ẩn náu ở Nha Trang về đến Đông Hà để đoàn tụ với vợ con.
Tôi dự định là ra Tết Mậu Tý 2008 sẽ ra Hà Nội để tố cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải. Tuy nhiên, sáng 4/1 AL(10/2/2008), Trọng đột nhiên liên lạc với vợ tôi. Ngày 4/2/2008, con gái Trọng đã chết trên tay anh ta trong sự giam cầm của ông Hải. Đàn em của ông Hải cho phép Trọng chôn con gái mình. Anh ta nhân đó đánh nhau với hai tên vệ sỹ, cướp được súng và bắn chết hai tên này rồi chạy trốn. Anh ta đề nghị tôi hợp tác với anh ta, đòi 3 ông kia trả cho một số tiền lớn (2 tỷ USD), chúng tôi sẽ nhận một nửa và ra nước ngoài trước.
Tuy nhiên, ngày 13/3/2008, sau khi nhận được tiền từ ông Hải, Trọng đã ra nước ngoài, lộ rõ bộ mặt thật của mình (lừa dối chúng tôi bấy lâu trong khi chúng tôi vẫn cả tin, không hay biết). Lúc này, vợ tôi mới thú thật với tôi về tội lỗi của cô ấy: một vụ án mạng mà cô ấy là người thực hiện dưới sự đe doạ và ép buộc của Trọng, toàn bộ vụ việc bị Trọng bố trí máy quay phim ghi lại. Trước khi ra nước ngoài, Trọng đã giao các chứng cứ phạm tội của vợ tôi cho ông Hải, hòng khống chế và đe doạ cô ấy.
Tôi vẫn cố thuyết phục vợ tội cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải, vừa để chuộc lại lỗi lầm cho vợ, vừa để vạch mặt tội ác của họ, và vừa để buộc họ phải chịu trách nhiệm trước thảm cảnh mà họ đã gây ra cho chúng tôi.
Sau khi đã thử dùng bài “rung cây doạ khỉ”, nhận ra sự lo sợ của họ cũng như tâm địa độc ác của họ qua việc cứ cố tình lừa dối chúng tôi hết lần này đến lần khác mặc dù tôi đã cho họ nhiều cơ hội chuộc lỗi, ngày 21/4/2008, tôi bắt đầu gửi thư tố cáo tội ác của ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam và nhiều địa chỉ email khác qua mạng Internet.

÷

Giữa tháng 5/2008, tôi bán nhà ở Hà Nội. Ngày 20/5/2008, tôi chuyển vào Đông Hà sinh sống. Đầu tháng 6/2008, tôi mua nhà ở hẻm 211, Lý Thường Kiệt, Đông Hà (giá 200 triệu).
Lúc này, cô Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, người trước đây thường cho vợ tôi vay góp rủ vợ tôi cùng cho vay trả góp. Vợ tôi rất vui và hạnh phúc, bệnh tật đỡ dần. Cô ấy còn tranh thủ mua gom rượu ngoại bán cho các nhà hàng. Thỉnh thoảng, vợ tôi nhờ ông Ngô Quận, Đại tá, Phó Giám đốc Công an Quảng Trị, giúp đỡ.
Ngày 5/8/2008, Công an Quảng Trị mời tôi lên làm việc (người chủ trì buổi làm việc với tôi là Trung tá Nguyên, quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An). Tôi đã trực tiếp ký vào từng trang của thư tố cáo do họ in ra sẵn. Trước đó, có hai viên sỹ quan công an – một người là Nguyễn Minh Đông, hiện nay là thượng uý, Phó CA P5, Đông Hà – đã điều tra sơ qua về vợ chồng tôi. Họ còn đi theo viên CSKV Lê Phước Giải đến tận nhà tôi để “tìm hiểu” xem tôi có “bị” gì không.
Sau khi tôi làm việc với Công an Quảng Trị, ông Nguyễn Minh Triết bí mật ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp. Từ giữa tháng 8/2008, ông Triết đã chỉ đạo (qua ông Ngô Quận, Đại tá, PGĐ Công an Quảng Trị) tạo điều kiện cho vợ chồng tôi buôn rượu lậu từ Lào về Việt Namqua cửa khẩu Lao Bảo. Người hỗ trợ vợ tôi buôn rượu là cô Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, cũng là người mà trước đấy vợ tôi cho vay trả góp cùng. Vì thời gian này Công an đang ngấm ngầm theo dõi vợ chồng tôi nên để cho phía Công an thấy là chúng tôi không có tiền (đồng nghĩa với việc không có ai đứng sau lưng chúng tôi cả), ông Ngô Quận đã chỉ đạo để vợ chồng tôi gửi tiền bạc của mình vào các tài khoản của Hương. (Ý đồ ban đầu của ông Triết là muốn cho chúng tôi có nhiều tiền thật nhanh để người ta tin vào câu chuyện; tuy nhiên, sau khi ba ông Mạnh-Dũng-Hải “tố” là có người đứng đằng sau lưng chúng tôi, ông Triết lại để chúng tôi rơi vào cảnh khốn khó cho người ta khỏi nghi ngờ ông.) Ngoài ông Ngô Quận, phía Công an Quảng Trị còn có hai lãnh đạo nữa tham gia vào âm mưu của ông Triết là ông Ngô Văn Tiếu, Đại tá, Giám đốc Công an tỉnh (về sau là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh CSCĐ) và ông Nguyễn Thanh Thắng, Đại tá, PGĐ CA tỉnh.
Đầu năm 2009, Công an bắt đầu điều tra bí mật. Ban Chuyên án do Bộ Chính trị chỉ định, báo cáo trực tiếp với Bộ Chính trị, chứ không thông qua những trình tự pháp lý thông thường. Ông Lê Hồng Anh, người có dính líu trong phần đầu câu chuyện và đã dũng cảm thừa nhận sai phạm của mình, được Bộ Chính trị giao phụ trách Ban Chuyên án.
Đến ngày 12/3/2009, quá bức xúc vì theo âm mưu của ông NM Triết mà chúng tôi phải bán nhà bán cửa và sống tạm bợ ở nhà bà ngoại vợ (để Bộ Chính trị và công an không nghi ngờ ông ta), đồng thời nhận được sự “khích lệ” từ một bức thư mà Ban Chuyên án gửi cho tôi vào ngày 5/3/2009 (Nếu bức thư này được tố cáo thêm lần nữa thì đất nước này hoàn toàn sụp đổ, không thể cứu vãn được nữa…), cũng như từ câu nói trước đó của ông HT Hải với ông Ngô Quận (Bây giờ mà nó tung thư tố cáo lên lần nữa thì gí súng vào đầu tự tử do rồi), trong khi vụ việc tiến triển rất chậm chạp (ông Triết coi như đã không thực hiện đúng cam kết với chúng tôi), nên tôi quyết định gửi thư tố cáo qua mạng lần thứ 2 đến các cơ quan hữu quan cùng hàng loạt địa chỉ email khác.
Trái với kỳ vọng của tôi, lần gửi thư tố cáo này không có tác dụng đáng kể, câu chuyện quá khủng khiếp và ly kỳ nên ít người dám tin. Bộ Chính trị quyết định giải tán Ban Chuyên án cũ (do kém năng lực) và thành lập một Ban Chuyên án mới.
Đến cuối tháng 6, đầu tháng 7/2009, Ban Chuyên án đã kết thúc điều tra. Kết quả cho thấy đúng như những gì chúng tôi tố cáo. Ông Triết cũng phạm tội, dù nhẹ hơn 3 ông kia. Các cuộc đấu đá tranh giành nội bộ diễn ra để thế chỗ ông Mạnh, ông Dũng.
Thấy vụ việc lâm vào bế tắc do sự đấu đá giằng co của những người trong Bộ Chính trị, cuối tháng 8/2009, tôi lại gửi thư tố cáo đến các cơ quan hữu quan 3 lần liên tiếp (lần thứ 3, 4 & 5: ngày 20/8, 27/8 và 31/8/2009). Lập tức, ông Triết chỉ đạo ông Quận lấy toàn bộ số tiền của chúng tôi, khi đó đang gửi ở tài khoản của cô Nguyễn Thị Hương, về các tài khoản của mình, hòng dễ bề khống chế chúng tôi.
Đầu tháng 9/2009, một số ĐSQ nước ngoài ở Hà Nội vào Quảng Trị gặp vợ tôi để tìm hiểu thực hư vụ việc (Mỹ, Trung Quốc, Anh…). Tuy nhiên, theo chỉ đạo của ông NM Triết, vợ tôi nói với họ là trong câu chuyện chỉ có một phần sự thật.
Ban Chuyên án đòi đưa vụ việc ra Ban Chấp hành Trung ương (họ cũng muốn ‘vòi’ tiền của Nhà nước). Nếu đưa ra công khai trong BCHTW thì rất nhiều người bị mất chức, kể cả ông Triết. Số tiền đó chắc chắn là phải tương đương với số mà người ta định “đền bù” cho vợ chồng tôi, nhưng ngân quỹ của Đảng đã bị ông Nông Đức Mạnh và một số người nữa (trong đó có ông Nguyễn Phú Trọng) vơ vét sạch. Vì thế, đến tháng 10/2009, ông Triết đã mua số chứng cứ này từ Ban Chuyên án. Vụ việc coi như bị ém nhẹm, thậm chí còn không được xử lý trong nội bộ Bộ Chính trị.
Ông NM Triết ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp để sao cho các phe phái khác nhau buộc phải thoả hiệp và Bộ Chính trị phải giao chức vụ của ông Mạnh cho ông ta.
Đến ngày 26/11/2009, ông NM Triết được Bộ Chính trị chính thức trao cho chức vụ cao nhất (ông NP Trọng vị trí thứ hai, và ông TT Sang nắm giữ vị trí thứ 3). Tuy nhiên, sau đấy người ta lại không thống nhất được phương án xử lý đối với tôi. Trong khi câu chuyện của tôi thì đã um ra (cho đến ngày 23/12/2009, tôi tung lên mạng 20 lần, đến hàng ngàn địa chỉ email trong và ngoài nước). Người ta sợ cho tôi tiền thì tôi sẽ ra nước ngoài rồi tố cáo tiếp. Ông Triết quá cầu toàn, thiếu quyết đoán, nên dần dần để vụ việc vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mình, và của cả Bộ Chính trị.
Thất vọng trước thái độ của ông NM Triết (đặt lợi ích cá nhân lên trên vận mệnh nước nhà), tôi tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng Internet, cho đến lần thứ 20 là vào ngày 23/12/2009. Tình hình ở Hà Nội hết sức rối ren, Trung Quốc đe doạ sẽ tấn công Trường Sa nếu chế độ này sụp đổ. Nhưng Bộ Chính trị vẫn không cho bắt tôi, vì tôi tố cáo đúng sự thật và vì sau lưng tôi có ông Triết cùng một số người nữa ủng hộ. Vụ tố cáo của tôi liên quan đến các uỷ viên Bộ Chính trị, nên phải có ý kiến của Bộ Chính trị trước khi điều tra, bắt hay khởi tố tôi.
Ngày 25/12/2009, một nhóm sỹ quan an ninh cao cấp của Bộ Công an đã chỉ đạo một nhóm Công an Quảng Trị bắt “bắt quả tang” tôi ngoài tiệm Internet với tội danh “tuyên truyền chống phá Nhà nước”, đặt Bộ Chính trị vào thế đã rồi (tức là tôi bị “bắt quả tang” nên không cần thỉnh thị ý kiến Bộ Chính trị). Sau khi bị bắt, tôi đã khai ra vụ tố cáo cũng như vai trò của ông NM Triết (đến ngày 31/12/2009, sau khi Công an Quảng Trị ra lệnh khởi tố vụ án và lệnh tạm giam đối với tôi – trước đó là 2 lệnh tạm giữ – tôi mới khai ra ông Triết).
Ông NM Triết, lúc này lại quay sang liên minh với các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải, trước sự non nớt, thiếu hiểu biết của vợ tôi, đã đe doạ và ép buộc cô ấy phải khai với công an là tôi bị bệnh “tâm thần hoang tưởng” (do họ đang nắm trong tay bằng chứng phạm tội của vợ tôi). Về phía tôi, vì không có bằng chứng gì trong tay, lại nghĩ là mình cần phải dành đường lùi cho những người trong cuộc, nhất là khi mà họ đã nhiều lần hứa hẹn là sẽ cải cách thể chế trước sự thối nát khủng khiếp của hệ thống, nên không còn cách nào khác là phải chấp nhận “vị thế” của một “bệnh nhân tâm thần”.
Ngày 4/5/2010, Công an Quảng Trị đưa tôi vào Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng để “điều trị bắt buộc” và đến ngày 24/8/2010, tôi được thả tự do.

÷

Trong thời gian tôi bị bắt và sau khi mới được thả, ông NM Triết cam kết là hết năm 2010 sẽ trả lại tiền cho chúng tôi. Tuy nhiên, hết năm 2010, rồi đến Tết 2011, ông ta vẫn không chịu trả cho vợ chồng tôi một đồng nào để sinh sống, khiến chúng tôi rơi vào cảnh cùng cực. Trước tình hình đó, tôi dự định là sang tháng 2 âm lịch năm Tân Mão (2011) sẽ tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan, ngoài THƯ TỐ CÁO I đối với 3 ông NĐ Mạnh, NT Dũng, HT Hải là THƯ TỐ CÁO II đối với ông NM Triết. Tài liệu quan trọng kèm theo là nhật ký của tôi kể từ khi tôi chuyển vào Đông Hà tháng 5/2008 cho đến khi tôi bị bắt rồi được thả ra vào ngày 24/8/2010 và Bản Cam Đoan của vợ tôi, thừa nhận vai trò chính của cô ấy trong câu chuyện và xác nhận tôi là người hoàn toàn bình thường.
Dường như biết được việc tôi chuẩn bị gửi thư tố cáo nên nhóm sỹ quan an ninh cao cấp đứng đằng sau vụ bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009 đã bắn tín hiệu đến Bộ Chính trị là nếu tôi tiếp tục tố cáo thì họ sẽ ủng hộ tôi. BCT quyết định buộc ông NM Triết phải làm “con dê tế thần” – nghĩa là ông Triết thừa nhận việc đứng đằng sau vụ tôi “vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước”, và coi như ba ông kia (ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải) không phạm tội gì cả. Dĩ nhiên, để nhóm sỹ quan công an này đồng ý “xử êm” vụ việc, những người liên quan sẽ buộc phải chi một số tiền lớn để mua sự im lặng của họ (hoặc Bộ Chính trị phải chi từ ngân quỹ bí mật của Đảng). Điều đó cũng cho thấy mục đích “cao cả” của việc nhóm này chỉ đạo bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009.
Sáng 3/3/2011, ông NM Triết gọi điện trực tiếp vào số máy của vợ tôi, thông báo là ngày 10/3/2011, người ta sẽ mời vợ tôi lên trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị để làm việc. Ông Triết nói, trước mắt ông sẽ trả lại số tiền của vợ chồng tôi, còn số tiền mà ông hứa cho chúng tôi thì “cho chú xin hoãn”. Ông cũng nói là chúng tôi sẽ phải viết cam kết là không tố cáo nữa, nếu tố cáo thì sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Sau đó, vợ tôi làm việc với một số sỹ quan công an (từ Hà Nội vào và ở Quảng Trị) về số tiền của chúng tôi qua sổ sách của Nguyễn Thị Hương. Tuy nhiên, do ông NM Triết cứ lần lữa việc chuyển trả tiền cho chúng tôi, đồng thời lại nhận thấy Bộ Chính trị còn tiếp tục đấu đá nhau và biết được thái độ lo sợ của những người trong cuộc, nên ngày 21/3/2011, tôi lại gửi thư tố cáo đến tất cả các cơ quan hữu quan trong nước cùng hàng ngàn địa chỉ email khác (nếu tính từ lần đầu tiên ngày 21/4/2008 thì đây là lần thứ 21).
Cho đến ngày 27/7/2011, tôi gửi thư tố cáo qua mạng thêm 36 lần nữa. Các phe phái vẫn cứ đấu đá nhau, nhưng không hề có dấu hiệu nào cho thấy người ta sẽ giải quyết vụ việc. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII, ông NT Dũng vẫn tiếp tục được bầu làm Thủ tướng và ông HT Hải lại tiếp tục là Phó TT.
Trong thời gian đó, nhiều đoàn sỹ quan cao cấp của Bộ Công an và từ một số tỉnh thành khác đã đến Quảng Trị gặp vợ tôi tìm hiểu về vụ việc. Họ đã động viên chúng tôi cả vật chất lẫn tinh thần. Qua tinh thần của các cuộc gặp đó, tôi biết là người ta vẫn đổ hết tội lên đầu ông NM Triết, và coi như ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng, ông HT Hải không phạm tội gì. (Thật nực cười, chẳng lẽ ông NM Triết lại ngu dại đến mức ủng hộ chúng tôi “vu khống” người khác?!)
Đến cuối tháng 10/2011, sau khi tôi đã công bố hai cuốn sách học thuật do tôi dịch, đăng một bài viết mới (“Chính phủ và chính sách”) trên một số trang mạng uy tín trong và ngoài nước, và phổ biến bức thư ngỏ gửi ĐBQH – nhà sử học Dương Trung Quốc, người ta bắt đầu có những động thái nhằm vào những kẻ mà tôi tố cáo. Một số đoàn sỹ quan công an từ Hà Nội vào Đông Hà gặp vợ tôi để điều tra về tội ác của các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải cũng như ông NM Triết. Tuy nhiên, các nhóm sỹ quan công an này đều chỉ lấy lời khai của vợ tôi để tìm cách “làm tiền” những những kẻ bị chúng tôi tố cáo.

Hồi âm của một độc giả về tác phẩm “Kinh tế học thể chế: trật tự xã hội và chính sách công”
Ngày 25/10/2011, vợ tôi bay ra Hà Nội và sáng hôm sau làm việc với một đoàn 10 người gồm 8 sỹ quan công an và hai người nước ngoài tại khách sạn Daewoo.


Ngày 16/11/2011, tôi đã đến Phòng Thanh tra, Công an Quảng Trị, gửi đơn tố cáo trực tiếp, kèm theo Bản Cam Đoan của vợ tôi. Người tiếp nhận đơn thư của tôi là Thượng tá Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Phó Phòng Thanh tra, và thượng uý Nguyễn Minh Chính, cán bộ Phòng Thanh tra.
Ngày 23/3/2012, ngày 11/4/2012 và ngày 16/4/2012, tôi cũng chủ động đến gặp họ để làm việc thêm với họ về đơn thư tố cáo, đồng thời để thúc đẩy họ sớm trả lời đơn thư của tôi. Tuy nhiên, nhà chức trách vẫn không có một động thái chính thức nào để giải quyết vụ việc.

÷

Ngày 27/4/2012, tôi rời Đông Hà ra Hà Nội.
Ngày 5/5/2012, tôi gặp một số cụ lão thành cách mạng ở Hà Nội, những người đã tiếp cận tôi để tìm hiểu về vụ tố cáo. Lần đầu tiên tôi được các cụ cho biết Hoàng Trung Hải là người Hán. Bố đẻ ông ta tên là Sì Sói, sinh và lớn lên tại Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc.
Ngày 13/5/2012, tôi gặp lại các cụ LTCM. Lần này họ trao cho tôi bức Tâm Huyết Thư đề ngày 7.5.2007 của một số cán bộ đảng viên đã và đang công tác tại Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ và một số cơ quan trọng yếu khác của Đảng CSVN tố cáo ông Hoàng Trung Hải là người Hán khai man lý lịch. Ngay hôm sau, tôi đã tung bức Tâm Huyết Thư đó lên mạng.
Ngày 3/6/2012, tôi gặp ĐBQH Dương Trung Quốc tại nhà riêng của ông để trao đổi về vụ tố cáo. Ông cho biết là ông đã biết về vụ tố cáo đã lâu, và nó đã tràn lan trên mạng.
Ngày 6/6/2012, tôi trực tiếp gửi cho ĐBQH Dương Trung Quốc một bộ đơn thư tố cáo.



Ngày 19/6/2012, ĐBQH Dương Trung Quốc trao cho tôi văn bản xác nhận là đã chuyển đơn thư của tôi cho Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng.


Ngày 26/10/2012, trong cuộc trao đổi với tôi về vụ tố cáo, ĐBQH Dương Trung Quốc thông báo cho tôi rằng ông Chủ tịch QH cho biết là "đang xem xét" và nói đây là "vụ việc phức tạp lắm".  
Ngày 24/1/2013, khi tôi đang làm công nhân tại Khu Công nghiệp Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Lần thì Công an Hà Nội và Công an Hưng Yên đã cưỡng chế tôi vào trại tâm thần trá hình mang tên “Trung tâm Bảo trợ Xã hội II” tại huyện Ứng Hoà, Hà Nội. Sau 12 ngày giam giữ trái phép, dưới áp lực của dư luận trong và ngoài nước, đặc biệt là các tổ chức nhân quyền quốc tế, nhà cầm quyền đã buộc phải trả tự do cho tôi vào ngày 5/2/2013.
Trong bản phúc trình thường niên công bố ngày 27/2/2014, Lê Anh Hùng là cái tên đầu tiên mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu trong danh sách những người bị nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền năm 2013 (https://goo.gl/aw19Hu).
Sau nhiều lần đốc thúc, ngày 18/7/2013, tức hơn một năm kể từ khi tôi gửi đơn thư tố cáo cho ông, ĐBQH Dương Trung Quốc đã chuyển cho tôi một văn bản bị cắt đầu cắt đuôi mà ông nói là của Bộ Công an trả lời Quốc hội về đơn thư của tôi. Văn bản trả lời đó đã chà đạp lên pháp luật khi không đếm xỉa gì đến Bản Cam Đoan viết tay do vợ của tôi viết:

Ngày 16/9/2013, tôi lại gửi đơn thư tố cáo mới cho ĐBQH Dương Trung Quốc, lần này do cả tôi và vợ tôi là Lê Thị Phương Anh ký:

Ngày 15/5/2014, tức 8 tháng sau khi chúng tôi gửi đơn thư cho ĐBQH Dương Trung Quốc mà không nhận được câu trả lời của cơ quan chức năng theo đúng luật định (quá thời hạn ít nhất là 5 tháng), Lê Thị Phương Anh bị Công an Đồng Nai bắt giam trái phép và bị kết án 1 năm tù giam theo Điều 258 BLHS. Theo Kết luận điều tra, Cáo trạng và Bản án của các cơ quan tố tụng tỉnh Đồng Nai thì cô Lê Thị Phương Anh khai rằng tôi đã ép buộc cô vi phạm pháp luật (vu khống các vị lãnh đạo đảng và nhà nước, v.v.). Tuy nhiên, tất cả những lời khai đó đều chỉ là lời khai một chiều, chưa có sự đối chất giữa tôi và cô Phương Anh, nên không thể dựa vào đó để kết tội tôi hay kết luận về vụ tố cáo.
Ngày 4/11/2015, trang Bauxite Việt Nam, diễn đàn của giới trí thức phản tỉnh trong nước, đã đăng bản “Yêu cầu giải quyết đơn thư tố cáo lãnh đạo Đảng và Nhà nước” của tôi, trong đó tôi đã lập luận cho thấy các cơ quan chức năng Việt Nam đã ngồi xổm trên pháp luật trong vụ tố cáo của tôi như thế nào.
Ngày 23/3/2017, tôi đã đến văn phòng của ĐBQH Dương Trung Quốc để hỏi về đơn thư tố cáo của tôi, nhưng không gặp. Tôi gọi điện và nhắn tin cho ông nhưng đều không được ông hồi âm.


Xem thêm:
(1) “Bị khủng bố đánh đập vì tố cáo lãnh đạo” trên RFAngày 15/10/2013 – https://goo.gl/7geVNJ; (2) “Thư ngỏ gửi ĐBQH Dương Trung Quốc về vụ tố cáo Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải” trên VOA ngày 28/3/2016 – https://goo.gl/b04p9q; (3) “Tài liệu tố cáo Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang bán nước” – https://goo.gl/lcZ1zD; (4) Băng ghi âm cuộc trao đổi giữa tôi, cô Lê Thị Phương Anh, ĐBQH Dương Trung Quốc và “luật sư” của ông vào ngày 22/10/2013: https://soundcloud.com/l-anh-h-ng-2/trao-doi-voi-dbqh-dtq-22-10. Chỉ vài giây sau khi rời khỏi văn phòng làm việc của ông Dương Trung Quốc, cô Phương Anh đã khẳng định ngay với tôi rằng: “Thằng nớ không phải luật sư mô. Thằng nớ là người của ông [Hoàng Trung] Hải chứ không phải luật sư mô” (phút 32:30 của đoạn ghi âm). Trong băng ghi âm, cô Phương Anh đã nhiều lần nhắc đến tên Hoàng Trung Hải.
Suốt 4 năm qua, tôi là cộng tác viên thường xuyên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ – xem trang blog cá nhân của tôi trên VOA tại địa chỉ: http://www.voatiengviet.com/author/23311.html.

Ông Vinh Nguyễn, người gửi email trên cho tôi, nguyên là
Trưởng ban VOA Việt ngữ từ 2007-2010.
Trang 3 Bản án số 12/2015/HSST ngày 12/2/2015 của Toà án Nhân dân Đồng Nai đã ghi rõ là  “đến tháng 8/2010 thì [Lê Anh Hùng] chữa bệnh xong”. Nghĩa là, ngay cả khi tôi có bị “tâm thần hoang tưởng” thì tôi cũng đã chữa bệnh xong và đủ năng lực chịu trách nhiệm hành vi trước pháp luật. Chính vì tôi đã đủ năng lực trách nhiệm hành vi nên Công an Đồng Nai cũng như Công an Hà Nội đã nhiều lần gửi “giấy mời” hoặc “giấy triệu tập” tôi đến làm việc.

Tại sao Công an có thể triệu tập tôi để “làm rõ về các bài viết đăng tải trên Internet” nhưng lại không mời tôi đến để làm rõ và giải quyết vụ tố cáo của tôi?
Tôi khẩn thiết yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết đơn thư tố cáo mà tôi đã gửi cho ĐBQH Dương Trung Quốc vào ngày 16/9/2013 theo đúng quy định của pháp luật. Nếu tôi tố cáo đúng thì phải xử lý những người bị tố cáo; nếu tôi tố cáo sai thì phải xử tôi về tội vu khống.
Hà Nội, ngày 18/12/2017
Lê Anh Hùng
Mobile Phone: 01292091829; Email: leanhhung2020@gmail.com
Skype: lehunglpa
Thư Tố Cáo lần thứ 82 này đã được gửi đồng loạt qua mạng Internet vào ngày 18/12/2017 đến các địa chỉ dưới đây:
Toà án Nhân dân Tối cao <tatc@toaan.gov.vn>, Hộp thư Tố giác Tội phạm - Bộ Công An <togiactoipham@canhsat.vn>, Bộ Quốc phòng <info@mod.gov.vn>, Đài Truyền Hình Việt Nam <thoisuvtv@vtv.vn>, Đài Tiếng Nói Việt Nam <toasoan@vovnews.vn>, Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam <dangcongsan@cpv.org.vn>, Báo Nhân Dân <nhandandientutiengviet@gmail.com>, Báo Quân Đội Nhân Dân <dientubqd@gmail.com>, Tạp chí Dân vận <tapchidanvan@gmail.com>, Báo Thanh Tra <thanhtradientu@thanhtra.com.vn>, Tạp chí Tuyên Giáo – Ban Tuyên giáo TW <tctg@tuyengiao.vn>, Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương <thiduakt@thiduakhenthuongvn.org.vn>, Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng <xttm@ckt.gov.vn>, Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam <banbientapvusta@gmail.com>, Hội Nông Dân Việt Nam <tonghophnd@gmail.com>, Hội Nhà báo Việt Nam <hnbvietnam@gmail.com>, Hội Nhà văn Việt Nam <vanvn.net@gmail.com>, Hội Sinh viên Việt Nam <vanphonghsvvn@gmail.com>, Thành Đoàn Hà Nội <hanoituoitre@gmail.com>, Ban Thư ký - Thông Tấn Xã Việt Nam <btk@vnanet.vn>, Báo Bảo Vệ Pháp Luật - Viện KSND Tối cao <info.baobvpl@gmail.com>, Báo Công Lý - Toà án ND Tối cao <baocongly@fpt.vn>, Báo Công An Nhân Dân <candonline@gmail.com>, Báo An Ninh Thủ Đô <antdonline@anninhthudo.vn>, Báo Biên Phòng <banthukybaobp@gmail.com>, Báo Đại Đoàn Kết <toasoan@baodaidoanket.com.vn>, Báo Cựu Chiến Binh Việt Nam <ccbvietnamdientu@gmail.com>, Báo Hà Nội Mới <webmaster@hanoimoi.com.vn>, Báo Sài Gòn Giải Phóng <sggponline@sggp.org.vn>, Báo Tuổi Trẻ <toasoan@tuoitre.com.vn>, Báo Tiền Phong <online@baotienphong.com.vn>, Tạp chí Quản Lý Nhà Nước <tcquanlynn@yahoo.com.vn>, Tạp chí Nhà Văn <tapchinhavanhnv@gmail.com>, Báo Công An Đà Nẵng <baocadn@gmail.com>, Thời báo Kinh Tế Việt Nam <vneconomy.vn@gmail.com>, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn <phathanh@thesaigontimes.vn>, Báo Công Thương <congthuongonline@gmail.com>, Báo Đầu Tư <baodautu.vn@gmail.com>, Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp <baodientu@dddn.com.vn>, Báo Đất Việt <datviet108@gmail.com>, Báo điện tử Vietnamnet <vads@vietnamnet.vn>, Báo điện tử VnExpress <webmaster@vnexpress.net>, Báo điện tử Dân Trí <info@dantri.com.vn>, Báo Giao Thông Vận Tải <bandoc@baogiaothong.vn>, Báo Giáo Dục & Thời Đại <gdtddientu@gmail.com>, Báo Phụ Nữ Tp HCM <toasoan@baophunu.org.vn>, Báo Du Lịch <baodulichdientu@gmail.com>, Báo Kiến thức <tkts@kienthuc.net.vn>, Báo Kinh Tế Nông Thôn <hungktnt@gmail.com>, Báo Lao Động <toasoan@laodong.com.vn>, Báo Người Lao Động <online@nld.com.vn>, Báo Nông Nghiệp Việt Nam <baonnvnts@gmail.com>, Báo Nông Thôn Ngày Nay <thoisu@danviet.vn>, Báo Pháp Luật Tp HCM <baophapluat@phapluattp.vn>, Báo Sài Gòn Tiếp Thị <info@saigontiepthi.vn>, Báo Thể Thao & Văn Hoá <toasoan@thethaovanhoa.vn>, Báo Tin Tức <toasoantintuc@gmail.com>, Báo Văn Hoá <baovanhoa@fpt.vn>, Báo Tài nguyên & Môi trường <baotainguyenmoitruong@gmail.com>, Báo Công An Nghệ An <baocana@gmail.com>, Tạp chí Xưa & Nay <Tapchixuavanay@yahoo.com>, Báo Ảnh Việt Nam <vietnamvnp@gmail.com>, Báo Vietnamnews vnnews@vnagency.com.vn

Cc: Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam <hoi-nhabao-doclap@googlegroups.com>, Đài Á Châu Tự Do <vietweb@rfa.org>, Trang mạng Bauxite Vietnam <bauxitevn@gmail.com>, Blog Nguyễn Tường Thuỵ <tuongthuy52@gmail.com>, blog Nguyễn Xuân Diện <xuandienhannom@gmail.com>, Thông Luận <info@ethongluan.org>, Blog Anh Ba Sàm <BTVBlogBaSam@gmail.com>, "VANGANH.INFO" <vanganh.contact@gmail.com>, Dân Làm Báo <lienlacdanlambao@gmail.com>, Radio Chân Trời Mới <lienlac@chantroimoimedia.com>, Chương trình Từ Cánh Đồng Mây <theheviet@verizon.net>, Đàn Chim Việt <bbt.danchimviet@gmail.com>, Báo Người Việt <news@nguoi-viet.com>, ĐBQH - nhà sử học Dương Trung Quốc <quocxuanay@yahoo.com>, Đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa <nghia.truong@ykvn-law.com>, GS Chu Hảo <haochu2008@gmail.com>, TS Lê Đăng Doanh <ledangdoanh@gmail.com>, Ông Vũ Quốc Tuấn <tuanvuquoc@gmail.com>, nhà báo Trần Đăng Tuấn <trandangtuanvfc@yahoo.com>, Ông Bùi Đức Lại <buiduclai@yahoo.com.vn>, Bà Phạm Chi Lan <phamchilan@gmail.com>, Nhà báo Tống Văn Công <vcongtong@gmail.com>, Thiếu tướng Lê Văn Cương <tuanla295@gmail.com>, GS Đặng Vũ Minh <gsdangvuminh@yahoo.com.vn>, Diễn đàn Lý luận Phát triển <nguyenvikhai@gmail.com>, Nguyen Quang A <anguyenquang@gmail.com>, ket tu <anhtuket@gmail.com>, Tuyet Le <anthanhchon@yahoo.com>, Kieu Anh Doan <asandcrab@gmail.com>, adidaphat006@yahoo.com.vn, Andre Menras <andremenras@gmail.com>, Dac Duy Ho <bacsihodacduy@gmail.com>, Khanh Tran <bakhanh02091954@yahoo.com>, Bang Tran <bangtran61@gmail.com>, "banhiem1936@yahoo.com" <banhiem1936@yahoo.com>, Bao An Pham <baoanpham@gmail.com>, "bavovn@yahoo.com" <bavovn@yahoo.com>, baytan77@yahoo.com, bim_bob2006@yahoo.com, Binh Nguyen <binh851937@yahoo.com.vn>, binh minh nguyen <binhminh.nguyenaz@gmail.com>, binhphanthanh@yahoo.fr, binhyenny@yahoo.com, "bmih_n@yahoo.com.vn" <bmih_n@yahoo.com.vn>, Bui Phuong Linh <bphuonglinh@gmail.com>, Bùi Chát <buibuichatchat@gmail.com>, Nhãn Bùi Kế <buikenhan@yahoo.com>, Nam Son Bui Van <buivannamson@gmail.com>, buuson2003@yahoo.com, lap cao <caolap0315@gmail.com>, Nguyen Ngoc Toan <caoquyanh@gmail.com>, caoson52@yahoo.com.vn, "cauthaivn@gmail.com" <cauthaivn@gmail.com>, Chan Tu <channapotec@gmail.com>, "chautluan@genevalink.ch" <chautluan@genevalink.ch>, Kim Thanh Hua Thi <chienhovan@yahoo.com>, "chilebs@gmail.com" <chilebs@gmail.com>, "chituyet1216@yahoo.com" <chituyet1216@yahoo.com>, comchaynangtam.hanoi@gmail.com, "congtrinhphan@yahoo.com" <congtrinhphan@yahoo.com>, mai oanh <contactoanh@yahoo.com>, HIỆP CỔ <cophamhieplan@gmail.com>, Cuong Nguyen Mau <cuongnguyenmau@gmail.com>, Nguyen Hieu Dan <dan.nguyenhieu@gmail.com>, Dang Nguyet Anh <dangnguyetanh@yahoo.com>, "dangthientgm@gmail.com" <dangthientgm@gmail.com>, dang quang Nguyen <dangquang42@gmail.com>, dangtranhonghai@davines.com.vn, Hong Hai Dang Tran <dangtranhonghai@gmail.com>, "daniele1953vn@yahoo.com" <daniele1953vn@yahoo.com>, Tien Dao Cong <daocongtien@gmail.com>, dat dao <daodat2009@yahoo.com>, Đào Tiến Thi <daotienthi09@gmail.com>, "dien1789@yahoo.com" <dien1789@yahoo.com>, "diepvanson@gmail.com" <diepvanson@gmail.com>, Nguyen Dinh Mai <dinhmai.nguyen@gmail.com>, DI PHAM VINH <diphamv@gmail.com>, Luong Mo Dang <dluongmo@yahoo.com>, Dung Tran Thi My <dntnhieule@gmail.com>, Pv Dinh <docgia2010@gmail.com>, dokimngan16@gmail.com, Khoi Do Trong <dotrongkhoi1@gmail.com>, Quang Do Bui <dovlhbu@gmail.com>, Ngoc Dung Le <dr.lndung@gmail.com>, Dr Dao Duy Chu <drchuvn@yahoo.com>, "drtapdds@yahoo.com.vn" <drtapdds@yahoo.com.vn>, "ducha@aol.com" <ducha@aol.com>, Dung Dzoan <dungdzoan@gmail.com>, Dung Hoang <dunghoang07@gmail.com>, Dung Thao <dungthao28@gmail.com>, Duong Vu Bach <duongvb309@gmail.com>, Gbta Công Minh <gbcongminh41@gmail.com>, giakhanh20@yahoo.com.vn, hanh.vuongthi@gmail.com, Han Nguyen <hannguyennguyen@yahoo.com>, quangvinh ha <haquangvinh0@gmail.com>, "hdchung06@gmail.com" <hdchung06@gmail.com>, Nhan Ha <hh260298@gmail.com>, hiephongtung@yahoo.com.vn, Huỳnh Kim Báu <hkbau1944@yahoo.com>, Mai Tran <hlslmai@gmail.com>, Bình nguyễn <hoabinh.nguyen53@gmail.com>, Hoa TA THANH <hoaevn@gmail.com>, hoanganhhoanganh79@yahoo.com, Hoang Huynh Kim <hoangha1947@gmail.com>, hoanghoaniem@yahoo.com, "hoanghy37@yahoo.com" <hoanghy37@yahoo.com>, hoanglgiang@hotmail.com, hoang Liem <hoangliem66@gmail.com>, Hoang Minh Quang <hoangminhquang@gmail.com>, Hoàng Bùi <hoang.bui@artemis.com.vn>, Hoang An <hoangngocanan@gmail.com>, than hoang quy <hoangquythan@gmail.com>, hoangthnhatle@yahoo.com.vn, Thuc Tan Hoang <hoangthuctan@gmail.com>, Hoang Tuy <hoangtuy1927@gmail.com>, Hongco Nguyen <hongco.nguyen@gmail.com>, honggiangphan2341@yahoo.com, Dinh Tran Toan <honghoatrantoan@gmail.com>, Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>, HongTuyen Pham <hongtuyen.pham@gmail.com>, "honheo@gmail.com" <honheo@gmail.com>, Ba Tan <hothetan72@gmail.com>, Ho Thieu Hung <hothieuhung@gmail.com>, An Hồ Trí <hotrian1948@gmail.com>, "hung.nd@vgu.edu.vn" <hung.nd@vgu.edu.vn>, HÙNG DŨNG LÊ <hungdunglhd@gmail.com>, "hungmanh.giahoa@yahoo.com" <hungmanh.giahoa@yahoo.com>, Phuong Nguyen <hungphuong53@gmail.com>, huong tran <huonghn73@yahoo.com>, Đình Huy Vũ <huy_vudinh@yahoo.com>, "huynhminhtam49@yahoo.com.vn" <huynhminhtam49@yahoo.com.vn>, huynhpharm@yahoo.com, Huynh Mam <huynhtanmam@gmail.com>, ichphkh@yahoo.com.vn, John Gallup <jlgallup@pdx.edu>, Vũ Trọng Khải <khai.hendainhan@gmail.com>, "khanh_tranhuu@yahoo.com" <khanh_tranhuu@yahoo.com>, Trâm Nguyễn thị khánh <khanhtramnt@gmail.com>, Huynh Hieu <khoiphonghoang@gmail.com>, "khuongtd@yahoo.com" <khuongtd@yahoo.com>, kieuquochoan@yahoo.com, "kimhoang@giadinh.edu.vn" <kimhoang@giadinh.edu.vn>, Kim Khanh Nguyen <kimkhanh.nbcl@gmail.com>, Ho Thi Kim <kimthiho01@gmail.com>, kinh_hominh@yahoo.com, Khanh nguyen <kinhduongvuong2012@yahoo.com>, nguyen lac <lacnguyen155@yahoo.com>, "laithianhhong2011@yahoo.com" <laithianhhong2011@yahoo.com>, lananhle2003@yahoo.com, Giau Le Cong <lcgiau45@gmail.com>, lebaminh@yahoo.com, Thao Le <ledoanthao@gmail.com>, lehiep08@yahoo.com.vn, My Lengoc <lenmyvn@yahoo.com>, Tam Le <letamkhcn@gmail.com>, thanh van le <lethanhvan10102012@gmail.com>, lethihoang anh <lethihoanganh@gmail.com>, Thanh Phong <letiensinh1965@gmail.com>, Bach Le <letrungbach@gmail.com>, "letruonghai1955@yahoo.com" <letruonghai1955@yahoo.com>, letruyenhn@yahoo.com, Bunshin Shimamura <levantamhts@gmail.com>, loc tran <loctran340@gmail.com>, "long_tranvan@yahoo.com" <long_tranvan@yahoo.com>, Nguyen Thi Sam <longdinhduc@hotmail.com>, "ls.thugiang@yahoo.com.vn" <ls.thugiang@yahoo.com.vn>, luanle@ueh.edu.vn, "luongvanly52@gmail.com" <luongvanly52@gmail.com>, Luu Trong Van <luutrongvan@gmail.com>, "maiquanthuong2003@yahoo.com" <maiquanthuong2003@yahoo.com>, Mai Văn Tuất <maivantuat@gmail.com>, manhcan28@yahoo.com, manhcuong1881995@yahoo.com.vn, "manhhung1953@yahoo.com" <manhhung1953@yahoo.com>, mavankhangnv@yahoo.com, Nguyen Nhung <mebeuyen2012@gmail.com>, Truong Son Nguyen <mgntson@gmail.com>, Hanh Nguyen <mhanhtt@gmail.com>, mhanhtt23@yahoo.com, Duc Thang Mien <mienducthang@gmail.com>, minhduong2002 <minhduong2002@gmail.com>, minhgiac2007@yahoo.com, minhlongcty@yahoo.com, minhngaanh@yahoo.com, minhtuonghoang@yahoo.com, Khue Nguyen <mobikh@gmail.com>, muoidinh@gmail.com, "muoithon@yahoo.com" <muoithon@yahoo.com>, myhomesvn@yahoo.com, myselfvn@yahoo.com, "mytuan55@yahoo.com" <mytuan55@yahoo.com>, "namphuong204@yahoo.com" <namphuong204@yahoo.com>, nam16hu@yahoo.com, Hung Hoang <ndtm42@gmail.com>, Duy Nguyen <nd7347@yahoo.com>, Nguyễn Đông Yên <ndyen@math.ac.vn>, Duc Dan Nguyen <ngducdan36@gmail.com>, nghi.trnng@yahoo.com, nghiadungkaratedo@gmail.com, nguy huu Tam <nghtam9@googlemail.com>, ngiahao@gmail.com, hanh ngoc <ngochanh_48@yahoo.com.vn>, ngoctrai1203@yahoo.com.vn, ngocpxqm@gmail.com, kimhoa ngo <ngokimhoa2001@yahoo.com>, Ngo Le Van <ngolevan45@yahoo.com.vn>, Thuc Lanh Ngo <ngothuclanhyenhoa@gmail.com>, Nguyễn Thị Ngọc Toản <ngtngoctoan84@gmail.com>, Kimchi Nguyen <nguoichanthanh1943.rg@gmail.com>, nguyencongbinhsdl@yahoo.com, Nguyen Giac Phan Tan Hai <nguyengiac@yahoo.com>, Nguyễn thị Hậu <nguyenhau_vxh@yahoo.com.vn>, Nguyen Huutoan <nguyenhuutoan40@gmail.com>, Phi Nguyễn khoa <nguyenkhoaphivn@gmail.com>, lai nguyen <nguyenlai1952@gmail.com>, nguyenminhhoasg@yahoo.com, minh nhị nguyễn <nguyenminhnhiag@gmail.com>, Minh Thuyet Nguyen <nguyenminhthuyet95@gmail.com>, giao nguyen ngoc <nguyenngocgiao40@gmail.com>, Nguyen Ngoc <nguyenngocpct@gmail.com>, nguyenngocqn@yahoo.com, Pham Xuan Nguyen <nguyennhachoa@gmail.com>, Hồ Hiếu <nguyenphongho@gmail.com>, nguyenphuyen <nguyenphuyen@yahoo.com>, nguyenquochung36@gmail.com, DanhTai Nguyen <nguyentaidanh1962@gmail.com>, Hue Amy Nguyen <nguyentanh1938@gmail.com>, nguyenthituhuy@gmail.com, Trác Nguyễn <nguyentracbn@gmail.com>, Nguyen Trung <nguyentrungvt@gmail.com>, Nguyen Van Le <nguyenvanle546mp@yahoo.com>, Ku Nguyen Van <nguyenvanku@gmail.com>, nguyenvantrinh1970@gmail.com, Nguyễn Viện <nguyenvien49@gmail.com>, Vi Khai <nguyenvikhai@yahoo.com.vn>, "nguyenxnghia@yahoo.com" <nguyenxnghia@yahoo.com>, Nguyen Tran Duc <nguyen4gai@gmail.com>, Nguyet Minh <nguyethuynh2011@gmail.com>, "nguynkhue@yahoo.com.vn" <nguynkhue@yahoo.com.vn>, nha.thongchien@googlemail.com, nhanria1@yahoo.com.vn, "nhatrang1944@yahoo.com" <nhatrang1944@yahoo.com>, Nhuan Ho Ngoc <nhuanho1935@gmail.com>, Hai Thanh <nhuan.thanhhai@gmail.com>, Nhu Ly Do <nhudonhu.2011@gmail.com>, Nguyen Khac Suong <nksuong@gmail.com>, kim nguyen <nltkim13@yahoo.com>, man vinh <npvinhman1931@gmail.com>, Vinh Nguyễn Quang <nqvi2009@gmail.com>, Nguyen Van An <nvanan@gmail.com>, Nguyenh Hanh <nvhanh45@gmail.com>, "orgami2006@yahoo.com" <orgami2006@yahoo.com>, Paulo Thành Nguyễn <paulothanhnguyen@gmail.com>, Hien Pham <pdhien@gmail.com>, Huỳnh Thục Vy <peacecomfort.hoang@gmail.com>, pham le vuong Cac <pham.cac@gmail.com>, pham_ngoc_ky@gmx.net, Truc Pham Chanh <phamchanhtruc@gmail.com>, Minh Pham Gia <phamgiaminhvn@gmail.com>, Pham Ngoc Hue <phamngochue83@gmail.com>, Pham Thu Ha <phamthuha219@gmail.com>, Toàn Phạm <phamtoannhamthan@gmail.com>, phamxuandai2007 <phamxuandai2007@gmail.com>, Lu Phandac <phandaclu1937@gmail.com>, philong huynh <philonghu@gmail.com>, "phmvnthai2005@yahoo.com" <phmvnthai2005@yahoo.com>, "phuandinhsg@gmail.com" <phuandinhsg@gmail.com>, Phuongcuc Nguyen <phuccuong_qt@yahoo.com.vn>, Dinh Kim Phuc <phuckimdinh@yahoo.com>, HOANG FUC <phuochs@gmail.com>, phuoc nguyenhuu <phuocnh44@gmail.com>, phuonghanoi29@yahoo.com.vn, Phuong Nguyen Hong <phuongnau@hotmail.com>, VanPhuong Ngo <phuongngov@gmail.com>, ppn.trai@gibc.com.vn, pvquynhhuong@yahoo.com, Nguyen Van Hanh <qnhanh0312@yahoo.com>, Quang Nguyen Tien <quang17@gmail.com>, "quehuongtoquoc@yahoo.com" <quehuongtoquoc@yahoo.com>, Tran Quoc Thuan <quocthuanct@yahoo.com>, Thuần Nguyễn Quốc <quocthuanct@gmail.com>, Tran Rang <rangtransg@gmail.com>, giang nguyen <saigonvietnam2016@gmail.com>, Hoang Vu <syhoangvu@gmail.com>, Thuy K Tran <t_khangthuy@yahoo.com>, anhtuan lê <taamvu@yahoo.com>, Le Nhut Tan <tanlenhut@gmail.com>, tatrihai@yahoo.com, tat nguyenvan <tat2kus@gmail.com>, But Trần <tdbut2911@yahoo.com.vn>, Dinh Tuyen Truong <tdtuyen42@gmail.com>, thaihien305 petrusthai <thaihien305@gmail.com>, Hai Thanh Than <thanhaithanh@gmail.com>, thanhhu@aol.com, Thanh-Long Nguyen <thanhlong2728@yahoo.com>, Thethanh Nguyen <thethanh1953@gmail.com>, Thien Nguyen <thienfocus@gmail.com>, Thien Vovan <thienmattrantw@gmail.com>, tu tran <thientu39@gmail.com>, thieny1960@yahoo.de, thieund_dna@yahoo.com, thinh.nguyen@trinitymediaww.com, Binh Thinh Thai <thinhthaibinh54@gmail.com>, Trần Hồng Quân <thquan37@gmail.com>, thuahop@yahoo.com, "thuan_nguyenle@yahoo.com.vn" <thuan_nguyenle@yahoo.com.vn>, thuanhv nguyenba <thuan0401@gmail.com>, Mai Thu Ha <thuha.mai@gmail.com>, "thulanthai04@yahoo.com.vn" <thulanthai04@yahoo.com.vn>, Thuong Binh <thuong_binh@yahoo.com>, thu thuy nguyen <thuthuyhotay@gmail.com>, trinhhoangdieu111@yahoo.ca, Truc Nguyen <trinhtruc@gmail.com>, trucnguyensd@yahoo.com, trung hieu <trung.hieu.dao2010@gmail.com>, Trung Hà Tuấn <trunghatuan@gmail.com>, truong_dinhthao@yahoo.com.vn, "truonghonglien2012@gmail.com" <truonghonglien2012@gmail.com>, "tuongquang45@gmail.com" <tuongquang45@gmail.com>, Tuan Nguyen <Tuan_nguyen@bostonglobalforum.org>, Tuan Anh Truong <tuananhmaster@gmail.com>, Tuấn Đỗ Minh <tuancine@gmail.com>, Tran quang Tuan <tuandcs01@gmail.com>, "Tuan Hai Nguyen," <tuanhai2210@gmail.com>, Trần Tươi <tuoitranncv@gmail.com>, Tuyet Huynh <tuyethuynh253@gmail.com>, tv_thang@yahoo.com, Ngac Tran Viet <tvngac@gmail.com>, "uthuy57@yahoo.com" <uthuy57@yahoo.com>, Uyên Kha <uyenkha1955@gmail.com>, vananh_02@yahoo.com, Van Cao <vancao.pasteur@gmail.com>, vanngoctam195@yahoo.com, Nguyen Van Trong <vantrongnguyen40@gmail.com>, Vu Cao Dam <vcd.precen@gmail.com>, Vi Anh Phuoc <vianh106@gmail.com>, Viet stars <vietcosmos@yahoo.com>, Việt Dân Nguyễn <vn.nuocoi@gmail.com>, Vinh Thang Vinh Thang <vinhthangbtn@gmail.com>, vutuan_hongha@yahoo.com, "T. Phuong Anh Vu" <vtpanh@gmail.com>, Phú Vũ Duy <vuduyphu36@gmail.com>, Vu Tran <vuhaianh5256@gmail.com>, Vũ Kim Hạnh <vukimhanh2003@yahoo.com>, ManhLoi Vu <vumanhloi@gmail.com>, "vuongchu171@gmail.com" <vuongchu171@gmail.com>, "xuanngu@ymail.com" <xuanngu@ymail.com>, Xuan Phuong <xuanphuonglotus@gmail.com>, Y Thao garden <ythaogarden@gmail.com>, Trần Văn Huỳnh <2tranvanhuynh@gmail.com>, Nguyen Piu <92piunguyen@gmail.com>, nguyen thuy <thuynguyen@bell.net>, Xuan Su Pham <phamxuansu2008@gmail.com>, Lợi Đoàn <dtloi.vkttl@gmail.com>, Thi Bui <buivietthi@gmail.com>, Thanh Tran <thanhe9@gmail.com>, vutronghong@gmail.com, haitt@pvn.vn, datthuyloi@yahoo.com, Phuc Dan <dantiepphuc@gmail.com>, Nguyen trung dzung <ntdzung990@gmail.com>, khanhtin71 <khanhtin71@gmail.com>, Nguyen Thi Phuong Lam <ntplam@gmail.com>, Do Phuong Lan <phuonglanmpi@gmail.com>, Thai Nguyen quang <thai.nguyenquang@gmail.com>, Hien Nguyen <nguyenbachphuc@gmail.com>, Hoi TranDinh <trandinhhoitl@yahoo.com>, Trần Đức Nguyên <tranducnguyen@gmail.com>, Nguyen Thu Linh <nguyenthulinh98@yahoo.com>, vu_nhat_khai <vu_nhat_khai@yahoo.com.vn>, Do Hoang <donguyenhn@yahoo.com>, viet36thien <viet36thien@yahoo.com>, doquangtuanbdvtw <doquangtuanbdvtw@gmail.com>, maiminhtriet <maiminhtriet@gmail.com>, maithuc_lan@yahoo.com, Luu Phuong <fuongluu@gmail.com>, Tiến Dân Nguyễn <nguyentiendan55@gmail.com>, Nhan Cong Thi Le <claudemonetanna@gmail.com>

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

‘Mật ước Thành Đô’: nên hiểu thế nào?

Lê Anh Hùng | VOA| 13.12.2017



Hội nghị Thành Đô là một chủ đề gây rất nhiều tranh cãi ở Việt Nam cũng như trong các cộng đồng người Việt hải ngoại suốt nhiều năm qua.
Chỉ 4 ngày sau khi được Đại sứ Trung Quốc thông báo, ba nhà lãnh đạo Việt Nam là TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đã có mặt tại Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) vào đúng ngày Quốc khánh lần thứ 45, trong khi Đặng Tiểu Bình thậm chí không thèm xuất hiện như lời hứa hẹn lấp lửng ban đầu.
Bối cảnh
Cuối thập niên 1980, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bắt đầu chao đảo trước khi sụp đổ hàng loạt.

Về phần mình, mặc dù đã thực hiện cải cách kinh tế từ sau Đại hội VI nhưng Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng về chính trị - kinh tế - xã hội vốn bắt đầu ngay từ năm 1975.
Lo sợ cho số phận của mình và tự huyễn hoặc “dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước XHCN”, một số nhân vật chủ chốt trong ban lãnh đạo CSVN, đứng đầu là TBT Nguyễn Văn Linh, đã quay sang ôm chân các ông chủ Trung Nam Hải, bất chấp thực tế là trước đó Bắc Kinh đã đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động cuộc chiến tranh biên giới từ 1979 - 1989, thảm sát 64 quân nhân Việt Nam rồi chiếm đảo Gạc Ma năm 1988.
Mật ước Thành Đô?
Từ nhiều năm trước, trong dư luận đã lan truyền thông tin rằng kết quả Hội nghị Thành Đô là một bản mật ước, theo đó lãnh đạo CSVN đề nghị và lãnh đạo Trung Quốc đồng ý để Việt Nam trở thành một khu vực tự trị của Trung Quốc.
Đến tháng 5/2014, một số trang mạng thậm chí còn đăng tải nội dung của bản “mật ước” (được cho là do Hoàn Cầu Thời Báo và Tân Hoa Xã công bố): “…Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…”
Đâu là sự thật?
Trong cuốn hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của mình, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã tiết lộ: “Sau 2 ngày nói chuyện (3 - 4/9/1990), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là ‘Biên bản tóm tắt’ gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.”
Nghĩa là, Hội nghị Thành Đô kết thúc song việc bình thường hoá quan hệ hai nước, điều mà ban lãnh đạo Việt Nam nóng lòng mong đợi, vẫn chưa chốt lại được. Vì thế, giả thuyết về bản “mật ước” kia rõ ràng là thiếu cơ sở.
Thậm chí ngay cả “Biên bản tóm tắt” 8 điểm nói trên cũng không được phía Việt Nam thực hiện đầy đủ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự phản đối của Bộ Ngoại giao dưới quyền Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, với sự đồng tình của một vài uỷ viên Bộ Chính trị khác, như Thứ trưởng Trần Quang Cơ đã thuật lại trong hồi ký. (Trong cuộc họp kiểm điểm về Hội nghị Thành Đô, Phó Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “…Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”)
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974-1987) cho biết là mặc dù cùng 19 cựu sỹ quan cao cấp khác ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu minh bạch hóa Hội nghị Thành Đô song ông cũng không tin vào thông tin phía Trung Quốc đưa ra.
Đại tá Nguyễn Văn Tuyến (cán bộ tiền khởi nghĩa và là thành viên sáng lập CLB chống tham nhũng, tiêu cực của các vị lão thành cách mạng ở Hà Nội) cho chúng tôi biết là trong một cuộc gặp với Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh, khi ông đề cập đến “Mật ước Thành Đô”, ông Huynh khẳng định đích thân ông ta đã vào kho lưu trữ của đảng để tìm nhưng không hề thấy bản “mật ước” đó. (Lãnh đạo cộng sản nói thì không hẳn là đáng tin, song điều đó không có nghĩa là họ chưa bao giờ nói thật. Và sự khẳng định của nhân vật số 5 trong ban lãnh đạo Việt Nam phù hợp với logic ở trên, cũng như với một tài liệu được cho là của Ban Tuyên giáo Trung ương năm 2014 nhằm giải thích về Hội nghị Thành Đô.)
Toan tính gì?
“Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán.” Thông tin về “Mật ước Thành Đô” được Bắc Kinh tung ra ngay giữa lúc họ đưa giàn khoan HD981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 2/5 đến 15/7/2014. Rõ ràng, họ muốn qua đó để biện hộ cho hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam, gây chia rẽ trong ban lãnh đạo CSVN, khiến người Việt trong và ngoài nước bị phân hoá, và cuối cùng là làm suy yếu nỗ lực của Hà Nội trong việc chống lại hành vi ngang ngược đó.
Mặc dù nội dung cụ thể của “Mật ước Thành Đô” được Bắc Kinh “tiết lộ” vào thời điểm họ đưa giàn khoan HD981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhằm mục đích như chúng tôi đã đã chỉ ra, song thông tin về sự tồn tại của nó thì đã xuất hiện từ lâu. Vậy động cơ của họ là gì?
Quả thực, không khó để nhận ra toan tính của Bắc Kinh khi cho lan truyền thông tin về “Mật ước Thành Đô”. Đây thực sự là một mũi tên trúng nhiều đích theo đúng bản chất “thâm như Tàu” của họ: (i) khiến những người Việt tâm huyết với công cuộc chống bành trướng Trung Quốc nản lòng (do nghĩ rằng mọi nỗ lực đều vô ích bởi cái văn kiện bán nước kia); (ii) làm phân tâm những người chống hiểm hoạ Trung Quốc tại Việt Nam (thay vì lẽ ra cần tập trung vào việc vạch trần và ngăn chặn bàn tay tội ác của “nhóm lợi ích Tàu” trong bộ máy hiện hành thì họ lại phung phí thời gian và công sức vào việc tranh cãi hoặc lên án và đòi bạch hoá một chuyện không có thật trong quá khứ); và (iii) khiến cho người dân bình thường không tin tưởng vào truyền thông phi chính thống (khi thấy trên mạng toàn loan truyền những thông tin nhảm nhí).
Không chỉ nặn ra cái gọi là “Mật ước Thành Đô”, Bắc Kinh thậm chí còn dựng lên cả một câu chuyện kỳ bí qua tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” của Hồ Tuấn Hùng. Theo đó, Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Sinh Cung (nguyên quán Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An), mà là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. (Ngoài những mục đích nêu trên, điều này còn giúp dọn đường dư luận để “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải ngày càng “chui sâu, leo cao” và cuối cùng là thâu tóm chiếc ghế Tổng Bí thư.)
Không còn nghi ngờ gì, “Mật ước Thành Đô” là một câu chuyện bịa đặt nhằm phục vụ mưu đồ đen tối của Trung Nam Hải. Việc nhà cầm quyền CSVN không công khai Thoả thuận Thành Đô là vì đó không chỉ là một thất bại nhục nhã trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, mà còn là bằng chứng không thể chối cãi về hành vi “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ” của họ. Chỉ chừng ấy thôi họ đã bị lịch sử và nhân dân đời đời lên án, chứ đừng nói đến chuyện mưu toan biến Việt Nam thành một bộ phận của “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Ngoài ra, ngay cả khi “Mật ước Thành Đô” là sự thật đi nữa thì nó cũng không có giá trị pháp lý, bởi nó không tuân theo những trình tự pháp lý thông thường của một hiệp ước giữa hai quốc gia. Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hoàn toàn không đủ chính danh để đóng dấu hiệu lực vào một hiệp ước vô cùng hệ trọng như thế. Trong khi đó, những người ký kết “mật ước” đó hoặc đã chết, hoặc gần như không còn ảnh hưởng trên chính trường, nên nó lại càng vô giá trị.
Trong một bài viết trước đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng, nếu các bản tuyên bố chung Việt - Trung xưa nay luôn được Hà Nội thực hiện đúng thì Việt Nam đã trở thành “một bộ phận không thể tranh cãi của Trung Quốc” từ lâu, chứ chẳng cần phải đợi đến khi “Mật ước Thành Đô” được thi hành. Điều này không xẩy ra bởi thực tế là trong ban lãnh đạo Việt Nam luôn tồn tại những thành phần ý thức được hiểm hoạ phương bắc mà Bắc Kinh chưa thao túng được (chẳng hạn như Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt trong “Hồi ức và Suy nghĩ”), bên cạnh áp lực từ một công chúng vốn ngày càng bộc trực và “dị ứng” với những gì liên quan đến Trung Quốc.
Bất luận thế nào, việc đất nước chúng ta ngày càng bị các gọng kìm của Đại Hán siết chặt như hiện nay không phải là vì “Mật ước Thành Đô” kia, mà chính là vì 90 triệu người Việt, đặc biệt là những tinh hoa của giống nòi, đã làm chưa đủ để bảo vệ giang sơn gấm vóc mà tổ tông đã đổ bao máu xương để dựng xây, gìn giữ.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

Đằng sau vụ La Thăng

Lê Anh Hùng | VOA| 11.12.2017



Chính trường cộng sản Việt Nam xưa nay vốn hết sức phức tạp và khó lường. Đó là thực tế mà có lẽ người Việt nào cũng nhận ra.
Phức tạp là bởi các màn so đấu giữa các võ sỹ quyền lực đều diễn ra trên những vũ đài bị nhiều lớp màn đen che chắn, công chúng bên ngoài không thể nhìn thấy gì. Khó lường là bởi bàn tay lông lá của Bắc Kinh đã thò vào mọi ngóc ngách của thượng tầng chính trị Việt Nam, không phải mới gần đây mà ngay từ thập niên 1950.
Rốt cuộc thì quyền lực chính trị dưới “thời đại Hồ Chí Minh” cũng chỉ được các phe nhóm thoả hiệp với nhau trong bóng tối. Người dân chỉ còn mỗi nghĩa vụ cao cả là đi bỏ phiếu (mà nếu không đi thì cũng chẳng sao), đại biểu quốc hội hay đại biểu hội đồng nhân dân chỉ còn mỗi trách nhiệm thiêng liêng là hoặc nhất tề giơ tay hoặc đồng loạt “nhấn nút” để đóng cái dấu “dân chủ xã hội chủ nghĩa” vào sự phân chia ngôi thứ vốn đã xong từ lâu.

Trong bối cảnh đó, vụ cựu Uỷ viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị bắt quả thực là bất ngờ đối với dân chúng, không chỉ bởi đây là sự kiện chưa từng có, mà còn bởi những gì diễn ra trên sân khấu chính trị Việt Nam kể từ Hội nghị Trung ương 6 thượng tuần tháng 10 đến nay.
Vậy đằng sau sự kiện chấn động dư luận ấy là gì?
Nguyễn Phú Trọng lấy lại uy thế
Trên thế gian này hiếm có một nhà lãnh đạo quốc gia nào mà quyền lực cứ hết trồi lại sụt như đương kim TBT Ban Chấp hành TW Đảng CSVN. Điều này giải thích cho lý do tại sao khi thì ông ta tuyên bố hùng hồn như một nhà độc tài quyền uy tuyệt đối, khi thì phát ngôn như một diễn viên mới tấp tểnh bước vào nghề tấu hài chính trị.
Suốt gần 5 năm hết loay hoay “nhóm” lại đến hì hục “thổi”, cái “lò” chống tham nhũng của ngài TBT cứ hễ hơi âm ấm một chút là lại rơi vào cảnh nguội ngắt không lâu sau đó. Lý do ư? Chẳng phải chính ông ta đã “tự thú trước bình minh”là “Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà tay đã nhúng chàm thì không thể chống được tham nhũng” hay sao?
Và mãi đến ngày 31/7, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng, khi ngài vung tay quả quyết “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy”, lần đầu tiên người ta mới nhận thấy sức nóng từ cái “lò” của ngài đã bắt đầu toả ra bên ngoài.
Trước thềm Hội nghị Trung ương 6, “lò” chống tham nhũng của ngài TBT đã khiến bầu không khí chính trị Việt Nam nóng lên từng ngày. Điều đó khiến nhiều người chắc mẩm là trong và sau hội nghị, thể nào cũng được chứng kiến những “khúc củi” bự bị ngài thẳng tay ném vào “lò”.
Khí thế đi lên của nhân vật đứng đầu “cung vua” thể hiện rõ qua bài diễn văn khai mạc Hội nghị, khi ông ta ‘dìm hàng’ “phủ chúa” dưới sự điều hành của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đối thủ đáng kể nhất của ông ta trong bối cảnh Chủ tịch nước Trần Đại Quang chỉ còn sắm vai “ông phỗng”trên sân khấu chính trị: “Đặc biệt là cần chỉ rõ nguyên nhân vì sao một số việc chưa làm được, một số chỉ tiêu đạt thấp hoặc chưa đạt trong 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước, mặc dù tình hình trong nước và quốc tế năm 2017 nhìn chung thuận lợi hơn so với năm 2016.”
Vậy nhưng đó cũng là chỉ dấu duy nhất cho thấy một Nguyễn Phú Trọng quyền uy tột đỉnh trong suốt hơn 1 tuần hội nghị.
Chứng kiến “khúc củi” duy nhất mang tên Nguyễn Xuân Anh bị tống vào “lò”, cùng câu chốt hạ “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm” trong bài diễn văn bế mạc hội nghị, người ta không khỏi có cảm giác là vở tuồng “Đốt Lò” do ngài TBT đạo diễn đã sớm hạ màn. Đặc biệt, phần đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội dưới sự điều hành của chính phủ là một bảng thành tích hiếm hoi mà có lẽ lần đầu tiên “cung vua” ban tặng cho “phủ chúa”, hoàn toàn tương phản với âm hưởng của bài diễn văn khai mạc. Rõ ràng, song song với chiều hướng đi xuống của “cung vua” là vị thế đi lên của “phủ chúa”.
Sau Hội nghị Trung ương 6, khẩu khí của Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chùng xuống, khác hẳn với khí thế mà ông ta đã thể hiện từ ngày 31/7 cho đến ngày khai mạc hội nghị. Thiên hạ thì cứ đoán già đoán non vì sao cái “lò” của ngài Trưởng ban đang hừng hực đột nhiên lại tắt ngóm.
Trong bối cảnh đó, ngày 15/11, Thanh tra Chính phủ tổ chức họp báo công bố việc Hà Nội để thất thu số tiền lên tới 6.000 tỷ VNĐ từ hàng loạt sai phạm trong các dự án nhà ở giai đoạn 2002-2014. Nên nhớ, ông Trọng từng làm Bí thư Hà Nội từ năm 2000 đến 2006, và lâu nay trong dư luận vẫn râm ran chuyện ông ta từng nhận 2 căn biệt thự trong khu đô thị Nam Thăng Long để giúp chủ đầu tư Ciputra trốn thuế. Động thái này vì thế được xem là của các đối thủ nhằm “dằn mặt” ngài TBT.
Tiếp theo, ngày 19/11, một sự kiện hy hữu đã diễn ra trong chương trình thời sự 19h của VTV: tin Thủ tướng Chính phủ tham dự Hội nghị xúc tiến đầu tư tại Bắc Kạn được phát trước tin Tổng Bí thư kiểm tra công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Đây là chỉ dấu để những ai am hiểu nội tình Ba Đình nhận ra rằng Nguyễn Phú Trọng đã thất thế.
Và sau cuộc tiếp xúc cử tri tại Hà Nội ngày 29/11, ngài TBT đột nhiên “im hơi lặng tiếng” suốt 8 ngày tiếp theo. Hiện tượng bất thường của người đứng đầu chính thể cộng sản tại Việt Nam khiến nhiều người phải đặt câu hỏi: “Ông Trọng đang ở đâu?”
Sự kiện ông Trọng bất ngờ xuất hiện trở lại trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 8/12 và vụ Đinh La Thăng bị bắt sau đấy không che dấu được thực tế là suốt hai tháng trước đó, quyền lực của ngài TBT liên tục đi xuống và rơi xuống mức thấp nhất kể từ khi ông ta tiếp quản ngôi vị số 1 đầu năm 2011. (Chúng tôi sẽ phân tích về “sự biến 8/12” này trong một dịp thích hợp.) Và vị thế của ông ta cũng chỉ mới “trồi” lên được hơn một ngày thì đã “sụt” trở lại: Trong một diễn biến chưa từng có, tối mồng 9 tháng 12, TTX Việt Nam cùng một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đã đăng bài “cáo lỗi” vì đưa tin sai về vụ hai cựu Tổng Giám đốc PVN Phùng Đình Thực và Đỗ Văn Hậu bị khởi tố và bắt giam chỉ vài giờ trước đó.
Mọi khả năng còn để ngỏ
Tuy Đinh La Thăng đã bị bắt nhưng nếu cho rằng số phận viên cựu Bí thư Sài Gòn coi như đã an bài thì e là vội vã. Nhận định này xuất phát từ ít nhất 3 lý do dưới đây.
Thứ nhất, như chúng tôi đã trình bày đầu bài viết, chính trường Việt Nam vô cùng phức tạp và khó lường, trong khi ngài TBT khả kính của chúng ta lại là nhà lãnh đạo quốc gia hiếm hoi trên thế giới mà quyền lực cứ liên tục hết thăng lại giáng. (Đó là xét trên bình diện thế giới, chứ còn trong lịch sử Việt Nam thì ông ta là nhân vật “độc nhất vô nhị”.)
Thứ hai, ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” có một “tử huyệt” không những đủ khiến ông ta bị hất khỏi chiếc ghế TBT mà còn giúp ông ta sánh ngang với những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc trong lịch sử. Đó là việc ông ta, trên cương vị Chủ tịch Quốc hội, đã phê chuẩn “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải làm Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế từ ngày 2/8/2007 rồi đưa nhân vật cầm đầu “nhóm lợi ích Tàu” tại Việt Nam này vào chễm chệ trong Bộ Chính trị và làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Thủ đô từ sau Đại hội XII đến nay. (Vấn đề đối với các đối thủ của ngài TBT đơn giản là vì “tử huyệt” này quá ư “nhạy cảm”, “nhạy cảm” hơn bất cứ chuyện gì ở Việt Nam nhiều năm qua.)
Thứ ba, mặc dù đã bị khởi tố và bắt giam, nhưng Đinh La Thăng mới chỉ bị “tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội” và “đình chỉ sinh hoạt đảng”. Quyết định số 63-QĐNS/TW về việc “đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đồng chí Đinh La Thăng” do Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính ký ghi rõ: “Thời hạn đình chỉ được tính theo thời hạn quy định của pháp luật (kể cả gia hạn, nếu có).” Nghĩa là, Đinh La Thăng hoàn toàn có thể “trắng án” trước khi được khôi phục tư cách đảng viên, tư cách ĐBQH lẫn các chức vụ trong bộ máy, bởi ông ta chưa bị “khai trừ” hay “cách” bất cứ chức vụ nào. (Điều này đã từng xẩy ra với cựu Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến năm 2008 trong vụ bê bối PMU18, sau khi bị giam 18 tháng. Việc Nguyễn Việt Tiến cuối cùng vẫn bị lột hết chức vụ chỉ là vì Nông Đức Mạnh sau khi “thoát hiểm” vụ PMU18 lại trở thành đối tượng trong một tố cáo đặc biệt nghiêm trọng nên chỉ còn biết giương mắt nhìn đệ tử ruột bị đối thủ “làm thịt”.)
Tóm lại, sự kiện Đinh La Thăng bị bắt ngày 8/12 và vụ một loạt cơ quan truyền thông nhà nước đăng bài “cáo lỗi” chỉ một ngày sau đó báo hiệu từ nay đến Hội nghị Trung ương 7 sẽ còn những diễn biến hết sức khó lường. Cán cân quyền lực giữa các phe nhóm có thể thay đổi mau lẹ chỉ trong một sớm một chiều.
Dù vậy cũng không quá khó để hình dung ra ba kịch bản khả dĩ cho Nguyễn Phú Trọng tại kỳ hội nghị trung ương đặc biệt quan trọng sắp tới.
Ông ta hoặc sẽ tạo được vị thế của một Tập Cận Bình “made in Vietnam” trước và trong hội nghị hầu bảo toàn ngôi vị số 1 của mình đến hết nhiệm kỳ, hoặc sẽ buộc phải chia tay khu nhà 1A Hùng Vương song vẫn có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn người kế vị theo ý chỉ của Trung Nam Hải, hoặc sẽ bị thất thế và buộc phải bàn giao chiếc ghế quyền lực nhất Việt Nam cho đối thủ rồi trở về “làm người tử tế”.
Và cả ba kịch bản nêu trên đều phụ thuộc quyết định vào việc ngài TBT múa may thế nào với thanh “bảo kiếm” mang tên Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng Trung ương.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Cải cách kinh tế và xung đột lợi ích ở Việt Nam

Lê Anh Hùng | VOA| 7.12.2017



Tại hội nghị tổng kết ngành tài chính ngày 6/1/2017, lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đưa ra những cảnh báo về thực trạng nền tài khoá quốc gia: “Chi thường xuyên tăng rất nhanh khiến ngân sách căng thẳng”,  “Nợ công theo báo cáo sát trần nhưng nếu tính đầy đủ thì vượt trần cho phép”, và đặc biệt là “[…] nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ nền tài khóa quốc gia không thể tránh khỏi”.
Thực trạng trên khiến người ta không khỏi liên tưởng tới bối cảnh đất nước trước thềm Đại hội VI năm 1986: hệ thống hiện hành đang ở vào thế tựa chân tường, không còn cách nào khác hơn là phải cải cách, và không có lý do gì để trì hoãn cải cách. Bản thân người đứng đầu chính phủ Việt Nam cũng đã khẳng định quyết tâm xây dựng chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và phục vụ. Điều này đồng nghĩa với việc phải hạn chế tối đa và tiến tới cơ bản chấm dứt hoạt động kinh doanh của chính phủ, bởi đó không phải là chức năng của một chính phủ như thế. Tuy nhiên, thực tế diễn ra lại không hề đơn giản.

Từ chuyện quân đội làm kinh tế…
Một trong những tín hiệu cải cách đáng chú ý là tại buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ với lãnh đạo TP HCM sáng 23/6, Thượng tướng/Thứ trưởng Quốc phòng Lê Chiêm đã phát biểu: “Hiện nay đã có một chủ trương của Bộ Quốc phòng là quân đội sẽ không làm kinh tế nữa, mà tập trung cho xây dựng quân đội chính quy hiện đại, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân. Tất cả doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn chuyển ra bên ngoài.”
Những hệ luỵ của việc quân đội làm kinh tế đã được dư luận nói đến quá nhiều: bên trong thì nó làm suy yếu sức chiến đấu của quân đội, còn bên ngoài thì nó khiến cho nền kinh tế mất đi tính cạnh tranh, động lực quan trọng nhất giúp cho kinh tế nước nhà phát triển lành mạnh, bền vững.
Phát biểu của Thượng tướng Lê Chiêm vì thế được dư luận rất hoan nghênh, đặc biệt là trong bối cảnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đối tượng tác chiến gần như duy nhất của quân đội Việt Nam, đã bị cấm tham gia hoạt động kinh tế từ năm 1998, và đến tháng 11/2015 thì ngay cả các hoạt động cung cấp dịch vụ dân sinh cũng bị cấm nốt.
Tuy nhiên, niềm vui ngắn chẳng tày gang. Chưa đầy nửa tháng sau, ngày 12/7, tại buổi làm việc với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch đã phán một câu xanh rờn: “Quân đội làm kinh tế là chủ trương đúng đắn!”
Và trước một bầu đoàn hùng hậu gồm một Đại tướng/Bộ trưởng Quốc phòng, hai Thượng tướng/Thứ trưởng Quốc phòng, một Chuẩn đô đốc/Tư lệnh Hải quân, một Trung tướng/Tư lệnh Quân khu cùng Chủ tịch UBND TP HCM, Chuẩn Đô đốc/TGĐ Tân Cảng Sài Gòn Nguyễn Đăng Nghiêm đã trịnh trọng phát biểu:
“Đến nay có thể khẳng định một điều, chúng tôi từ khu vực quân sự chuyển sang kinh doanh đã trở thành những người lính trên mặt trận kinh tế.”
Đó là thực tế mà viên Chuẩn Đô đốc cùng đội ngũ tướng lĩnh hùng hậu bậc nhất thế giới của Việt Nam dường như rất lấy làm tự hào, còn công chúng thì hẳn khó tránh khỏi cảm giác chua chát, khi thấy Hải quân Nhân dân Việt Nam xem ra không còn tha thiết gì với nhiệm vụ thiêng liêng là bảo vệ biển đảo quốc gia nữa.
Đến ngày 14/11, trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội, chính Thượng tướng Lê Chiêm lại quả quyết: “Không những cần duy trì quân đội làm kinh tế mà còn phải đẩy mạnh!”
Và tại phiên thảo luận về dự án Luật Quốc phòng sửa đổi diễn ra sáng 24/11, đội ngũ tướng lĩnh hùng hậu hiện diện trong Quốc hội lại đòi “thể chế hoá” vấn đề quân đội làm kinh tế. Thiếu tướng Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chính ủy Quân khu 7, cho rằng việc quân đội làm kinh tế sẽ làm “gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng, từ đó gia tăng sức mạnh quốc gia”. Còn Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch thì khẳng định: “Quy định Quân đội nhân dân thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và cụ thể hóa Điều 68 của Hiến pháp năm 2013.”
…đến việc cổ phần hoá DNNN và thoái vốn nhà nước khỏi doanh nghiệp
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và thoái vốn nhà nước khỏi các doanh nghiệp là đòi hỏi bức thiết nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế.
Ngoài lý do nêu trên, cổ phần hoá DNNN trong năm 2017 còn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng bởi đến năm 2018, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ đánh giá xem Việt Nam đã hội đủ những điều kiện của một nền kinh tế thị trường hay chưa, đặc biệt là việc cải cách các thể chế kinh tế, nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
Theo kế hoạch mà Chính phủ phê duyệt, năm 2017 số DNNN phải cổ phần hoá là 44. Tuy nhiên, chương trình thời sự VTV 19h ngày 3/12 lại cho biết là mặc dù đã qua 11 tháng nhưng số DN được cổ phần hoá mới chỉ là 21. Trong vòng một tháng nữa phải hoàn thành cổ phần hoá hơn một nửa số DN còn lại – một nhiệm vụ hầu như bất khả thi.
Còn việc thoái vốn nhà nước khỏi các doanh nghiệp thì sao?
Xin thưa, đích thân Tổng Kiểm toán Nhà nước Hồ Đức Phớc đã trả lời câu hỏi đó tại phiên thảo luận tổ của các ĐBQH ngày 24/10 vừa qua: “Bán hết vốn Nhà nước, nhiệm kỳ sau lấy gì mà tiêu?”
Đâu là nguyên do?
“Gang không mật mỡ, kiến bò chi.” Điều đó giải thích cho lý do tại sao việc cải cách trong khu vực DNNN lại khó khăn đến vậy.
Vì “mật mỡ” trong các doanh nghiệp quân đội nên các quan chức quốc phòng đã chơi trò “lập lờ đánh lận con đen” giữa khái niệm “làm kinh tế” theo nghĩa “tăng gia sản xuất” (điều nên khuyến khích) với “làm kinh tế” theo nghĩa kinh doanh (điều cần phải nghiêm cấm).
Thật mỉa mai, tuy viện lý do là “thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng” nhưng họ lại không chỉ vứt cả một nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào sọt rác, mà thậm chí là làm trái hoàn toàn với nghị quyết còn hiệu lực đó.  
Hội nghị Trung ương 4 khóa X hạ tuần tháng 1 năm 2007 đã quyết nghị việc chuyển các doanh nghiệp làm kinh tế đơn thuần thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội sang các cơ quan nhà nước quản lý từ năm 2007.
Vậy nhưng kể từ đó đến nay, các doanh nghiệp quân đội không những không được chuyển sang cho các cơ quan dân sự quản lý, mà còn không ngừng phình ra về cả về quy mô lẫn số lượng, trở thành một nền kinh tế có quy mô suýt soát bằng GDP của Campuchia, hay 1,5 lần GDP của Lào.
Quân đội vốn là một nhóm lợi ích lâu đời và luôn nhận được chế độ đãi ngộ đặc biệt, đằng sau họ lại có sự hậu thuẫn của Tổng Bí thư kiêm Bí thư Quân uỷ Trung ương, nên không có gì lạ khi họ quyết liệt bảo vệ lợi ích của mình bất chấp lợi ích của đất nước.
Lý do bên ngoài của việc chậm trễ cổ phần hoá DNNN thì nhiều, nhưng bên trong thì hầu như chỉ có một: đó là sự sự níu kéo của những tổ chức, cá nhân có lợi ích gắn liền với doanh nghiệp được CPH.
Vậy còn động cơ đằng sau câu phát biểu của Tổng Kiểm toán Nhà nước là gì? Câu trả lời cũng là lợi ích nốt.
Theo Luật Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước được quyền kiểm toán các doanh nghiệp có phần vốn nhà nước. Và kiểm toán doanh nghiệp thì lại là nhiệm vụ nhiều “mật mỡ” nhất trong các hoạt động của Kiểm toán Nhà nước. Thế cho nên, câu phát ngôn của người đứng đầu cơ quan kiểm toán nhà nước cần được hiểu là: “Bán hết vốn nhà nước thì lấy gì mà ‘kiểm toán’ đây?”
Ai đó có thể “thắc mắc” rằng Kiểm toán Nhà nước chỉ là một cơ quan ngang bộ, còn Tổng Kiểm toán Nhà nước chỉ là một Uỷ viên Trung ương Đảng, sao ông ta dám “cả gan” công khai chống lại một chủ trương đúng đắn và đặc biệt là rất cần thiết của Chính phủ?  
Câu trả lời ở đây là, theo Luật Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc Quốc hội, còn Tổng Kiểm toán Nhà nước thì do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Cựu Thủ tướng Anh Tony Blair từng nói: “Mọi cuộc cải cách đều khó khăn, càng gặp kháng cự, càng cho thấy cuộc cải cách đó là cải cách thực sự.”
Vậy nên, trong giai đoạn quyết định hiện nay, những người thực tâm chủ trương cải cách vì nước, vì dân cần phải quyết đoán hơn nữa. Sau lưng họ là 90 triệu đồng bào đang từng ngày từng giờ mong chờ sự thay đổi đến với một đất nước không chỉ đã nếm trải quá nhiều đau thương với hệ thống hiện hành, mà còn đang đứng trước hiểm hoạ Đại Hán ngày một hiện lên lồ lộ.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

Thứ trưởng kiêm đại sứ và thất bại mang tên Campuchia

Lê Anh Hùng | VOA| 1.12.2017


Biểu tình chống VN tại Phnom Penh ngày 11/8/2014
Ngày 17/11, tại Quyết định số 1838/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã bổ nhiệm ông Vũ Quang Minh, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để làm Đại sứ Việt Nam tại Campuchia.
Với quyết định trên, ông Vũ Quang Minh hiện là một trong 6 Thứ trưởng Ngoại giao đảm nhiệm vai trò đại diện chính thức cho Việt Nam trên thế giới. Ngoài Thứ trưởng Vũ Quang Minh, Bộ Ngoại giao Việt Nam còn có Thứ trưởng Đặng Minh Khôi làm Đại sứ tại Trung Quốc, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh làm Đại sứ tại Mỹ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn làm Đại sứ tại Liên bang Nga, Thứ trưởng Nguyễn Bá Hùng làm Đại sứ tại Lào, Thứ trưởng Nguyễn Phương Nga làm Đại sứ, Đại diện Thường trực tại Liên Hiệp Quốc.

Người tiền nhiệm của ông Vũ Quang Minh là ông Thạch Dư cũng được bổ nhiệm Thứ trưởng Ngoại giao trước khi trở thành Đại sứ Việt Nam tại Campuchia từ năm 2014 đến 2017. (Thật mỉa mai, trong khi lãnh đạo CSVN thường vỗ ngực tự hào về “vị thế ngày càng cao” của Việt Nam thì một loạt thứ trưởng ngoại giao lại đảm trách vai trò đại sứ tại cả những quốc gia như Lào hay Campuchia.)
Từ nơi núi xương người Việt chất đống…
Nhìn vào danh sách trên người ta dễ nhận ra ngay là Campuchia được Hà Nội coi là một quốc gia rất quan trọng trong chính sách ngoại giao của mình.  
Điều này còn được thể hiện trong các chuyến thăm cấp cao của Hà Nội sang Phnom Penh, với tuần suất thăm viếng thuộc vào loại cao nhất trên thế giới. Chẳng hạn, trong năm 2017, trước chuyến viếng thăm đất nước chùa tháp từ ngày 20-22/7 của TBT Nguyễn Phú Trọng là chuyến công du Campuchia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từ ngày 24-26/4. Còn năm ngoái, sau chuyến công du của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vào trung tuần tháng Sáu là chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân vào hạ tuần tháng Chín.
Đặc biệt, sự giúp đỡ mà Việt Nam dành cho Campuchia thì không thể nào đong đếm nổi. Hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống trên đất Campuchia, chưa kể gần hai trăm ngàn người bị thương khác, khi nhà cầm quyền Việt Nam đưa quân sang đây để giúp quốc gia láng giềng thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Viện trợ bằng vật chất suốt từ bấy đến nay thì không thể nào liệt kê hết.
Gần đây nhất, nhân chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng năm ngoái, Việt Nam đã tặng Quốc hội Campuchia món quà là công trình nhà làm việc dành cho ban thư ký và các ủy ban Quốc hội trị giá 25 triệu USD.
…thành vũ khí đe doạ Việt Nam của Bắc Kinh
Hao tổn không biết bao nhiêu xương máu, tiền của, thời gian, công sức như vậy… nhưng rốt cuộc thì Việt Nam đạt được gì?
Thật trớ trêu, từ nhiều năm qua, Phnom Penh không chỉ dần xa lánh Hà Nội mà còn công khai trở thành đồng minh thân cận nhất của Bắc Kinh trong khu vực. Còn mục đích quan trọng nhất của Trung Nam Hải khi “đầu tư” vào Hun Sen và Campuchia là để… chống lại Việt Nam.
Hiện tại, Bắc Kinh đã biến Phnom Penh thành đồng minh chí thiết trên hồ sơ Biển Đông, nơi Việt Nam không chỉ có nhiều lợi ích nhất so với các nước trong khu vực mà còn được xem là cửa ngõ chiến lược cho cả dân tộc trong thế kỷ 21.
Chỉ chừng ấy thôi đã đủ cho thấy “con bài” Campuchia lợi hại đến thế nào trong tay Bắc Kinh. Song đó vẫn chưa phải là mối đe doạ nguy hiểm nhất mà quốc gia láng giềng này đặt ra cho chúng ta. Bắc Kinh đang từng bước biến Campuchia thành một mũi dao dí vào mạng sườn Việt Nam dọc biên giới hai nước cũng như vùng biển Tây Nam và sẵn sàng lao lên cùng đồng minh khi hữu sự, trước sự chào mời của những “phần thưởng” quá đỗi hấp dẫn.
Hiện nay, Trung Quốc đã và đang tiếp tục triển khai vô số dự án kinh tế tại Campuchia. Từ năm 1994 đến 2012, Campuchia đã cho Trung Quốc thuê 4,6 triệu ha đất trong thời hạn 99 năm. Người Trung Quốc lũ lượt theo chân các dự án kéo sang đây và xong việc thì ở lại sinh cơ lập nghiệp.
Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia cho biết là 35% tổng chiều dài toàn bộ các tuyến đường giao thông ở đây do một mình Trung Quốc tài trợ. Bắc Kinh đã tài trợ cho Campuchia xây dựng tuyến quốc lộ đến biên giới Việt Nam tại cửa khẩu Bavet - Mộc Bài và tiếp tục tài trợ cho những tuyến đường biên giới khác. Không còn nghi ngờ gì, các căn cứ quân sự trá hình của Bắc Kinh đang dần áp sát biên giới Tây Nam của Việt Nam.
Đặc biệt, từ năm 2016, Phnom Penh đã cho Trung Quốc thuê 90km bờ biển trong 99 năm để xây dựng một cảng nước sâu chiến lược (tổng mức đầu tư 3,8 tỷ USD) nhằm phục vụ cho mưu đồ bành trướng sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Kinh trong khu vực. Rõ ràng, vùng lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam cách xa biên giới Việt - Trung nhất cũng đã phải đối diện với hiểm hoạ “made in China”.
Chưa hết, tháng 10 vừa qua, Bộ trưởng Nội vụ Campuchia Sar Kheng khẳng định tiếp tục chính sách thu hồi giấy tờ của 70.000 người ngoại quốc “sinh sống bất hợp pháp” tại đây, trong đó hầu hết là người gốc Việt.
Hun Sen có đáng trách hay không?
“Họa phúc hữu môi phi nhất nhật” (Nguyễn Trãi – “Họa phúc do nguyên nhân từ lâu, không phải chỉ một ngày.”).  
Việt Nam và Campuchia cùng chia sẻ một lịch sử hết sức tế nhị. Quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam của người Việt khiến vương quốc Champa bị mất một phần lãnh thổ vào tay Đại Việt, trở thành một quốc gia phiên thuộc và phải triều cống cho Việt Nam. Cho dù quá trình đó diễn ra khá êm ả, hầu như không bên nào đổ máu, song nỗi đau mất nước thì vẫn cứ âm ỉ trong lòng người dân Campuchia. Thậm chí, cuối triều vua Minh Mạng, sau khi đánh đuổi quân Xiêm, nhà Nguyễn còn sáp nhập Chân Lạp vào Đại Nam rồi đổi tên thành Trấn Tây thành (1835-1941). Việc người Campuchia nghi kỵ người Việt vì thế là điều không có gì khó hiểu.
Trong bối cảnh đó, sau khi giúp Campuchia thoát khỏi bàn tay diệt chủng của Khmer Đỏ, thay vì lẽ ra phải rút về ngay thì quân đội Việt Nam lại ở lại, dựng lên một chính phủ bù nhìn và thao túng mọi chuyện, thậm chí còn gây ra không ít bi kịch cho người dân Campuchia. Người Campuchia đi từ chỗ coi bộ đội Việt Nam như ân nhân cứu rỗi đến chỗ xem họ như đội quân chiếm đóng, từ chỗ biết ơn đến chỗ căm ghét. Bài viết “Out of 20 of my friends, 17 hate the Vietnamese” (“Trong hai mươi người bạn của tôi thì có đến 17 người ghét người Việt”) trên tờ The Phnom Penh Post ngày 6/9/2014 phần nào nói lên tình cảm đó của họ.
Việc Hun Sen dần ngả vào vòng tay Bắc Kinh xuất phát từ ít nhất ba nguyên nhân dưới đây.
Thứ nhất, là một người Khmer, cho dù rất biết ơn Việt Nam và từng nhiều lần công khai tỏ bày tỏ điều đó, song việc ông ta nghi kỵ quốc gia láng giềng, ít nhiều gì cũng là điều không tránh khỏi, nhất là sau những gì diễn ra kể từ khi Hà Nội đưa quân vào Campuchia cho đến khi Đại sứ Ngô Điền, “người thầy vĩ đại” của Hun Sen, phải rời khỏi Phnom Penh không kèn không trống ngày 13/11/1991.
Thứ hai, không phải Hun Sen chủ động phản bội Việt Nam, mà chính ban lãnh đạo CSVN đã đẩy ông ta vào vòng tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mình. Tại Hội nghị Thành Đô năm 1990, để được ôm chân quan thầy Bắc Kinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng đã không ngần ngại bán rẻ Hun Sen cũng như chính thể “Cộng hoà Nhân dân Campuchia” do họ dựng lên, rồi thuyết phục Hun Sen coi Trung Quốc là đồng minh.
Thứ ba, bị kẹp giữa hai nước lớn vốn luôn muốn áp đặt ảnh hưởng tiêu cực lên mình (Việt Nam và Thái Lan), không có gì khó hiểu khi Hun Sen cũng như ban lãnh đạo Campuchia muốn tìm một đồng minh hùng mạnh bên ngoài nhằm ngăn chặn nguy cơ đó. Điều này cũng đã có tiền lệ lịch sử: Năm 1863, vua Norodom (trị vì từ 1860-1904) đã ký hiệp ướcvới Pháp, cho phép người Pháp được quyền khai thác khoáng sản để họ giúp ngăn chặn các cuộc xâm lấn của người Thái và người Việt. (Việc Hun Sen từng nói đại ý là ông ta không lo ngại Trung Quốc bởi Campuchia và Trung Quốc không tiếp giáp nhau có lẽ là vì thế.)
Việt Nam phải làm gì?
Để cải thiện quan hệ với Campuchia và xa hơn nữa là đảm bảo an ninh quốc gia trên tuyến biên giới Tây Nam, Việt Nam rõ ràng là có nhiều việc cần phải làm.
Trước hết, lãnh đạo Việt Nam cần công khai lên tiếng xin lỗi người dân Campuchia về những gì mà phía Việt Nam đã gây ra cho họ trong thời gian đưa quân sang đây. Cả lãnh đạo lẫn người dân Campuchia đã nhiều lần bày tỏ lòng biết ơn đối với Việt Nam, trong khi lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa chịu lên tiếng xin lỗi để xoa dịu những nỗi đau mà họ đã gây ra cho nhân dân bạn thì thật bất công. (Nếu ban lãnh đạo Việt Nam vẫn đặt lợi ích của Đảng CSVN lên trên lợi ích dân tộc như tại Hội nghị Thành Đô thì điều này khó xẩy ra.)
Tiếp theo, cần đặt mối quan hệ hai nước trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Việc lãnh đạo Việt Nam kêu gọi phát triển quan hệ hai nước theo phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” sẽ tạo ấn tượng là Hà Nội tỏ ra bề trên với Phnom Penh, bởi “phương châm” đó chẳng khác gì cái gọi là “16 chữ vàng” (“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”) mà Bắc Kinh “tô điểm” cho mối quan hệ với Hà Nội (thực chất thế nào thì hẳn ai cũng hiểu).
Ngoài ra, Việt Nam cần thiết lập và vun đắp quan hệ với các đảng phái đối lập tại Campuchia, dù CPP của Hun Sen vẫn đang nắm thế thượng phong. Điều này vừa giúp xoa dịu tâm lý chống Việt Nam ở đây, vốn chủ yếu do các đảng phái đối lập khích động, vừa sẵn sàng cho một tương lai họ lên cầm quyền.
Trung Quốc sẽ không bao giờ bằng lòng với những gì mà họ đã đạt được ở Campuchia. Trong khi đó, đối diện với áp lực của phương Tây về cuộc trấn áp lực lượng đối lập trước cuộc bầu cử năm 2018, Hun Sen lại đang chuẩn bị lên đường sang Bắc Kinh để tìm kiếm thêm sự ủng hộ chính trị cũng như đầu tư.
Không chỉ ở biên giới Việt Nam - Campuchia và vùng biển Tây Nam, mà cả ở biên giới Việt - Lào, biên giới phía Bắc, Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam, các gọng kìm mang nhãn hiệu Đại Hán vẫn đang ngày đêm âm thầm siết chặt dải đất hình chữ S.
Trật tự thế giới cũ đang dần thay đổi, trật tự thế giới mới đang từng bước định hình. Trong bối cảnh đó, chiến tranh là một khả năng thực tế, thậm chí khó tránh khỏi, như lịch sử nhân loại đã cho thấy.
Thế nên, tốt hơn hết, Việt Nam cần sẵn sàng cho khả năng xấu nhất là chiến tranh. Muốn vậy, ban lãnh đạo Việt Nam cần phải dân chủ hoá đất nước để tự cường dân tộc, phát triển tiềm lực quốc phòng, đồng thời hình thành mối quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ - Nhật - Ấn - Úc. Nếu làm được như vậy, mối đe doạ trên tuyến biên giới Tây Nam sẽ không còn quá khó để hoá giải.

Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA