Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Kinh tế Việt Nam ‘hậu Nguyễn Tấn Dũng’: le lói hy vọng ‘thoát Trung’

Lê Anh Hùng | VOA| 10.1.2017



Thực trạng kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc là hiểm hoạ mà công luận đã lên tiếng từ nhiều năm nay. Mức độ lệ thuộc diễn ra ngày càng nặng nề dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đây là điều mà nhiều người cảm thấy khó lý giải, bởi họ tin ông Nguyễn Tấn Dũng không chỉ là nhân vật “chống Tàu” mạnh mẽ nhất trong ban lãnh đạo Việt Nam, qua những phát ngôn mạnh mẽ nhằm vào gã láng giềng khổng lồ “to xác, xấu bụng”, mà còn là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam suốt một thời gian dài.
Vì thế, không ít người đã vội hình dung ra viễn cảnh kinh tế nước nhà sẽ còn tồi tệ hơn khi đứng đầu chính phủ  khoá XIV là một Nguyễn Xuân Phúc vốn bị coi là “phản bội” người tiền nhiệm Nguyễn Tấn Dũng.

Tuy nhiên, sau 9 tháng chèo lái nền kinh tế, xem ra chính phủ của tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhen nhóm hy vọng “thoát Trung” về mặt kinh tế, ít nhất là trên phương diện số liệu thống kê.
Bảng 1: Số liệu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2000 đến 2016 (Nguồn: Niên giám Thống kê 2000 - 2015 và báo chí nhà nước; các chỉ số do tác giả tập hợp và tính toán.)
Biểu đồ 1: Tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu qua các năm.
Nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2016 là 49,8 tỷ USD, chỉ tăng khoảng 300 triệu USD so với năm 2015, tức 0,6%. Nếu không tính năm 2009 (năm kinh tế Việt Nam suy thoái và nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 3,5% trong bối cảnh tổng kim ngạch nhập khẩu giảm tới 13,34%) thì kể từ năm 2001, khi Việt Nam bắt đầu nhập siêu từ Trung Quốc, đây là năm mà giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng thấp nhất. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 21,8 tỷ USD, tăng tới 4,7 tỷ USD so với năm 2015, tương đương 27,4%. Với tốc độ gia tăng ngoạn mục này, tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm tới 12,4%, mức cao nhất từ trước đến nay.
Nhờ nhập khẩu từ Trung Quốc hầu như không tăng, trong khi xuất khẩu sang thị trường này lại tăng mạnh, nên giá trị nhập siêu từ Trung Quốc năm 2016 chỉ còn 28 tỷ USD so với đỉnh cao 32 tỷ USD của năm 2015. Như vậy, giá trị nhập siêu từ Trung Quốc năm 2016 thấp hơn cả năm 2014. Và nếu không tính năm 2009 (năm cả tổng kim ngạch xuất khẩu lẫn tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đều giảm mạnh) thì kể từ khi Việt Nam bắt đầu nhập siêu từ Trung Quốc, đây là năm duy nhất nhập siêu từ Trung Quốc không những giảm mà còn giảm mạnh tới 13,6%.
Tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc do đó đã giảm từ đỉnh cao 29,9% năm 2015 xuống còn 28,7% năm 2016, thấp hơn cả con số của năm 2014 (29,5%).
Tuy thành tích trên đây của chính phủ Việt Nam “hậu Nguyễn Tấn Dũng” là khá ấn tượng, nhưng giá trị nhập siêu 28 tỷ USD từ Trung Quốc vẫn là quá lớn, gần như xoá nhoà thành tích xuất siêu 29,4 tỷ USD sang thị trường Mỹ. Đặc biệt, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tới 28,7% tổng kim ngạch nhập khẩu là con số vẫn còn quá cao, nếu xét phần lớn số này là hàng hoá chất lượng thấp, độc hại, hoặc tiềm ẩn những hiểm hoạ lâu dài về an ninh quốc phòng.
Ngoài ra, việc tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu gia tăng tuy là điều đáng mừng trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài đây cũng là điều đáng lo ngại, khi phần lớn hàng hoá xuất khẩu sang thị trường này là khoáng sản, nguyên liệu thô và nông sản. Đây là những loại hàng hoá hoặc gây ra hiện tượng “chảy máu khoáng sản”, hoặc không có giá trị gia tăng cao và dễ bị phía Trung Quốc dở những mánh khoé quen thuộc để bắt chẹt, lũng đoạn thị trường, khiến các nhà xuất khẩu, đặc biệt là người nông dân, bao phen điêu đứng.
Dù hy vọng “thoát Trung” về kinh tế xem ra đã được chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhen nhóm, nhưng quãng thời gian 9 tháng vừa qua là chưa đủ để nói lên nhiều điều. Trong bối cảnh Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sắp bị tân Tổng thống Mỹ Donald Trump chính thức khai tử, động lực tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên và nhân công giá rẻ đã đuối sức, nợ công tăng cao, ngân sách cạn kiệt, năm 2017 thực sự là một năm đầy thách thức đối với chính phủ Việt Nam. Nếu không đẩy mạnh cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng thị trường hoá, tư nhân hoá, phi tập trung hoá, phi điều tiết hoá thì khủng hoảng kinh tế là một nguy cơ thực tế.

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 



Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.




Nguồn: VOA

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Chính sách “America First” của Trump và nguy cơ xung đột toàn cầu

Nouriel Roubini | The Guardian
Người dịch: Lê Anh Hùng



NEW YORK – Sự kiện Donald Trump được bầu làm Tổng thống Mỹ không chỉ cho thấy phản ứng dân tuý chủ nghĩa đang dâng cao trước quá trình toàn cầu hoá, mà có thể còn báo hiệu sự kết thúc của Pax Americana – trật tự quốc tế dựa trên tự do trao đổi và an ninh chung mà Hoa Kỳ và đồng minh thiết lập sau Thế chiến II.
Trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo đó đã tạo điều kiện cho 70 năm phát triển thịnh vượng. Nó dựa trên các chính phủ định hướng thị trường về tự do hoá thương mại, khả năng dịch chuyển vốn cao, cùng các chính sách phúc lợi xã hội phù hợp; nó được hậu thuẫn bởi cam kết an ninh của Mỹ ở Châu Âu, Trung Đông và Châu Á, thông qua NATO cùng nhiều liên minh khác.

Tuy nhiên, Trump có thể theo đuổi những chính sách dân tuý, chống toàn cầu hoá và bảo hộ, qua đó gây cản trở thương mại và hạn chế sự dịch chuyển của lao động và nguồn vốn. Và ông ta đã khiến các cam kết an ninh hiện hữu của Mỹ trở nên bất trắc khi gợi ý rằng ông ta sẽ buộc các nước đồng minh phải chi nhiều hơn để đảm bảo quốc phòng cho họ. Nếu Trump nghiêm túc khi đưa ra chính sách “nước Mỹ trước tiên”, chính quyền của ông ta sẽ chuyển chiến lược địa chính trị của Hoa Kỳ theo hướng chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa đơn phương, chỉ theo đuổi lợi ích quốc gia của mình.
Khi theo đuổi các chính sách tương tự trong thập niên 1920 và 1930, Hoa Kỳ đã góp phần gieo mầm mống cho Thế chiến II. Chủ nghĩa bảo hộ – bắt đầu với luật thuế nhập khẩu mang tên Smoot-Hawley, vốn ảnh hưởng đến hàng ngàn loại hàng hoá nhập khẩu – đã châm ngòi cho các cuộc chiến trả đũa về thương mại và tiền tệ, qua đó khiến cuộc đại suy thoái càng thêm trầm trọng. Quan trọng hơn, chủ nghĩa biệt lập Mỹ – vốn dựa trên niềm tin sai lầm rằng Hoa Kỳ được bảo vệ an toàn bởi hai đại dương – đã cho phép Đức Quốc xã và Nhật Bản tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và đe doạ cả thế giới. Với trận Trân Châu Cảng tháng 12/1941, Hoa Kỳ cuối cùng buộc phải rút đầu ra khỏi cát.
Ngày nay cũng vậy, việc Hoa Kỳ quay sang chủ nghĩa biệt lập và theo đuổi lợi ích quốc gia thuần tuý có thể rốt cuộc sẽ dẫn đến xung đột toàn cầu. Ngay cả khi khả năng Hoa Kỳ rút khỏi Châu Âu không hiện hữu thì Liên minh Châu Âu và khu vực đồng Euro xem ra cũng đang rã đám, đặc biệt là sau sự kiện người dân Anh bỏ phiếu rút khỏi EU hồi tháng 6 và chính phủ Italia thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý về sửa đổi hiến pháp hồi tháng 12. Thêm vào đó, trong năm 2017, các đảng dân tuý cánh tả hoặc cánh hữu bài Châu Âu cực đoan có thể giành thắng lợi ở Pháp và Italia, và có thể tại các khu vực khác của Châu Âu.
Thiếu vắng sự tham gia tích cực của Hoa Kỳ ở Châu Âu, một nước Nga hung hăng phục thù sẽ nhảy vào. Nga vẫn đang thách thức Mỹ và EU ở Ucraina, Syria, Baltic, Balkan, và họ có thể kiếm chác từ nguy cơ sụp đổ của EU bằng cách tái khẳng định ảnh hưởng của mình tại các quốc gia thuộc khối Soviet cũ, đồng thời ủng hộ các phong trào thân Nga trong phạm vi Châu Âu. Nếu Châu Âu dần dần đánh mất chiếc ô bảo trợ an ninh của Mỹ, không ai được hưởng lợi nhiều hơn Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Các đề xuất của Trump cũng đe doạ làm xấu thêm tình hình ở Trung Đông. Ông ta từng nói là sẽ làm cho Hoa Kỳ độc lập về năng lượng. Điều này sẽ kéo theo việc từ bỏ lợi ích của Mỹ ở Trung Đông và dựa nhiều hơn vào các loại nhiên liệu hoá thạch gây phát thải khí nhà kính do trong nước sản xuất. Và ông ta cũng khẳng định rằng bản thân Hồi giáo là nguy hiểm, chứ không chỉ Hồi giáo cực đoan. Đây là quan điểm được chia sẻ bởi Cố vấn An ninh Quốc gia sắp tới của Trump là tướng Michael Flynn. Nó trực tiếp cổ vũ cho cách diễn giải về sự xung đột giữa các nền văn minh mà các chiến binh Hồi giáo vẫn tuyên truyền.   
Trong khi đó, lập trường “nước Mỹ trước tiên” dưới thời Trump có thể sẽ làm xấu thêm các cuộc chiến uỷ nhiệm Sunni-Shia kéo dài giữa Saudi Arabia và Iran. Và nếu Hoa Kỳ không tiếp tục bảo đảm an ninh cho các đồng minh Hồi giáo Sunni thì tất cả các cường quốc khu vực – bao gồm Iran, Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập – có thể sẽ quyết định rằng họ khả dĩ tự bảo vệ mình bằng cách duy nhất là sở hữu vũ khí hạt nhân, và cuộc xung đột thậm chí còn đẫm máu hơn sẽ diễn ra sau đó.
Tại Châu Á, vị thế độc tôn về kinh tế và quân sự của Mỹ đã tạo ra nhiều thập kỷ ổn định, nhưng một Trung Quốc ngày càng trỗi dậy lại đang thách thức cấu trúc hiện hành. Chính sách xoay trục chiến lược của Tổng thống Barack Obama phụ thuộc trước hết vào việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước, điều mà Trump đã hứa là sẽ dẹp bỏ ngay trong ngày đầu tiên bước vào Nhà Trắng. Trong khi đó, Trung Quốc đang nhanh chóng củng cố các mối quan hệ kinh tế của họ ở Châu Á, Thái Bình Dương và Châu Mỹ Latin thông qua chính sách “một vành đai, một con đường”, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á, Ngân hàng Phát triển mới (trước kia được gọi là Ngân hàng BRICS), cùng đề xuất thương mại tự do khu vực để cạnh tranh với TPP.
Nếu Hoa Kỳ không còn trông chờ gì từ các đồng minh Châu Á như Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan thì các quốc gia này có thể không còn lựa chọn nào khác mà phải phủ phục trước Trung Quốc; còn các đồng minh khác, như Nhật Bản và Ấn Độ chẳng  hạn, có thể buộc phải quân sự hoá và công khai thách thức Trung Quốc. Vì thế, việc Hoa Kỳ rút khỏi khu vực rất có thể cuối cùng sẽ châm ngòi cho một cuộc xung đột quân sự ở đây.
Như trong thập niên 1930, khi các chính sách bảo hộ và biệt lập chủ nghĩa của Mỹ gây khó khăn cho tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu, và tạo điều kiện cho các cường quốc xét lại chủ nghĩa khởi sự một cuộc thế chiến, những thiên hướng chính sách tương tự có thể mở đường cho các cường quốc mới thách thức và làm suy yếu trật tự quốc tế do Hoa Kỳ lãnh đạo. Một chính quyền theo chủ nghĩa biệt lập của Trump có thể nhìn thấy hai đại dương tới bờ biển phía đông và phía tây của nó, và cho rằng các cường quốc ngày càng tham vọng như Nga, Trung Quốc và Iran không đe doạ trực tiếp đến an ninh nội địa.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn là một cường quốc kinh tế và tài chính toàn cầu trong một thế giới gắn bó mật thiết với nhau. Nếu không ngăn chặn, các quốc gia này rốt cuộc sẽ đủ sức đe doạ những lợi ích kinh tế và an ninh cốt lõi của Mỹ – ở trong và ngoài nước – đặc biệt là nếu họ mở rộng năng lực hạt nhân và chiến tranh mạng. Lịch sử đã ghi rõ: chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa biệt lập và chính sách “nước Mỹ trước hết” là một công thức dẫn đến thảm hoạ kinh tế và quân sự.
*Tác giả Nouriel Roubini là giáo sư tại Học viện Kinh tế Stern của Đại học New York và từng là Chuyên gia Kinh tế Cao cấp về Quốc tế vụ trong Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Nhà Trắng dưới thời Bill Clinton.

Nguồn:The Guardian | Việt Nam Thời Báo | 9.1.2017

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

Lũ chồng lũ ở Miền Trung: còn đến bao giờ?

Lê Anh Hùng | VOA| 6.1.2017




Lũ lụt ở huyện Hương Khê, Hà Tĩnh
Theo báo cáo của Văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai, mưa lũ trong Hội nghị trực tuyến ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ Miền Trung diễn ra tại Hà Nội ngày 17/12, từ giữa tháng 10/2016 đến nay, mưa lũ ở Miền Trung đã làm 111 người chết và mất tích, 121 người bị thương... Ước tính, tổng thiệt hại tài sản lên đến gần 8.600 tỷ đồng. Nguyên nhân được xác định là do mưa lớn cộng với việc xả lũ của các hồ thuỷ điện.
Hiện tượng mưa lớn thì xưa nay hầu như năm nào cũng xẩy ra, song chỉ những năm gần đây, với sự nở rộ của hàng loạt công trình thuỷ điện đủ loại, mỗi năm các tỉnh Miền Trung mới phải gồng mình gánh chịu hết trận lũ này đến trận lũ khác như vậy. Lũ trước chưa kịp rút thì lũ sau đã tràn đến, thiệt hại về người và tài sản không sao đong đếm xuể. Rõ ràng, mưa lớn là nguyên nhân khách quan, không tránh được, nhưng việc xả lũ của các hồ thuỷ điện là nguyên nhân chủ quan, do yếu tố con người gây nên. Vì thế, câu hỏi bức thiết không thể không đặt ra ở đây là: Bao giờ người dân Miền Trung mới thoát khỏi nỗi ám ảnh mang tên “thuỷ điện xả lũ” này?

Để đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi trên, chúng ta cần trả lời hai câu hỏi quan trọng là (i) các nhà máy thuỷ điện ở Miền Trung được quy hoạch như thế nào? và (ii) quy hoạch đó được thực hiện như thế nào?
Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện nay trên cả nước có 306 dự án thuỷ điện với tổng công suất lắp máy 15.474,3 MW đang vận hành phát điện; 193 dự án (5.662,66 MW) đang thi công xây dựng; 245 dự án (3.006 MW) đang nghiên cứu đầu tư; còn lại 59 dự án (421,88 MW) có quy mô nhỏ, đang được tiếp tục rà soát. Về quy hoạch bậc thang thủy điện trên các dòng sông lớn: đã vận hành phát điện 61 dự án (13.101,10 MW); đang thi công xây dựng 31 dự án (3.580,50 MW); đang nghiên cứu đầu tư 15 dự án (730,50 MW); có 3 dự án (128 MW) chưa cho phép nghiên cứu đầu tư. Tức là vẫn còn hàng trăm dự án thuỷ điện đang trong giai đoạn thi công hay nghiên cứu đầu tư, và điều này đồng nghĩa với việc vấn nạn do thuỷ điện gây ra sẽ còn nghiêm trọng hơn những gì mà người ta đã được chứng kiến.
Đáng quan ngại hơn, các dự án thuỷ điện đó lại ra đời trong bối cảnh Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, chưa xây dựng được một quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nào, trong khi quy hoạch tổng hợp lưu vực sông lại là căn cứ để hoàn thiện, điều chỉnh quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các ngành, trong đó có thủy điện, thủy nông.
Theo VOVngày 12/9/2013 thì vì chưa có quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nên ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các dòng sông chưa được xác định và công bố, dẫn đến hiện tượng ‘bùng nổ’, lạm phát công trình, đặc biệt là những công trình thủy điện trên các lưu vực sông. Trong một năm, có khi có cả chục công trình thủy điện với công suất 30 MW, dung tích hồ chứa trên 500 triệu m3 nước hoặc vài chục công trình thủy điện vừa và nhỏ cùng được khởi công xây dựng. Thậm chí, nhiều nơi có tới 3 đến 5 công trình thủy điện cùng mọc lên trên một lưu vực sông. Căn cứ theo số liệu tổng hợp về số công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi, kể cả các công trình đang vận hành, đang xây dựng và trong quy hoạch thì mật độ trung bình các hồ chứa trên các lưu vực sông ở Việt Nam là 94 km2/hồ. Nếu chấp nhận chỉ tiêu hợp lý bố trí công trình hồ chứa là khoảng 250-300 km2/hồ của Hội Thủy năng Quốc tế về hướng dẫn thủy điện bền vững thì mật độ công trình hồ chứa như trên là thiếu tính bền vững về môi trường và tài nguyên.
Chưa hết, trong quá trình thi công, chủ đầu tư các dự án thuỷ điện, vì lợi nhuận cùng sự giám sát lỏng lẻo của cơ quan chức năng, đều tìm cách giảm dung tích hồ chứa so với thiết kế ban đầu (vốn dĩ đã không đủ lớn) nhằm giảm chi phí đầu tư. Hậu quả là hầu hết các hồ chứa thuỷ điện đều không thực hiện được chức năng cắt lũ, giảm lũ, làm chậm lũ vào mùa mưa và bổ sung dòng chảy trên sông vào mùa khô. Chẳng hạn, dung tích phòng lũ các hồ chứa thủy điện bậc thang trên sông Vu Gia - Thu Bồn giảm chỉ còn hơn 145 triệu m3 so với trên 1 tỷ m3 như quy hoạch ban đầu (tức vỏn vẹn hơn 14%). Do vậy, mỗi khi lũ về, thay vì góp phần ngăn lũ thì các nhà máy thuỷ điện lại (buộc phải) đồng loạt xả lũ ồ ạt, và hậu quả tất yếu là hạ du bị nhấn chìm trong biển lũ.
Như vậy, để khắc phục thảm trạng này người ta không còn cách nào khác là phải giảm mật độ công trình hồ chứa trên các lưu vực sông, nhằm đảm bảo tính bền vững về môi trường và tài nguyên, đồng thời tăng dung tích của các hồ chứa còn lại – một đòi hỏi xem ra là rất khó thực hiện. Ngoài ra, các dự án thuỷ điện đang trong quá trình thi công hoặc sắp được khởi công cần phải được giám sát chặt chẽ về cả quy hoạch, thiết kế lẫn thi công. Nếu không đáp ứng được những yêu cầu đó, người dân Miền Trung không chỉ phải tiếp tục gánh chịu “kiếp nạn” mang tên thuỷ điện, mà mức độ thảm hoạ do nó gây ra sẽ ngày càng lớn, năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã trở thành mối đe doạ ngày một cấp bách và mang tính toàn cầu.

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.




Nguồn: VOA

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

Vì sao Trần Xuân Bách mới chưa xuất hiện ở Việt Nam?

Lê Anh Hùng | VOA| 3.1.2017




Sự sụp đổ của Liên bang Soviet năm 1991 đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một ý thức hệ mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, nhờ áp dụng chính sách cai trị bàn tay sắt, hoặc thực hiện đường lối cải cách kinh tế, hoặc kết hợp cả hai sách lược đó nên thế giới hiện vẫn còn 5 quốc gia mà trên danh nghĩa là theo ý thức hệ cộng sản – đó là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba và Lào.
Dù vậy, theo đúng quy luật, các chế độ độc tài này sớm muộn gì cũng đi đến chỗ tiêu vong. Và, giống như ở Liên bang Soviet, ở các quốc gia cộng sản Đông Âu, hay ở bất kỳ hệ thống nào khác, không phải các nhân tố bên ngoài mà chính những tác nhân bên trong mới là yếu tố quyết định dẫn đến sự sụp đổ tất yếu đó.
Trong số các nhân tố nội tại thì ngoài những sai lầm mang tính hệ thống, sự thúc đẩy của những thành phần cấp tiến trong bộ máy cũng góp phần đặc biệt quan trọng khiến các chế độ độc tài cộng sản đi đến chỗ sụp đổ nhanh hơn và ít tổn thất hơn, mà trường hợp Boris Yeltsin của Nga là một ví dụ điển hình.

Ở Việt Nam, cố Uỷ viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách (1924-2006), người từng cổ suý mạnh mẽ cho công cuộc cải tổ theo xu hướng đa nguyên, đa đảng khi còn đương chức, là một nhân vật như thế. Tuy nhiên, trong bối cảnh đường lối cải cách, cấp tiến chưa trở thành một xu thế rõ rệt trong Đảng CSVN, lực lượng bảo thủ vẫn còn áp đảo trên chính trường, Trần Xuân Bách đã quá đơn độc. Và chỉ ba tháng sau bài phát biểu công khai kêu gọi đa nguyên, đa đảng và cải tổ chính trị song song với cải cách kinh tế, ông đã bị phê phán kịch liệt trong Hội nghị Trung ương 8 khoá VI tháng 3 năm 1990 rồi bị trục xuất khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương.
Bị cô lập và gần như là bị quản thúc tại gia giữa lúc phong trào dân chủ trong xã hội chưa kịp manh nha, Trần Xuân Bách im hơi lặng tiếng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 1/1/2006. Tuy sớm bị vùi dập, nhưng tiếng nói của ông vẫn là phát pháo hiệu, không chỉ báo hiệu tương lai dân chủ của đất nước, mà còn cho thấy tương lai đó có cả sự ươm mầm và đóng góp quan trọng của chính những người nằm trong guồng máy của chế độ độc tài cộng sản. Những gì ông nêu lên 27 năm trước cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Kể từ đấy, công chúng Việt Nam vẫn mỏi mắt trông chờ một Trần Xuân Bách mới. Và mặc dù phong trào dân chủ trong xã hội đã tương đối phát triển, bối cảnh trong và ngoài nước đã thuận lợi, nhu cầu thay đổi đã trở nên bức thiết, người ta vẫn chưa nhìn thấy bóng dáng của một nhân vật như thế. Cho đến nay, Trần Xuân Bách vẫn là nhân vật cao cấp nhất trong bộ máy lên tiếng đòi thay đổi một cách công khai và mạnh mẽ khi còn đương chức.
Để lý giải cho thực trạng trên, từ hiểu biết khiêm tốn của mình, chúng tôi xin nêu ra vài nguyên nhân chủ yếu dưới đây.
Sự tha hoá của hệ thống
Trước đây, những đảng viên cộng sản như Hoàng Minh Chính, Trần Độ hay Trần Xuân Bách đều là những người sùng tín chủ nghĩa Marx - Lenin. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nơi những tín điều của chủ nghĩa Marx - Lenin và “đạo đức cộng sản” vẫn chi phối cách ứng xử của các thành viên trong xã hội, nơi phần lớn mọi thứ của cải vốn dĩ đã khan hiếm của xã hội đều được phân phối theo kiểu bình quân chủ nghĩa, nơi không có nhiều thứ cám dỗ để người ta dễ đánh mất mình… những người “cộng sản chân chính” như họ vẫn có nhiều cơ hội để bước lên những nấc thang quyền lực. Và đến khi họ ngộ ra được chân lý, nhận ra được thực tế phũ phàng của cái gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa” và cất lên tiếng nói của lương tri, của lý trí thì họ vẫn giữ được đạo đức, phẩm hạnh của mình. Lúc đó, nhà cầm quyền không còn cách nào khác ngoài việc cô lập, gạt họ ra khỏi guồng máy, hoặc thậm chí là tống vào tù, trong bối cảnh họ đã trở thành một biểu tượng cả về đạo đức lẫn chính trị, tức là hội đủ cả tâm lẫn tầm trong con mắt công chúng.
Tuy nhiên, sau khi Đảng CSVN buộc phải tiến hành cái gọi là “Đổi mới” từ năm 1986, thực chất là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế tư bản hoang dã mà ở đó các nhóm lợi ích thoả sức tác oai tác quái, guồng máy công quyền gần như ngay lập tức biến thành một cỗ máy tham nhũng khổng lồ và hoạt động ngày càng trơn tru. Để leo lên đến địa vị của những Hoàng Minh Chính, Trần Độ hay Trần Xuân Bách trong bộ máy hiện hành, hầu như ai ai cũng đều dính đến tham nhũng, tiêu cực. Đơn giản, nếu không như thế thì họ sẽ ngay lập tức bị loại ra khỏi “đội hình”, sẽ không có tiền để “bôi trơn” chỗ này chỗ nọ trong những dịp bầu bán, thăng bạt, v.v. Nghĩa là, khi công chúng còn chưa kịp nhận ra được cái “tầm” của họ thì cái “tâm” trong con người họ đã bị tha hoá từ lúc nào không hay.
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An từng một thời khiến công chúng Việt Nam nức lòng nức dạ qua bài “Nguyên Chủ tịch Quốc hội bàn về phương thức cầm quyền của Đảng” trên VietNamNetngày 6/12/2010: lần đầu tiên một cựu lãnh đạo chóp bu của chế độ ví Đảng CSVN như một ông vua, không phải ông vua thời phong kiến mà là vua tập thể thời xã hội chủ nghĩa, và đòi hỏi phải thay đổi. Người ta kỳ vọng ông sẽ tiếp quản ngọn cờ mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt để lại, hầu chí ít là trở thành thủ lĩnh tinh thần cho phong trào dân chủ hoá đất nước. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn lên tiếng khá mạnh mẽ, ngài cựu Chủ tịch Quốc hội đột nhiên im bặt, trong khi người con trai Nguyễn Sỹ Hiệp của ông thì trở thành thư ký Thủ tướng, trợ lý Thủ tướng rồi Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Sự khuynh loát của lực lượng công an
Chế độ cộng sản không chỉ là một hệ thống “đảng trị” mà còn mang đậm bản sắc “công an trị”. Bộ máy công an thao túng gần như mọi mặt của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước, khắp nơi đâu đâu cũng có “tai mắt” (“đặc tình”) của họ.
Vì thế, bất kỳ biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hoá” nào của đội ngũ quan chức cũng đều khó thoát khỏi con mắt cú vọ của lực lượng “còn đảng còn mình”, để rồi bị đội quân kiêu binh này nắm “thóp”, kiểm soát và sẵn sàng vô hiệu hoá bằng đủ mọi mưu ma chước quỷ.
Sự thao túng của Bắc Kinh
Bên cạnh an ninh cộng sản, ở Việt Nam còn có sự hiện hữu của một đội quân chuyên hoạt động trong bóng tối khác mà giới quan chức CSVN luôn phải dè chừng – đó là Cục Tình báo Hoa Nam của Trung Quốc. Đây là lực lượng thường xuyên theo dõi, mua chuộc, gài bẫy, thu thập bằng chứng phạm tội của giới quan chức Việt Nam… hòng khống chế, thao túng và biến họ thành tay sai phục vụ đắc lực cho các ông chủ Trung Nam Hải, đồng thời tìm cách vô hiệu hoá những nhân vật có xu hướng cải cách, thân phương Tây hay chống Trung Quốc.
Mặc dù dính đến rất nhiều tai tiếng về tham nhũng nhưng cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn từng được kỳ vọng sẽ là nhân vật khởi xướng công cuộc dân chủ hoá đất, với những câu phát ngôn rất dễ đi vào lòng người về chủ quyền biển đảo, về tự do dân chủ, về pháp quyền, v.v. (Điều này cho thấy một thực tế là dân tộc Việt Nam vốn bao dung, luôn sẵn sàng tha thứ cho những đứa con lầm lạc biết “đoái công chuộc tội”.)
Tuy nhiên, đáng tiếc là người ta đã đặt niềm tin không đúng chỗ: Nguyễn Tấn Dũng trên thực tế là một “con bài” vô cùng đắc dụng trong chiến lược thôn tính Việt Nam của Trung Quốc, là đối tượng bị cáo buộc phản bội Tổ quốc trong một vụ tố cáo đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến bàn tay lông lá của Bắc Kinh ở Việt Nam. (Mặc dù vụ việc đã kéo dài từ năm 2008 nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết đúng pháp luật.)
Những bước ngoặt trong lịch sử nhân loại luôn mang đậm dấu ấn của những cá nhân xuất chúng. Lịch sử Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Hơn bao giờ hết, nhu cầu thay đổi ở Việt Nam đang ngày càng trở nên cấp thiết, trong bối cảnh sự tồn tại của hệ thống hiện hành chỉ còn tính bằng năm. “Thời thế tạo anh hùng”, một Trần Xuân Bách mới, hay thậm chí một Boris Yeltsin của Việt Nam, sớm muộn gì cũng xuất hiện khi kết cục tất yếu diễn ra.  

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng
Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.




Nguồn: VOA

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Donald Trump và quả lắc chính sách ngoại giao

Robert D. Kaplan | The National Interest
Lê Anh Hùng dịch



Mỗi một chính phủ mới ở Mỹ đều bắt đầu bằng cách làm khác so với chính phủ tiền nhiệm. Điều này lại càng đặc biệt đúng khi chính đảng cũ tiếp tục ngồi lại Nhà Trắng mà lý do chính xác là vì đội ngũ mới cần phải nỗ lực gấp đôi để tạo ra sự khác biệt so với đội ngũ tiền nhiệm. Tức là, George H. W. Bush không chỉ cùng Đảng Cộng hoà với Ronald Reagan, mà còn là Phó Tổng thống của ông ta. Bởi thế, trong khi Ronald Reagan nhìn chung là thúc đẩy một thế giới quan theo kiểu Woodrow Wilson (Tổng thổng Mỹ từ 1913-1921) thì Bush cha lại tự tạo cho mình hình ảnh một con người thực tế, với một đội ngũ nhân sự ngoại giao chuyên nghiệp hơn nhiều so với người tiền nhiệm. Tổng thống đắc cử Donald Trump không gặp phải vấn đề như thế, bởi ông là người của Đảng Cộng hoà tiếp quản Nhà Trắng từ người của Đảng Dân chủ. Ông sẽ không phải nỗ lực nhiều để trở nên khác biệt so với Barack Obama.

Chính quyền Obama được mô tả là thiên về là củng cố và kiềm chế. Dưới thời Obama, Hoa Kỳ đã rút hai lữ đoàn chiến đấu khỏi Châu Âu, không can thiệp vào Syria khi mà họ có thể vào năm 2011, và phản ứng chậm chạp trước việc Trung Quốc xây đắp đảo trên Biển Đông. Thời gian rồi sẽ trả lời liệu đó là chính sách khôn ngoan hay dại dột. Trong bất cứ trường hợp nào, đội ngũ của Trump, nhằm mục đích thể hiện mức độ khác biệt của nó, cũng sẽ tìm cách lấp đầy khoảng trống mênh mông giữa chính sách kiềm chế của Obama và chính sách hung hăng của George W. Bush ở Afghanistan và Iraq. Mối nguy hiểm ở đây là, trong khi tìm cách hành động mạnh mẽ hơn Obama trước ISIS và ít mạnh mẽ hơn chính quyền Bush ở Iraq, Trump sẽ cam kết quá mức ở nơi khác.
Chúng ta đang sống trong một thế giới cao tốc và trên một sợi dây bị kéo căng, nơi một khu vực xung đột thuộc Cựu Thế giới được kết nối với mọi khu vực xung đột khác chứ không như trước kia, và các sự kiện cùng những biến động thì diễn ra với một tốc độ chưa từng thấy trong lịch sử. Do vậy, cái giá cho việc bị sa lầy ở bất cứ đâu cũng cao hơn so với trước. Đó không chỉ là những cuộc xung đột trên phương diện địa lý mà Hoa Kỳ phải cảnh giác – Ucraina, Syria, Biển Đông và v.v. – đó còn là những sự bùng nổ phi quy ước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng hay dịch bệnh, có thể khiến chính quyền phải chú ý bất cứ lúc nào mà không được cảnh báo trước. Báo chí muốn mọi chính quyền phải phản ứng toàn diện trước mọi cơn phẫn nộ, song điều đó lại khiến chính sách ngoại giao đứng trước rủi ro bị tê liệt. Trong khi Hoa Kỳ đủ khả năng phản ứng tức thời trước một số cuộc khủng hoảng thì các nhà hoạch định chính sách hàng đầu lại chỉ sở hữu năng lực chuyển tải thông tin hữu hạn trong bất kỳ ngày nào. Thế nên điều đáng lo ngại không phải là một sự kiện cụ thể nào, mà là một loạt sự kiện.
Syria đang là nỗi ám ảnh ở Washington. Chính quyền mới sẽ muốn làm điều gì đó mang tính quyết định về quốc gia này. Song bất kỳ động thái quân sự mang tính quyết định nào ở đây cũng đi kèm với rủi ro là đội ngũ mới sẽ sớm bị sa lầy, trong khi họ lại không biết nhiều về những gì sắp diễn ra ở Trung Đông cũng như phần còn lại của thế giới. Syria thì đã bị tàn phá. Người ta hoàn toàn không rõ là ngay cả khi Bashar al-Assad bị loại trừ thì liệu cuộc nội chiến có kết thúc hay không. Trong khi đó, Israel lại xử lý tình hình một cách khéo léo, vì thế họ không chịu rủi ro khi cuộc chiến kéo dài. Mối quan ngại đầu tiên của Hoa Kỳ phải là việc đảm bảo cho sự tồn tại của chế độ hiện hành ở Jordan. Bảo vệ Jordan phải là xuất phát điểm cho bất kỳ phản ứng chính sách về quân sự nào của chính quyền Trump ở Syria.  
Nhìn vào bức tranh rộng lớn hơn, chính quyền mới ở Mỹ phải nhận ra rằng các chế độ ở Moskva và Bắc Kinh, trong bối cảnh bị các vấn đề kinh tế và xã hội bủa vây, có thể không ổn định như vẻ bề ngoài của chúng. Bất ổn nội bộ, về cơ bản, là nguyên nhân khiến họ tỏ ra hung hăng bên ngoài. Các chế độ này càng yếu thì chúng càng tỏ ra nguy hiểm – ít nhất là trong ngắn hạn. Trong khi bản năng của chính quyền mới có thể là hành động bạo dạn (tức là trước Trung Quốc) thì trớ trêu thay sự kiềm chế lại chưa bao giờ được đòi hỏi nhiều như bây giờ.
Tóm lại, nhiệm vụ của chính quyền mới là gây ảnh hưởng đến các quốc gia xung quanh Nga và Trung Quốc nhiều hơn những gì mà Obama đã làm, hầu tạo ra một bối cảnh địa chính trị thuận lợi hơn cho các cuộc thương lượng – nhưng không đi đến xung đột thực sự với hai cường quốc khu vực đó. Nói dễ hơn làm. Trump không được bắt chước Obama, bởi ông ta đã trở thành hình ảnh đối lập với người tiền nhiệm của mình – Bush con. Con lắc chính sách ngoại giao Hoa Kỳ phải ngừng ở điểm giữa – chứ không phải lắc sang thái cực kia.

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2016

Bất cập trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Việt Nam

Lê Anh Hùng | VOA| 19.12.2016




Nước trong đời sống con người
Nước là loại tài nguyên đặc biệt quan trọng trong tự nhiên. Cuộc sống trên trái đất bắt nguồn từ trong nước, và mọi sự sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước. Nước là thành phần thiết yếu của sự sống, nhưng cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường.
Ở Việt Nam, nước có một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Từ “nước” còn được hiểu là “quốc gia”, là tiền tố đi kèm theo danh từ để chỉ tên một quốc gia; “đất nước” là một từ ghép với ý nghĩa “Tổ quốc”.

Nước là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến khí hậu, đồng thời là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Hơn 75% bề mặt Trái Đất nằm dưới sự bao phủ của nước. Ước tính, khoảng 97,5% lượng nước trên trái đất là nước mặn, nằm trong các đại dương và hay ngầm trong lòng đất; khoảng 2,5% còn lại là nước ngọt, nhưng gần 99% lượng nước này lại là đỉnh núi băng, sông băng và nước ngầm; chỉ có 0,007% nước trên toàn thế giới là nước sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ  yếu cho con người sử dụng.
Trong bối cảnh tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng và dân số ngày một đông, nước sạch sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý giá. Theo dự báo, việc cung cấp nước sạch sẽ là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại sẽ phải đối mặt trong những thập niên tới đây.
Lược sử quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Việt Nam
Ban đầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước (thuỷ lợi), cùng với giao thông và bưu điện, thuộc chức năng của Bộ Giao thông - Công chính, một trong 14 bộ được thành lập theo Tuyên cáo ngày 28/8/1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I (tháng 9/1955) đã thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định tách Bộ Giao thông Công chính thành 2 bộ: Bộ Giao thông - Bưu điện và Bộ Thuỷ lợi - Kiến trúc. Tháng 4/1958, tại kỳ họp thứ 8, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá I ra nghị quyết tách Bộ Thuỷ lợi - Kiến trúc thành Bộ Thuỷ lợi và Bộ Kiến trúc.
Và đến tháng 10/1995, Bộ Thuỷ lợi được sáp nhập cùng Bộ Nông nghiệp và Bộ Lâm nghiệp thành Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chấm dứt 37 năm tồn tại như một bộ chuyên ngành kinh tế kỹ thuật độc lập.
Lý giải cho việc sáp nhập này, người ta cho rằng thủy lợi chỉ là một giải pháp kỹ thuật trong nông nghiệp (cấp nước tưới tiêu cho cây trồng). Tuy nhiên, nước không chỉ là mạch máu của nông nghiệp, mà còn là mạch máu của cả nền kinh tế quốc dân. Do đó, đến năm 2002, chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước (thuỷ lợi) được chuyển giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, một bộ mới ra đời theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội khóa XI.
Những bất cập trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước
Chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước (hay thuỷ lợi) đã được chuyển giao cho Bộ TN&MT, còn Bộ NN&PTNT chỉ quản lý nhà nước về chuyên ngành thuỷ nông, tức là phân ngành thuỷ lợi phục vụ cho nông nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế, cùng với sự ra đời của Bộ Tài nguyên & Môi trường, ngành khoa học kỹ thuật Tài nguyên nước lại nằm ở cả hai bộ là Bộ NN&PTNT và Bộ TN&MT. Điều này đã gây ra nhiều hệ luỵ trong công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này. Tiến sỹ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi, đã đưa ra hình ảnh về tình trạng chia cắt của ngành khoa học kỹ thuật Tài nguyên nước như sau: Toàn thân ngành bị cắt mất cái đầu (gần như là rỗng) ném sang Bộ TN&MT từ năm 2002, còn mình mẩy tay chân và cái đầu thực chất, cái đầu trí tuệ thì mười mấy năm nay vẫn nằm ở Bộ NN&PTNT và đang bị trì trệ, không phát triển được.
Theo TS Trần Nhơn, hiện nay cơ quan quản lý tổng hợp về Tài nguyên nước là BộTN&MT đang thiếu nghiêm trọng hệ thống các cơ quan và lực lượng hỗ trợ kỹ thuật đồng bộ để điều hành công việc, thực thi nhiệm vụ. Trong khi đó, cơ quan quản lý chuyên ngành nước cho nông nghiệp – Bộ NN&PTNT – lại ôm giữ quá nhiều nguồn lực. Bộ NN&PTNT đã thừa hưởng lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật thủy lợi rất hùng hậu, được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành suốt nửa thế kỷ của Bộ Thủy lợi cũ đã sáp nhập vào Bộ NN&PTNT từ năm 1995. Đây là hậu quả của việc Bộ NN&PTNT dưới thời Bộ trưởng Lê Huy Ngọ đã không thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội khóa XI.
Điều 2 của Nghị quyết 02/2002/QH11 nêu rõ: “Những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số bộ, cơ quan ngang bộ đã được quy định tại các luật, pháp lệnh hiện hành, nhưng nay do có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức theo Nghị quyết này, thì được chuyển giao cho các bộ, cơ quan ngang bộ tương ứng kể từ ngày các cơ quan này được sắp xếp lại.” Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT lại chỉ bàn giao cho Bộ TN&MT một nhúm cán bộ. Toàn bộ các cơ quan hỗ trợ khoa học kỹ thuật cùng với lực lượng cán bộ quản lý dày dạn kinh nghiệm và đội ngũ chuyên gia khoa học kỹ thuật hùng hậu (Trường Đại học Thủy lợi, các Viện Quy hoach, Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi, các Công ty Tư vấn Xây dựng thủy lợi...) vẫn nằm nguyên ở Bộ NN&PTNT.
Bộ TN&MT là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, quản lý nhà nước về sử dụng nước cho các ngành lại do các bộ khác chịu trách nhiệm: Bộ NN&PTNT quản lý nhà nước đối với việc cấp nước cho nông nghiệp và nước sinh hoạt nông thôn; Bộ Công Thương quản lý nhà nước về việc cấp nước cho công nghiệp, thủy điện; Bộ Xây dựng quản lý nhà nước về cấp nước cho đô thị và các khu công nghiệp. Thực trạng nói trên đã khiến cho công tác quản lý nhà nước về nước bị phân tán, chia cắt và xuống cấp nghiêm trọng.
Do thiếu các chuyên gia đầu ngành cũng như lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật thuỷ lợi nên đến nay, Bộ TN&MT vẫn chưa xây dựng được một quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nào. Điều này khiến ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các dòng sông chưa được xác định và công bố, khiến những năm qua các công trình, đặc biệt là thuỷ điện, cứ đua nhau mọc lên trên các lưu vực sông.
Ngoài ra, vì thiếu quy hoạch tổng hợp lưu vực sông cũng như một “nhạc trưởng” đứng ra cầm trịch nên tất cả các hồ chứa được xây dựng chỉ dựa trên các quy hoạch thuần túy chuyên ngành thủy nông hoặc thủy điện. Hầu hết các hồ chứa chỉ phục vụ cho lợi ích của ngành hay địa phương mình. Các lợi ích liên quan đến tài nguyên nước không được giải quyết hài hòa, như giữa chống lũ với phát điện; giữa phát điện với cấp nước tưới; giữa phát điện với cấp nước cho hạ du, nước sinh hoạt, nước để đẩy mặn cửa sông, v.v.
Hậu quả của tình trạng trên là người dân sống quanh lưu vực sông, đặc biệt là ở Miền Trung, luôn rơi vào tình cảnh mùa khô thì nguồn nước cạn kiệt, mùa lũ lại bị xả lũ ào ào lên đầu.
Việc thu về một đầu mối cơ quan quản lý nhà nước về nước, do vậy, đang ngày càng trở nên cấp thiết. Càng kéo dài tình trạng hiện nay, hậu quả càng lớn và càng khó khắc phục, an ninh nguồn nước càng bị đe doạ nghiêm trọng.

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.




Nguồn: VOA

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang “hướng Trung”?

Lê Anh Hùng | VOA| 10.12.2016




Trong số “tứ trụ triều đình” xuất hiện sau Đại hội XII Đảng CSVN, ngoài TBT Nguyễn Phú Trọng là người gần như công khai bày tỏ thái độ thần phục Trung Quốc từ lâu, ba vị còn lại – Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân – xem ra vẫn chưa thể hiện rõ lập trường chính trị của mình trong mối quan hệ đầy tế nhị và nhạy cảm với Bắc Kinh.
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lúc bấy giờ là đối tượng đả kích số 1 của blog Chân Dung Quyền Lực, một blog mà người ta không khó giải mã là được lập ra để ca tụng Nguyễn Tấn Dũng và tấn công các đối thủ của ông ta. Chính vì thế, để xét đoán lập trường chính trị của vị tân Thủ tướng, người ta có một cơ sở rất đáng tin cậy – đó chính là lập trường chính trị của ngài cựu Thủ tướng.

Suốt một thời gian dài, cho đến trước Đại hội XII, ông Nguyễn Tấn Dũng được coi là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam. Và thông qua những phát ngôn “lên án” Trung Quốc của ông ta cùng những lời lẽ đáp trả của Bắc Kinh, xem ra phần lớn công chúng đều có cảm tưởng ông ta là nhân vật “thân Mỹ, chống Tàu” số 1 trong ban lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nhiều lần chỉ ra,[i] ông Nguyễn Tấn Dũng chính là người Việt Nam lập được nhiều chiến công nhất cho Trung Quốc kể từ năm 1945 đến nay, và màn “ăn miếng trả miếng” sinh động giữa đôi bên chỉ là trò bịp bợm theo đúng bản chất “thâm như Tàu” của các ông chủ Trung Nam Hải.
Vì vậy, việc Chân Dung Quyền Lực đả phá kịch liệt ông Nguyễn Xuân Phúc là một bằng chứng cho thấy ông chưa bị Bắc Kinh khống chế và thao túng như người tiền nhiệm Nguyễn Tấn Dũng.
Tuy nhiên, sau màn chào mừng hy hữu và đặc biệt long trọng với 19 phát đại bác mà Bắc Kinh dành cho nhân vật đứng thứ 3 trong ban lãnh đạo CSVN trong chuyến thăm Trung Quốc lần đầu tiên trên cương vị Thủ tướng từ ngày 10-15/9/2016, đồng thời cũng là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của một thành viên trong “tứ trụ triều đình” hậu Đại hội XII, mọi chuyện dường như đã thay đổi.
Chỉ vài ngày sau cuộc đón tiếp hoành tráng đó, bản Thông cáo chung Trung - Việt ra đời với những nội dung mà bất kỳ người Việt Nam nào vẫn dõi theo tình hình đất nước nói chung và mối quan hệ Việt - Trung nói riêng cũng phải đón nhận với tâm trạng đầy lo ngại. Xin dẫn ra đây một vài nội dung nhạy cảm:
(i) Thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng (2016 - 2020) [mục 4]. Việc hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng thực chất chỉ là việc Việt Nam cử cán bộ sang Trung Quốc để “học tập”, “nghiên cứu”, khi Việt Nam không thể “đào tạo” cán bộ cho Trung Quốc. Và điều đó chẳng khác gì “giao trứng cho ác”, bởi Bắc Kinh sẽ giở đủ mọi chiêu trò để mua chuộc, gài bẫy, đe doạ… hòng tiến tới khống chế và thao túng số cán bộ này, biến họ thành những tên tay sai đắc lực trong tương lai.
(ii) Thúc đẩy hợp tác đầu tư và kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước. Phát huy vai trò Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng, tích cực nghiên cứu và thúc đẩy các dự án hợp tác kết nối trong khuôn khổ “hai hành lang, một vành đai” và “một vành đai, một con đường”; khẩn trương lập quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; ủng hộ doanh nghiệp hai bên đẩy nhanh giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong các dự án hợp tác liên quan giữa hai bên; tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào các dự án phù hợp với nhu cầu và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam [khoản iii mục 4]. Đây chính là cái bẫy đưa Việt Nam ngày càng lệ thuộc nặng nề về kinh tế vào Trung Quốc, tiếp tục cuộc xâm lăng kinh tế mà họ đã thực hiện rất thành công dưới “triều đại” Nguyễn Tấn Dũng.
(iii) Tăng cường hợp tác tài chính và tiền tệ. Thực hiện tốt các công việc tiếp theo sau Phiên họp lần thứ 2 Nhóm công tác hợp tác về tài chính - tiền tệ [khoản iv mục 4]. Đây cũng là một phần quan trọng trong âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam của Bắc Kinh.
(iv) Tích cực nghiên cứu và bàn bạc ký kết Hiệp định vận tải đường sắt biên giới mới [mục 7]. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho hàng hoá “made in China” tràn vào Việt Nam, bóp chết nền sản xuất trong nước.
(v) […] hai bên đã ký kết… “Bản ghi nhớ về Danh mục các dự án hợp tác năng lực sản xuất giữa Bộ Công Thương nước CHCNXH Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách nước CHND Trung Hoa”; “Bản ghi nhớ về cùng xây dựng Kế hoạch hợp tác cơ sở hạ tầng trên bộ giai đoạn 2016 - 2020 giữa Bộ KH&ĐT nước CHXHCN Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách nước CHND Trung Hoa”; “Thỏa thuận hợp tác về giáo dục giai đoạn 2016 - 2020 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Giáo dục nước CHND Trung Hoa”… [mục 14]. Bất kỳ ai hiểu được tâm địa của Trung Quốc cũng đều không khỏi giật mình trước những nội dung “hợp tác” này.
Trong thời gian ở Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc còn tham dự Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư Hồng Kông - Việt Nam, chứng kiến lễ ký 10 thỏa thuận với tổng giá trị lên tới 10 tỷ USD giữa các doanh nghiệp, tiếp đón lãnh đạo hai tập đoàn gián điệp chuyên cung cấp hạ tầng mạng và thiết bị điện tử viễn thông cho Việt Nam là Huawei và ZTE.
Chưa hết, ngày 5/12 vừa qua, truyền thông nhà nước đồng loạt đưa tin, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng nhiều quan chức Chính phủ lại tiếp đón lãnh đạo hai doanh nghiệp Trung Quốc là Công ty TNHH Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Môi trường Sinh thái Kaidi và Công ty TNHH Cổ phần Đầu tư Dân Sinh. Và cuộc gặp này diễn ra chỉ 3 tháng sau cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa họ với Thủ tướng Việt Nam trong chuyến thăm Trung Quốc kể trên.
Những năm gần đây, thực trạng nền kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc đã lên đến mức báo động, dư luận liên tục lên tiếng cảnh báo, trong khi bất kỳ một người Việt Nam tỉnh táo nào cũng đều hiểu rằng Trung Quốc không những không bao giờ muốn Việt Nam phát triển mà còn luôn nuôi dã tâm thôn tính dải đất hình chữ S này.
Với tư cách người đứng đầu bộ máy hành pháp, nắm thực quyền lớn nhất trong hệ thống chính trị, Thủ tướng Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi gọng kìm kinh tế của Bắc Kinh. Vì vậy, sau tất cả những gì đã xẩy ra, công chúng Việt Nam có đầy đủ lý do để lo ngại khi không khỏi phải đặt ra câu hỏi: Phải chăng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang “hướng Trung”?
____________
Chú thích:

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê AnhHùng
Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.





Nguồn: VOA