Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

SỰ BẤT LỰC CỦA TRUNG ƯƠNG, SỰ VÔ HIỆU CỦA CÁC THIẾT CHẾ DÂN CHỦ Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ HỆ LUỴ

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 1/11/2011



1.
Thời gian gần đây, khi thực trạng đầu tư công tràn lan từ trung ương đến địa phương được nhận diện là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao và sản xuất đình đốn hiện nay, người ta mới bắt đầu nêu lên những bất cập trong khâu phân cấp quản lý, trong đó có quản lý đầu tư, giữa trung ương và địa phương.
Phân cấp quản lý là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển, khi chính quyền trung ương không đủ khả năng bao quát hết những khía cạnh đặc thù của từng địa phương để đưa ra các quyết định quản lý hiệu quả và giám sát việc thực hiện chúng. Ở Việt Nam, quá trình phân cấp quản lý trong suốt thời gian qua diễn ra song song với quá trình “đổi mới” từ năm 1986 đến nay, chuyển từ chế độ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, do bản chất của cuộc “đổi mới” ở Việt Nam là một sự thay đổi thụ động và nửa vời, xuất phát từ sự thúc bách của tình thế, chứ không phải là một sự thay đổi chủ động, một cuộc “lột xác” theo đúng nghĩa (thể hiện qua cái đuôi “định hướng XHCN”), nên nó đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề nan giải.
Trong một bài viết cách đây hai năm, tác giả đã bàn qua về tình trạng bất lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như sự vô hiệu của các thiết chế dân chủ ở địa phương, một thực tế khiến cho quá trình phân cấp quản lý trở nên thiếu hiệu quả và gây ra nhiều hệ luỵ kinh tế - xã hội sâu rộng.1Và xem ra tình hình hiện vẫn đang diễn ra theo chiều hướng ngày một xấu hơn.
Trước hết, quý vị độc giả có thể hình dung ra phần nào bức tranh đầu tư công ở Việt Nam qua những con số sau đây từ chương trình Đối thoại chính sách: Tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả đầu tư, phát trên VTV1 vào hồi 22h20 ngày 26/10/2011:
  • Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư thì số liệu về đầu tư công trong 6 tháng đầu năm 2011 là:
  • Khởi công: 6.731 dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên (tăng gần 1.000 dự án so với cùng kỳ năm 2010);
  • Hoàn tất, đưa vào khai thác: 4.693 dự án.
  • Theo số liệu của Tổng cục Thống kê về đầu tư công trong 9 tháng năm 2011:
  • Tổng vốn 131.364 tỷ VNĐ, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2011;
  • Dự án chậm tiến độ: 6 tháng 2011: 11,15%; 6 tháng 2010: 9,78%.
  • Theo thông tin từ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương:
  • Các dự án đầu tư công năm 2012 mà các bộ, ngành và địa phương đã trình lên Chính phủ lên tới 300 tỷ USD, tức gấp 3 lần quy mô GDP hiện nay (105 tỷ USD);
  • Trong 10 năm qua, đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm 46% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội.
  • Theo số liệu của Bộ KHĐT thì bội chi năm 2009 (tính cả trái phiếu CP) là 9,7% và năm 2010 là 8,7% GDP, so với con số chính thức là khoảng 5% GDP.
Cũng trong chương trình nói trên, ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư, một trong hai khách mời tham gia chương trình (cùng với ĐBQH Trần Du Lịch), đã đưa ra con số ước định là nếu bắt đầu từ năm 2012 chấm dứt khởi công các dự án đầu tư công mới thì còn phải mất tới 8 năm nữa mới đủ ngân sách để hoàn tất các dự án đầu tư công đang dở dang.
2.
Tại cuộc hội thảo về tái cơ cấu đầu tư do Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư tổ chức ngày 27/10/2011, TS Vũ Thành Tự Anh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, nhận xét: “Việt nam có hơn 50 tỉnh địa phương đầu tư phụ thuộc vào ngân sách. Đầu tư dàn trải, phân tán, lỗi là ở người đi xin đã đành nhưng người cho cũng có lỗi.” Còn TS Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam, thì đưa ra bình luận thẳng thắn: “Quy hoạch ở Việt Nam đúng là một bức tranh châm biếm. Mỗi địa phương như một vương quốc độc lập. Tỉnh nào cũng có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, khu du lịch, sân golf, khu đô thị cao cấp... như một ‘đại công trường’ nhưng dang dở”. Nguyên Bộ trưởng bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, chủ trì cuộc hội thảo, lại nhận định: “Khuyết điểm quy hoạch đầu tư này là từ cơ quan Trung ương. Tôi không đồng tình với cách trả lời trước đây của Bộ trưởng bộ Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc khi đổ lỗi là việc đầu tư đã phân cấp rồi, Bộ không có trách nhiệm gì. Rõ ràng, người đi xin thì cứ việc đi xin, nhưng quan trọng là ở trên, ông có dám từ chối hay không?”2
Tuy nhiên, nếu từ đó mà vội quy trách nhiệm cho cơ quan Trung ương, cụ thể ở đây là Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong khâu quy hoạch thì e rằng hấp tấp quá. Trong thời buổi hiện nay, chẳng ai cho không ai cái gì cả. Và khi mà cái quyền “cho” kia lại không phải chịu một hình thức ràng buộc hay giám sát đáng kể nào thì đấy chính là mầm mống cho đủ thứ tiêu cực trong xã hội.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải từng nhắc lại trước diễn đàn Quốc Hội câu nói rất chân thật nhưng cũng đầy chua chát của một vị chủ tịch tỉnh: “Mình vừa có ý định thay nó (giám đốc sở) thì nó đã vận động thay mình”.3Và trên thực tế, những người bảo trợ ở Trung ương cho những đối tượng như vị giám đốc sở kia lại nhiều vô kể; họ không chỉ có khả năng kết bè để thao túng quyền lực ở địa phương mà còn đủ sức phá vỡ bất kỳ kiểu “quy hoạch” nào của Trung ương. (Trong cuộc hội thảo nói trên, TS Vũ Thành Tự Anh đưa ra một ví dụ minh họa sinh động là câu chuyện quy hoạch cảng biển vùng đồng bằng sông Cửu Long: Tháng 10/2009, Thủ tướng ký Quyết định phê duyệt quy hoạch với 21 cảng biển ở đây. Nhưng chỉ sau 2 năm, khi có quy hoạch chi tiết về cảng biển thì con số cảng biển đã tăng lên 27! TS Vũ Thành Tự Anh còn cho hay là khi thảo luận, chính Bộ KH-ĐT nhận định rằng con số 15 khu kinh tế ven biển là quá nhiều, mà chưa có khu nào đáng gọi là khu kinh tế. Đến lúc VN phải xem lại, chọn lựa một vài khu kinh tế biển để “làm cho ra hồn”. Thế nhưng, cũng chính Bộ KH-ĐT lại không cưỡng được “xu thế”, đầu tháng 9/2011 vừa qua lại bổ sung vào quy hoạch thêm 3 khu kinh tế biển nữa, thành 18 khu, mà mỗi khu chỉ cách nhau 40-50km.4) Với cơ chế hiện nay của chúng ta thì rõ ràng quyền hoặc tiền hoặc cả hai là sức mạnh đủ sức công phá mọi thành luỹ.
Trong thể chế chính trị hiện hành ở Việt Nam, ngoài một Thủ tướng về mặt chính thức, chúng ta còn có hai “siêu Thủ tướng” là Tổng Bí thư BCHTW Đảng và Chủ tịch nước, 11 vị uỷ viên Bộ Chính trị còn lại đều có uy quyền và ảnh hưởng tương đương những “Phó Thủ tướng Thường trực”, ấy là chưa kể các Phó Thủ tướng chính thức khác trong Chính phủ và các thế lực khác trong Đảng. Câu nói trên rõ ràng là không chỉ thể hiện nỗi chua chát của vị chủ tịch tỉnh kia mà còn là “nỗi niềm” của bản thân nguyên Thủ tướng, người chính thức phải chịu trách nhiệm trước Quốc Hội, trước nhân dân, còn mười mấy vị uỷ viên Bộ Chính trị kia (kể cả Tổng Bí thư BCHTW) thì chẳng phải chịu trách nhiệm trước một thực thể “chính danh” nào cả. Đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng giãi bày trước Quốc Hội: “Hơn ba năm nay, tôi chưa kỷ luật ai!”5Dĩ nhiên là không phải ông không muốn kỷ luật những thuộc cấp kém năng lực hay mắc sai phạm của mình để nâng cao hiệu lực của quyết định quản lý và hiệu quả của công tác điều hành. Trong bối cảnh đó, nếu vị Thủ tướng “chính thức” không đủ tài năng, bản lĩnh và đức độ để “cầm cương” thì dễ trở thành “con rối” và tình hình ngày một thêm bi bét là thực tế khó tránh khỏi.
Đằng sau các các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, vốn đang liên tiếp tung ra những “quả đấm thép” khiến nền kinh tế khó lòng gượng dậy, chính là các thế lực chính trị vững mạnh. Thử hỏi, nếu không có sự bảo trợ của “ai đó” thì liệu Vinashin có dám đầu tư vung vít như thế hay không? (Để rồi một cuộc “kiểm tra Đảng” mới khiến cho các nhà “quản lý kinh tế” hết giả đui giả điếc!) Nếu không có thế lực nào đó đứng sau lưng thì liệu EVN có mãi một mình một chợ vẫn thấy chưa đủ mà còn đầu tư tràn lan ra ngoài ngành để rồi giờ đây phải ôm khoản lỗ 31.000 tỷ VNĐ trong khi vẫn cứ bình chân như vại hay không? (Một kết quả từ cuộc thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về giá và thuế tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, do Thanh tra Bộ Tài chính thực hiện, cho thấy là vào tháng 2/2010, trong Thông tư số 08/2010/TT-BCT, Bộ Công Thương đã cho phép EVN tăng giá bán điện bình quân năm 2010 lên mức 1.058 đồng/KWh, cao hơn 2,2% so với mức mà Thủ tướng cho phép.)6
3.
Thiết chế dân chủ cơ bản ở địa phương chính là hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã). Tuy nhiên, như mọi người đều biết, hội đồng nhân dân các cấp phần lớn đều chỉ mang tính hình thức, do cơ chế “Đảng cử, dân bầu” và do sự thao túng của (ban thường vụ) cấp uỷ đối với hội đồng nhân dân. Vì nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng nên ở Trung ương thì Bộ Chính trị thao túng và thường phớt lờ Ban Chấp hành TW7(vốn xuân thu nhị kỳ nhóm họp dăm ba ngày chủ yếu chỉ để “đọc báo cáo” của Bộ Chính trị – chú nào mà dám “ho he” thì sớm muộn gì cũng đều bị “ăn đòn” tập thể, bởi với cơ chế này thì chỉ có thánh thần mới không dính chàm, mà người cộng sản vốn không mê tín nên thánh thần làm gì được “cơ cấu” vào “cấp uỷ”), còn ở các địa phương thì các ban thường vụ cấp uỷ lại thường qua mặt cấp uỷ. Ngoài ra, như đã nói ở trên, hầu hết các thế lực ở địa phương đều (buộc phải) có một cái “ô” vững mạnh nào đó ở Trung ương. Nếu lãnh đạo địa phương là bộ hạ của Thủ tướng thì nỡ nào ông lại tự bắn vào chân mình; còn nếu họ là thuộc hạ của một vị uỷ viên Bộ Chính trị nào đấy thì Thủ tướng đành phải “vuốt mặt nể mũi” thôi. Trong khi đó, như một lẽ tự nhiên, các ban thường vụ cấp uỷ, mà cao nhất là Bộ Chính trị, thì lại luôn có ý thức bao che cho nhau vì “lợi ích” của nhúm người đó, để rồi người dân và đất nước phải gánh chịu mọi hậu quả. (Như vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn chẳng hạn, Thường vụ Thị uỷ Đồ Sơn còn “đi đến thống nhất” về việc chia chác đất cho nhau.8)
Những hạn chế, bất cập của hoạt động HĐND các cấp hiện nay:

      Về cơ chế tổ chức:
Đại biểu HĐND hầu hết là kiêm nhiệm, số lượng không tương xứng với với chức năng, nhiệm vụ. Các thành viên của các ban thuộc HĐND tỉnh, huyện (5 đến 7 thành viên/ban) chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm.

Về cơ chế giao nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND:
HĐND, thường trực, các ban của HĐND và mỗi đại biểu có rất nhiều nhiệm vụ, nhưng quyền hạn lại không tương ứng. Đến nay, chưa có một văn bản pháp quy nào hướng dẫn cụ thể về công tác giám sát việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. HĐND, thường trực, các ban, đại biểu HĐND không có quyền lực gì ngoài quyền “kiến nghị”, “yêu cầu”, “chất vấn” chung chung. Bởi thế, hiện tượng phổ biến hiện nay là nhân dân rất ít đến với HĐND để kiến nghị.
Nội dung kỳ họp HĐND các cấp có rất nhiều vấn đề (ít nhất không dưới 9 nội dung theo luật định, lại còn các nội dung chuyên đề, báo cáo thẩm định của các ban thuộc HĐND), trong khi đó thời gian của mỗi kỳ họp lại rất ít. HĐND thường mỗi năm có hai kỳ họp, mỗi kỳ họp cấp tỉnh thường từ 3 đến 4 ngày, cấp huyện từ 2 đến 3 ngày, cấp xã từ 1 đến 2 ngày. Điều đó dẫn tới các vấn đề cần thảo luận, quyết định và ra nghị quyết không tương xứng với thời gian kỳ họp, là một nguyên nhân làm cho kỳ họp HĐND nhiều khi chỉ là hình thức, chung chung, không đi sâu vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm, xây dựng các phương án khả thi.

Cơ chế đảm bảo điều kiện hoạt động cho HĐND:
Hầu hết các HĐND không có trụ sở làm việc riêng, không có văn phòng riêng; ở cấp xã không có các ban. HĐND, UBND cấp xã hoạt động đã khó khăn lại càng khó khăn hơn bởi năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở, điều kiện phục vụ công việc, chế độ phụ cấp là rất thấp.
Tóm lại, từ cơ chế tổ chức, cơ chế giao nhiệm vụ, đến cơ chế đảm bảo cho điều kiện hoạt động của HĐND hiện hành, nhằm thực hiện quyền lực, thực hiện nhiệm vụ của HĐND còn nhiều vướng mắc, chưa thông thoáng, hiệu quả hoạt động của HĐND còn nhiều hạn chế, còn mang nặng tính hình thức.
(Hoàng Sỹ Hạnh: Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta - Thực trạng và giải pháp[http://www.vnjurist.com/home/Hoat-dong-cua-Hoi-dong-nhan-dan-cac-cap-o-nuoc-ta-Thuc-trang-va-giai-phap.208.html]).
Xem thêm bài: Hội đồng nhân dân tỉnh còn bị động khi ra nghị quyết (http://tintuc.xalo.vn/00-217390633/Hoi_dong_nhan_dan_tinh_con_bi_dong_khi_ra_nghi_quyet.html)
4.
Khi đồng lương công chức không đủ sống thì mặc nhiên tham nhũng được coi là hiện tượng đương nhiên trong xã hội; người dân ai cũng biết điều đó và các nhà lãnh đạo lại càng không thể không biết. (Với một hệ thống tầng tầng lớp lớp nào Đảng, nào chính quyền, nào đoàn thể, nào tổ chức chính trị - xã hội… như hiện nay thì thử hỏi tiền thuế của dân làm sao kham nổi?) Chỉ có điều “ăn quen bén mùi” lại là khuyết tật cố hữu của con người. Và khi mà Bộ Chính trị nằm ngoài khả năng giám sát của các thiết chế dân chủ và cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương còn các cấp uỷ ở địa phương lại nằm ngoài khả năng giám sát của các thiết chế dân chủ và cơ quan bảo vệ pháp luật cùng cấp thì những ý tưởng kiểu như thay vai trò trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng của chủ tịch tỉnh bằng bí thư tỉnh uỷ hoặc chủ tịch HĐND tỉnh như ông Tổng Thanh tra Chính phủ mới đưa ra gần đây chẳng qua chỉ là chuyện thay trò hề này bằng màn bịp bợm kia thôi. Hay nói như người dân quê tôi, “Bầu cái thằng nó ‘ăn’ nhiều rồi thì may ra còn chút hy vọng là nó sẽ ‘ăn’ ít hơn thôi, chứ với cơ chế này mà bầu thằng mới thì nhiều khả năng nó lại còn ‘tạp ăn’ hơn thằng cũ”.
Mỉa mai thay, tuy là chính thể độc đảng, không có đảng phái đối lập, nhưng có lẽ một trong những cơ chế ít nhiều còn có tác dụng kiềm chế sự lạm dụng quyền lực ở cả trung ương lẫn địa phương lại chính là sự tồn tại của các phe cánh trong Đảng. Nếu không như thế thì những Phạm Thanh Bình, Lã Thị Kim Oanh, v.v. vẫn còn ung dung để tiếp tục tác oai tác quái, và Chính phủ thỉnh thoảng lại cứ phải họp để “bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn” cho doanh nghiệp này doanh nghiệp nọ. Chừng đó thôi cũng đủ cho thấy các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương bất lực đến thế nào. (Theo khoản 1, Điều 5 của Luật Công an Nhân dân thì “Công an Nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Trong khi đó, Đại hội Đảng thì 5 năm mới diễn ra một lần, BCHTW Đảng thì mỗi năm nhóm họp hai lần với độ dăm ngày một lần; do vậy cụm từ “Đảng Cộng sản Việt Nam” kia nếu chẳng phải là Bộ Chính trị ở Trung ương và thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ ở địa phương thì còn ai vào đây? Lực lượng nòng cốt và tinh nhuệ nhất trong công cuộc chống thứ giặc “nội xâm” kia mà bị trói chân, trói tay như thế thì còn biết trông mong gì? Điều đó cũng cho chúng ta thấy “pháp luật” ở Việt Nam là của ai và nằm trong tay ai.)
Do sự thao túng của các ban thường vụ cấp uỷ nên hội đồng nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật thường bất lực trong việc giám sát các cơ quan công quyền cùng cấp. Điều này giải thích cho thực tế là các vụ tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ lẻ, ở cấp dưới, còn tỷ lệ án tham nhũng ở cấp cao rất ít. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng năm 2010, trong tổng số bị can bị khởi tố về hành vi tham nhũng, cán bộ cấp xã phường chiếm tỷ lệ 30,9%, còn cấp Trung ương chỉ chiếm 0,3%.9Đơn giản là làm gì còn có cấp nào “to” hơn cấp Trung ương để mà giám sát họ. Riêng ở khoản này thì các ban thường vụ cấp uỷ từ Trung ương đến địa phương đã làm đúng lời Bác Hồ dạy: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.”10
Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự bất lực của các thiết chế dân chủ và các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương chính là tình trạng khiếu kiện vượt cấp tồn tại từ bao năm qua.11Nguyên Đại biểu QH Nguyễn Minh Thuyết cho biết: “Ngày nào tôi cũng nhận được vài đơn thư, mỗi lần đi công tác về là cả một chồng dày đơn khiếu nại mà chưa thể giải quyết hết được.”12 Trong năm qua, có nhiều địa phương không phát hiện và khởi tố được vụ án tham nhũng nào, hoặc ít phát hiện và khởi tố các vụ án tham nhũng. Một số tỉnh như Quảng Trị, Điện Biên, Bến Tre, Sóc Trăng… chỉ khởi tố 1 vụ, 1 đối tượng tham nhũng. Đặc biệt, tỉnh Hà Nam không khởi tố vụ tham nhũng nào.13
5.
Đáng tiếc là trước tình trạng băng hoại đạo đức và tội phạm tràn lan trong xã hội hiện nay mà dự thảo Luật Tố cáo vừa được Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội trình ra trước Quốc Hội ngày 25/10/2011 lại đặt ra những điều khoản mâu thuẫn với một số luật khác, trong đó Luật Báo chí và Luật Phòng chống tham nhũng.14Một trong những nội dung gây ngạc nhiên của dự thảo là quy định hạn chế hình thức tố cáo, theo đó việc tố cáo qua thư điện tử, qua fax hay điện thoại không được chấp nhận.15Đây là một điều gây bất ngờ bởi ngày 12/10/2011, trong phiên thảo luận ở Thường vụ Quốc Hội, ban soạn thảo đã thống nhất bổ sung cách thức tố cáo bằng email, điện thoại, fax.16Phải chăng 18 vị uỷ viên Uỷ ban Thường vụ QH là đều là những đứa “con nít” đồng bóng hay có “thầy phù thuỷ” nào đó phù phép ở đây? Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội mà còn như vậy thì còn trông mong gì ở hội đồng “nhân dân” các cấp?
ĐBQH Nguyễn Đăng Trừng từng ví von: “Nước nào cũng có tham nhũng, mức độ ít hoặc nhiều. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, công tác phòng chống tham nhũng như dòng văn học hiện thực phê phán cuối thế kỷ 19, thấy hiện trạng, có phê phán, nhưng lại không có giải pháp gì để tháo gỡ cả.”17GS.TS Đỗ Thế Tùng (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) đưa ra lời nhận định thẳng thắn trong cuộc hội thảo do Tạp chí Cộng sản và Viện Khoa học Xã hội VN tổ chức ngày 23/8/2011: “Nếu như tham nhũng không được đẩy lùi thì nên hiểu là tham nhũng nằm ngay trong cơ chế, và cơ chế đang ‘nuôi dưỡng’ chứ không phải đẩy lùi tham nhũng!”18
Rõ ràng, trước tình hình nóng bỏng hiện nay của đất nước, cũng như bối cảnh và xu thế trong khu vực và trên thế giới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đứng trước những quyết định lịch sử, quyết định vận mệnh của dân tộc. Và nếu Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là “Đảng của Dân tộc Việt Nam” thì Đảng chỉ có một lựa chọn duy nhất ở đây, đó là: CẢI CÁCH THỂ CHẾ SÂU RỘNG VÀ TRIỆT ĐỂ./.


Ghi chú:

1 Báo Dân Luận ngày 26/10/2009: Từ chuyện “ý thức của người tham gia giao thông” đến thực trạng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay (danluan.org/node/3041).
2 Báo Vietnamnet ngày 28/10/2011: Bệnh đầu tư công: Lỗi cả kẻ xin, người cho (http://vef.vn/2011-10-28-benh-dau-tu-cong-co-loi-ca-ke-xin-nguoi-cho).
3 Website Cải cách Hành chính – Bộ Nội vụ ngày 18/7/2008: Loại bỏ công chức yếu kém: Thủ trưởng cơ quan “chịu chết”! (http://caicachhanhchinh.gov.vn/PortalPlus.aspx?/vi-VN/News/71//1033/0/2511/); Báo Dân Trí ngày 2/4/2007: “Người đứng đầu không thể dựa mãi vào tập thể”
4 Báo Vietnamnet ngày 29/10/2011: Nhà nước có dám bỏ kinh doanh? (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-28-nha-nuoc-co-dam-bo-kinh-doanh).
5 Báo Tuổi Trẻ ngày 20/11/2009: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Hơn 3 năm nay, tôi chưa kỷ luật ai” (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/348716/Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung-%E2%80%9CHon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai%E2%80%9D.html)
6 Báo Vietnamnet ngày 27/10/2011: EVN: 'Cậu ấm hư hỏng' và câu hỏi với Bộ Công Thương (http://vef.vn/2011-10-26-tang-gia-dien-cau-am-hu-hong-va-cau-hoi-doi-voi-bo-cong-thuong).
7 “Tất cả mọi cố gắng để gia tăng quyền lực của BCHTW Đảng CSVN, đồng thời giảm ảnh hưởng của Bộ Chính trị, nếu có, đều chỉ là giả tạo, vì Bộ Chính trị coi BCH TW Đảng như ‘con nít’.” Ðó là nhận xét của cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Michael Marine, về những gì diễn ra tại Hội nghị Trung ương 3, Khoá X của BCHTW Ðảng Cộng sản Việt Nam (diễn ra từ ngày 24 đến 29/7/2006), dựa trên các nguồn tin thận cận của giới ngoại giao Mỹ, qua một công điện ngoại giao gởi về Washington D.C. mà Wikileaks tung ra gần đây. (Diễn đàn X-CafeVN ngày 6/10/2011: Hồ Sơ Wikileaks: Bộ Chính trị coi Trung ương Ðảng như ‘con nít’ [http://www.x-cafevn.org/node/2611?s=047fef415d8cc2bd5def7a4e002d748a]).
8 Báo Tuổi Trẻ ngày 21/6/2007: Vụ án đất ở Đồ Sơn: Đổ lỗi cho nhau (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/206702/Vu-an-dat-o-Do-Son-Do-loi-cho-nhau.html).
9 Báo Lao Động ngày 25/10/2010: Tổng Thanh tra CP: Việt Nam nhiều “tham nhũng vặt” (http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tong-Thanh-tra-CP-Viet-Nam-nhieu-tham-nhung-vat/17900).
10 Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
11 Báo Công An Tp Hồ Chí Minh ngày 7/7/2011: Tình trạng khiếu kiện vượt cấp vẫn còn phổ biến (http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p=&id=344496).
12 Báo VnExpress ngày 17/5/2011: 'Ngại va chạm thì đừng ứng cử vào Quốc Hội' (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/05/ngai-va-cham-thi-dung-ung-cu-vao-quoc-hoi/).
13 Báo Người Lao Động ngày 23/10/2011: Còn nhẹ tay với tham nhũng (http://nld.com.vn/20111022104955169p0c1002/con-nhe-tay-voi-tham-nhung.htm).
14 Dự thảo Luật Tố cáo quy định cơ quan thông tin báo chí khi nhận được tố cáo thì phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết”, điều này sẽ ngăn trở sự tham gia của báo chí trong việc phòng chống tham nhũng; ngoài ra, việc không thừa nhận hình thức tố cáo qua email, điện thoại và fax lại mâu thuẫn với quy định trong Luật Phòng chống tham nhũng.
15 Báo Vietnamnet ngày 25/10/2011: Chấp nhận hay bỏ qua email tố cáo? (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/45294/chap-nhan-hay-bo-qua-email-to-cao-.html).
16 Báo Dân Trí ngày 12/10/2011: Chấp nhận hình thức tố cáo qua email, điện thoại
17 Báo Dân Trí ngày 28/10/2010: “Chống tham nhũng ở Việt Nam giống văn học hiện thực phê phán” (http://dantri.com.vn/c20/s20-432847/chong-tham-nhung-o-viet-nam-giong-van-hoc-hien-thuc-ph234-ph225n.htm).
18 Báo Vietnamnet ngày 28/10/2011: Vận nước! (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-28-phat-ngon-tuan-viet-nam-van-nuoc).   


Bài đã đăng trên Dân Luận ngày 2/11/2011 (http://danluan.org/node/10456); đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 3.11.2011 (http://boxitvn.blogspot.com/2011/11/su-bat-luc-cua-trung-uong-su-vo-hieu.html) 

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

THƯ NGỎ GỬI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI DƯƠNG TRUNG QUỐC

Lê Anh Hùng





Kính thưa ông Dương Trung Quốc,
Trước hết, cho phép tôi được gửi tới ông lời chúc mừng nồng nhiệt nhất khi ông lại một lần nữa được cử tri tín nhiệm và bầu vào Quốc Hội khoá mới.
Như ông đã biết, ông là một trong những người nhận được bức thư tố cáo khi tôi lần đầu tiên gửi qua mạng Internet đến các cơ quan hữu quan vào ngày 21/4/2008. Cho đến nay, ông đã nhận được đầy đủ 53 lần gửi thư tố cáo của tôi (từ ngày 21/4/2008 đến ngày 23/12/2009 là 20 lần và từ ngày 21/3/2011 đến nay là 33 lần), và vì vậy có lẽ tôi không cần phải nhắc lại nội dung thư tố cáo của mình ở đây nữa.

Thưa ông, bất chấp việc tôi gửi thư tố cáo công khai đến hàng ngàn địa chỉ trong và ngoài nước (trong đó có đầy đủ các cơ quan hữu quan ở Việt Nam như Quốc Hội, Chính Phủ, Mặt Trận TQVN, Viện Kiểm Sát NDTC, Toà Án NDTC, Bộ Công An, báo chí, v.v.) như vậy, hiện nay những người có trách nhiệm vẫn phớt lờ việc giải quyết và đưa ra câu trả lời thoả đáng về vụ việc. Đây là những lý do khiến họ không thể dễ dàng bắt và tống cổ tôi vào tù như lần trước:
1)  Câu chuyện của chúng tôi có thể tách làm hai vụ việc, đó là (1) tôi tố cáo tội ác của các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải và (2) ông Nguyễn Minh Triết đứng đằng sau ủng hộ và chỉ đạo vợ chồng tôi tố cáo tội ác của 3 ông trên đây từ tháng 8/2008 cho đến khi tôi bị bắt vào ngày 25/12/2009. Vụ thứ nhất thì chúng tôi không có bằng chứng gì (ngoài những lời khai của vợ tôi, một nhân chứng của vụ việc, người nằm trong đường dây ma tuý của ông Hoàng Trung Hải), và người ta có thể bất chấp tất cả để bắt giam hai vợ chồng tôi với tội danh vu khống (mặc dù từ cuối năm 2008 Bộ Chính trị đã chỉ định Ban Chuyên án để điều tra vụ việc và đến tháng 6/2009 thì Ban Chuyên án đã kết thúc điều tra với đầy đủ bằng chứng như chúng tôi đã cáo buộc).[1]Vụ thứ hai, việc ông Nguyễn Minh Triết chỉ đạo chúng tôi tố cáo, muốn bắt chúng tôi thì người ta phải điều tra trước đã. Để làm điều đó, người ta phải tổ chức cuộc đối chất giữa vợ tôi và ông Triết. Ngoài ra, chúng tôi có những nhân chứng chắc chắn sẽ đứng về phía chúng tôi, đặc biệt là (1) ông Ngô Quận, Đại tá, nguyên Phó Giám đốc Công An Quảng Trị, hiện nay đã nghỉ hưu ở Tp Đông Hà và (2) ông Ngô Văn Tiếu, nguyên Giám đốc Công an Quảng Trị, nay là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Cảnh sát Cơ động. Ông Quận cũng là nạn nhân của ông Triết, sau khi tôi bị bắt và khai ra vai trò của ông Triết, đồng thời Nhật ký của tôi có tiết lộ việc ông Quận đã sao chép được toàn bộ chứng cứ (trong đó có cả chứng cứ phạm tội của ông Triết) mà ông Triết đã mua từ Ban Chuyên án, ông Triết đã đe doạ ông Quận và buộc ông Quận phải chuyển trả toàn bộ số tiền mà trước đấy ông Triết đã chuyển cho ông Quận (để cho vợ chồng tôi) cũng như tất cả tiền bạc của chúng tôi mà lúc ấy ông Quận đang giữ[2];
2)  Đầu tháng 9/2009, một số đại sứ quán nước ngoài (sau khi tôi gửi thư tố cáo lần thứ năm và được nhà chức trách Việt Namcho phép) đã cử người vào gặp vợ tôi để tìm hiểu thực hư vụ việc. Mặc dù lúc đó, theo chỉ đạo của ông Triết, vợ tôi đã nói (dối) với họ là trong câu chuyện chỉ có một phần sự thực, nhưng chỉ cần các đại sứ quán này công khai thừa nhận việc người của họ từng vào Quảng Trị gặp vợ tôi (như đề nghị của tôi trong bức thư gửi cho họ) cũng đủ khiến bất kỳ ai vẫn còn “băn khoăn” về câu chuyện phải nghĩ lại. Lúc ấy, hậu quả đối với nhà chức trách là khó lường;
3)  Hầu hết các sỹ quan cao cấp trong Bộ Công an đều đã biết đến câu chuyện của vợ chồng tôi (ngay sau khi tôi mới gửi thư tố cáo lần thứ năm thôi – 31/8/2009 – mà đã có nhiều đoàn sỹ quan cao cấp của Bộ CA vào Quảng Trị để gặp trực tiếp vợ tôi). Sau khi tôi gửi thư tố cáo lên mạng lần thứ 21 ngày 21/3/2011 vừa rồi, nhiều đoàn sỹ quan Công an cao cấp ở Hà Nội và một số tỉnh thành đã đến Quảng Trị gặp vợ tôi (cùng các lãnh đạo Công an Quảng Trị, trong đó có cả người trong Ban Chuyên án điều tra vụ việc của tôi trước đây), họ đã động viên chúng tôi không chỉ về mặt tinh thần mà còn cả vật chất. Vì vậy, những người có trách nhiệm thật khó mà ép họ phải làm những điều độc ác, hèn hạ và trái đạo lý;
4)   Ban Chuyên án điều tra vụ việc của tôi sau khi tôi bị bắt ngày 25/12/2009 vẫn đang theo dõi vụ việc của chúng tôi, kể cả phía Viện Kiểm sát ND tỉnh (hiện họ vẫn thường xuyên gặp gỡ vợ tôi). Họ cũng đã làm việc với ông Ngô Quận, người đóng vai trò trung gian giữa vợ chồng tôi và ông Nguyễn Minh Triết. Vì vậy, với việc vợ tôi viết Bản Cam Đoan đồng thời ký và điểm chỉ vào các lá đơn tố cáo, Ban Chuyên án cũng chưa biết hành xử thế nào cho phải đạo. Bắt vợ chồng tôi thì không được và không đành, vì vụ việc đã quá rõ ràng. Cứ cho là chúng tôi “vu khống” các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải đi, thì việc ông Triết đứng đằng sau chỉ đạo chúng tôi tố cáo tội ác của ba ông này là hoàn toàn có thể kết luận được, với việc ông Ngô Quận khẳng định (thậm chí còn có thể đưa ra bằng chứng là các cuộc điện thoại được ghi âm). Còn nếu tiến hành điều tra tội ác của ba ông kia thì Ban Chuyên án ở Quảng Trị chưa đủ “tầm” (mặc dù đằng sau họ còn có những sỹ quan cao cấp ở Hà Nội từng chỉ đạo vụ bắt tôi trước đây), nhưng nếu thành lập Ban Chuyên án mới (phải có sự đồng ý của Bộ Chính trị) thì dứt khoát không thể bỏ qua họ. Mặt khác, nếu điều tra thì chắc chắn sẽ tòi ra nhiều bộ mặt mới, ấy là ông Nguyễn Phú Trọng[3], ông Nguyễn Sinh Hùng, v.v. (như kết quả điều tra của Ban Chuyên án năm 2009 đã cho thấy). Lúc đó, xét xử công khai thì không được, xử lý nội bộ cũng chẳng xong (chuyện đấu đá nội bộ vô cùng phức tạp, bởi ai mà chẳng ít nhiều tai tiếng), chưa kể người ta sẽ buộc phải chi ra một số tiền lớn để mua sự im lặng của Ban Chuyên án mới, điều khó khả thi vào lúc này.
Tóm lại, Bộ Chính trị hiện đang lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về vụ việc của vợ chồng tôi. Vì vậy, họ cứ bất chấp tất cả, ngồi xổm trên pháp luật và dư luận, để mặc cho tôi tố cáo.
Thưa ông, chúng tôi là những kẻ thấp cổ bé họng, không còn cách nào khác mà buộc phải gửi thư tố cáo qua đường Internet như thế này. Tôi biết ông là một trí thức nổi tiếng, một người vẫn đau đáu trước vận mệnh của nước nhà, tôi tha thiết đề nghị ông chuyển đến những người có trách nhiệm (Bộ Chính trị)[4]thông điệp rõ ràng như sau:
1)  Nếu các vị không có câu trả lời nghiêm túc, thoả đáng và thuyết phục về vụ việc[5], tôi [DTQ] sẽ đưa nó ra công khai ra trước Quốc Hội trong phiên họp toàn thể và yêu cầu Quốc Hội thành lập một Uỷ ban Điều tra độc lập để tiến hành điều tra vụ việc. Đây là một vụ việc vô cùng nghiêm trọng (với đầy đủ chữ viết tay, chữ ký và điểm chỉ của cả hai vợ chồng) và tôi đã nhận được tới lần thứ 53, cùng một loạt địa chỉ của các cơ quan hữu quan (Bộ Công an, Viện Kiểm sát NDTC, Toà án NDTC, Chính phủ, các báo đài của trung ương, v.v), vì vậy tôi không thể chấp nhận một lời giải thích dễ dãi, lấp liếm cho qua chuyện được. Ngoài ra, thời gian qua người tố cáo còn dịch sách và viết báo, phải là một người có năng lực trí tuệ bình thường và ổn định mới có thể làm nổi những công việc đòi hỏi nhiều về trí óc như thế. Tóm lại, mọi dữ kiện và suy luận đều dẫn tới một khả năng duy nhất: đây là một vụ việc có thực;
2)  Nếu các vị thừa nhận vụ việc, và để đổi lấy việc tôi [DTQ] cam kết sẽ không đưa nó ra công khai trước Quốc Hội[6], tôi yêu cầu quý vị (1) xử lý nội bộ những người phạm tội (đặc biệt là ông Hoàng Trung Hải), cho họ “rút êm” khỏi cương vị của mình, và (2) đưa ra một lộ trình cải cách dân chủ cho đất nước, trước hết là bắt đầu với việc sửa đổi toàn diện bản Hiến pháp hiện hành trong dịp này.
Đối với những trường hợp như ông Nguyễn Phú Trọng, người không thể đảm đương vai trò Chủ tịch nước và dẫn dắt đất nước trong giai đoạn mới, có thể đưa ra một giải pháp dung hoà là ông Trọng tiếp tục nắm giữ chức vụ cao nhất của hệ thống chính trị trong giai đoạn quá độ khoảng 1 - 2 năm (tối đa là 2 năm rưỡi) trước khi bản Hiến pháp mới có hiệu lực và một bộ máy nhà nước mới ra đời. Người Việt Namvốn giàu lòng vị tha và chính các giá trị tự do, dân chủ sẽ giúp cho quá trình hoà hợp và hoà giải dân tộc diễn ra nhanh chóng và êm thấm.
Tuy đây là bức thư ngỏ nhưng tôi chỉ gửi cho ông và một số vị nhân sỹ, trí thức tên tuổi mà tôi biết địa chỉ, vừa đủ để cho những người am hiểu nắm được sự việc, vừa không gây ra quá nhiều ồn ào và tạo sức ép cho ông. Nếu cá nhân ông không thể làm được gì nhiều, tôi đề nghị ông hãy gửi nó cho các vị đại biểu Quốc Hội khác và phối hợp hành động với họ. Qua đây, tôi cũng tha thiết đề nghị ông và các vị nhân sỹ, trí thức khác là trong trường hợp phương án trên đây vẫn không xong, tôi rất mong họ tạo điều kiện cho tôi được công khai thư tố cáo của mình, hoặc chí ít là giúp công khai việc tôi gửi thư tố cáo đến những địa chỉ có trách nhiệm.[7]Khi ấy, nhà chức trách không thể không giải quyết vụ việc. Dù không muốn chút nào nhưng tôi không sợ phải vào tù. Nếu không ngăn chặn được đoàn tàu tội ác đã mất phanh kia, chắc chắn việc làm của tôi cũng sẽ khiến cho hành trình tự huỷ diệt của nó diễn ra chóng vánh hơn. Lẽ phải thuộc về chúng ta; sau lưng chúng ta chắc chắn là có nhiều người đang ngấm ngầm ủng hộ, dù xuất phát từ nhiều lý do mà họ chưa thể lên tiếng vào lúc này; vì vậy, các ông, cũng như tôi, không việc gì phải e dè, sợ sệt cả. Ngược lại, chính những kẻ liên quan không chịu quay đầu lại mới đáng phải lo sợ.
Đây là chuyện vô cùng hệ trọng của đất nước. Chúng ta không ảo tưởng nhưng đồng thời cũng không được phép để vuột mất một cơ hội lịch sử như thế này. Ông đang đứng trước một sứ mệnh hết sức cao cả và trọng đại. Vì vậy, tôi mong ông hãy xem xét vụ việc một cách nghiêm túc và thể hiện trách nhiệm cao nhất của mình trước Tổ Quốc, trước nhân dân, đồng thời chuẩn bị tinh thần trước những bài lung lạc, cám dỗ tiềm tàng từ phía những người liên quan. Sự thừa nhận xứng đáng sẽ đến với ông khi ông biết đặt trách nhiệm của một bậc hiền sỹ trước non sông đất nước lên trên lợi ích cá nhân của mình.
Chúc ông luôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và hoàn thành tốt trọng trách mà cử tri và nhân dân đã tin tưởng phó thác.
Xin trân trọng cám ơn ông.
Quảng Trị, 17/10/2011


Lê Anh Hùng

GHI CHÚ:
Ngoài vị Thủ tướng bất tài, bất nhân, vô liêm sỷ, đã bán linh hồn cho quỷ và vẫn lỳ lợm “bám trụ” với chiếc ghế Thủ tướng để tiếp tục gieo rắc tai ương cho đất nước, quý vị có thể hình dung ra phần nào mức độ ảnh hưởng của con quỷ Hoàng Trung Hải đến cuộc sống hàng ngày của mình qua những thông tin sau:
Theo Quyết định số 1476/QĐ-TTg ngày 25/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì PTT Hoàng Trung Hải được giao những nhiệm vụ:
a)     Giúp Thủ tướng Chính phủ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác trong khối kinh tế ngành và phát triển sản xuất bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại - xuất nhập khẩu, xây dựng, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường.
-       Chỉ đạo bảo đảm năng lượng và tiết kiệm năng lượng.
-      Các dự án đầu tư trọng điểm quốc gia và các dự án nhóm A có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
-        Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất.
-        Phát triển các loại hình doanh nghiệp và kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
-        Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và đầu tư ODA.
-        Công tác phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.
b)    Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi và chỉ đạo: Bộ Công Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường.
c)    Làm nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; Chủ tịch Hội đồng quốc gia, Trưởng các Ban Chỉ đạo khác theo các lĩnh vực có liên quan.
d)   Các công việc khác theo sự phân công, ủy nhiệm của Thủ tướng.
Ngày 25/3/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 320/QĐ-TTg bổ nhiệm PTT Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; ngày 12/9/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định số 1250/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải, Trưởng ban là Phó TT Hoàng Trung Hải; ngày 4/5/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 580/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận, Trưởng ban là PTT Hoàng Trung Hải; ngày 15/4/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 546/QĐ-TTg, bổ nhiệm PTT Hoàng Trung Hải làm Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia. Ngoài ra PTT Hoàng Trung Hải còn là Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, v.v.
(Từ đó, quý vị cũng có thể rút ra rằng ông Hoàng Trung Hải là thủ phạm chính khiến cho hàng loạt các dự án trọng điểm quốc gia rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, khiến cho hàng vạn công nhân Trung Quốc nghênh ngang như giữa chốn vô chủ trên khắp Việt Nam.)
* Theo ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc Hội (người cùng quê Thái Bình với PTT Hoàng Trung Hải): "Những đơn thư tố cáo lãnh đạo Đảng, nhà nước mà tung lên mạng là rất nguy hiểm, và không  loại trừ ai. Nay nếu ta công nhận hình thức tố cáo như vậy sẽ rất nguy hiểm." (Báo Vietnamnet ngày 23/8/2011: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/36524/khong-nen-quay-lung-voi-khieu-nai-dong-nguoi.html). Không hiểu nhận định này là do “trình độ” của ngài cựu Chánh án TANDTC hay còn vì lý do gì khác? Liệu có phải có ai đó đã chỉ đạo là phải “vơ vét” ngài “Tiến sỹ Luật học” này để bố trí cho đủ số ghế của Uỷ ban Thường vụ QH hay không? (Báo Tuổi Trẻ ngày 28/11/2006: Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Hiện: “Vơ vét” để có đủ thẩm phán! http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/174877/%E2%80%9CVo-vet%E2%80%9D-de-co-du-tham-phan.html) Song may mắn là đa số thành viên Uỷ ban Thường vụ QH vẫn còn đủ sáng suốt để quyết định bổ sung các hình thức tố cáo bằng thư điện tử, fax, tố cáo bằng lời qua điện thoại, bằng tài liệu nghe được, nhìn được… (Báo Vietnamnet ngày 12/10/2011: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/43361/co-the-to-cao-qua-email-.html).


[1] Nếu điều tra nghiêm túc người ta có rất nhiều đầu mối, chẳng hạn bắt đầu từ vụ ông Hoàng Trung Hải giết tay trợ lý người Quy Nhơn (Bình Định) của mình từ thời ông ta còn làm Tổng Giám đốc EVN.
[2] Hiện nay, ông Nguyễn Minh Triết vẫn đang nắm giữ toàn bộ tiền của mồ hôi nước mắt của vợ chồng tôi, khiến chúng tôi (2 vợ chồng và 3 đứa con thơ dại) đang phải sống chui rúc vật vờ ở nhà bà ngoại vợ tôi từ đầu năm 2009 đến nay (10 con người thuộc 4 thế hệ đang phải chen chúc trong một ngôi nhà cấp 4 rộng chưa đầy 60m2). Gần ba năm qua, dù vợ chồng con cái tôi chịu đủ đường cơ cực nhưng ông Triết vẫn quyết không chịu trả tiền cho chúng tôi. Việc chúng tôi tố cáo như thế này một phần cũng là vì chúng tôi không còn con đường nào khác.
[3] Với cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc Hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Trung ương, ông Nguyễn Phú Trọng đã phù phép để biến con quỷ đội lốt người Hoàng Trung Hải thành “Đại biểu Quốc Hội” khoá XIII, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
[4]  Ông nên chuyển bức thư này ngay cho họ.
[5] Không thể cứ một hai là tôi bị “tâm thần” mãi được. Trong thời gian mà người ta nói là tôi bị bệnh “tâm thần hoang tưởng dai dẳng” ấy, tôi đã dịch hai cuốn sách về học thuật với ngót nghìn trang dịch (cuốn Friedrich Hayek: Cuộc đời và sự nghiệp do NXB Tri thức ấn hành tháng 6/2007 và cuốn Kinh tế học thể chế: Trật tự xã hội và chính sách công mà tôi vừa công bố qua đường Internet) đồng thời còn cấp tập cho ra đời ba “tác phẩm” quan trọng khác là ba đứa con hoàn toàn khoẻ mạnh (11/2006; 12/2008 và 4/2011). Với việc vợ tôi viết Bản Cam Đoan xác nhận tôi hoàn toàn bình thường và thừa nhận vai trò chính của cô ấy, chẳng lẽ người ta sẽ lại khẳng định là vợ tôi cũng bị “tâm thần” nốt chắc!?
[6] Xin nhấn mạnh với ông là những người liên quan rất sợ nếu có vị đại biểu nào đó khảng khái (chưa cần họ phải tỏ ra dũng cảm) đưa vụ việc ra trước diễn đàn Quốc Hội, vì một khi quả bom đã nổ rồi thì không còn gì mà nói nữa.
[7] Tôi biết việc này cũng không đơn giản chút nào. Đơn cử, Bản Kiến nghị ngày 10/7/2011 của các nhân sỹ, trí thức gây xôn xao dư luận như thế mà ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội vẫn thản nhiên mà rằng “cá nhân tôi và Uỷ ban TVQH chưa nhận được Bản Kiến nghị đó…” dù đã được gửi tới qua đường chuyển phát nhanh từ ngót một tuần trước đấy. Vì vậy, tôi cũng mong các ông hãy hiểu cho tình cảnh của tôi và tìm cách nào đấy giúp tôi công khai bức thư tố cáo của mình trong trường hợp cần thiết. Tôi nói “trong trường hợp cần thiết” vì thực lòng tôi không muốn làm to chuyện, gây ảnh hưởng xấu cho đất nước; tôi cũng không muốn “trả thù” ai cả và luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Việc tố cáo ồn ỹ như thế này chẳng qua là cực chẳng đã thôi.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

CHÍNH PHỦ VÀ CHÍNH SÁCH

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 10/10/2011


1.
Mới đây, nhiều người Việt Nam tỏ ra hồ hởi khi hay tin xuất khẩu gạo của Việt Nam đang đứng trước cơ hội vượt qua Thái Lan khi chính phủ nước này thực hiện chính sách bảo hộ giá gạo trong nước.1
Điều này càng cho chúng ta thấy một thực tế là thế giới đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn và liên hệ chặt chẽ với nhau hơn. Giờ đây thì ngay cả các bác nông dân nhà ta hẳn cũng đã hiểu ra là cái thế giới này nó “phẳng” đến thế nào rồi. Không chỉ một động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có ảnh hưởng ngay lập tức tới gần như toàn bộ nền kinh tế thế giới, mà ngay cả một cuộc nội chiến ở đất nước Libya nhỏ bé với dân số chỉ 6,6 triệu người cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường dầu mỏ thế giới và qua đó là đến nền kinh tế thế giới, hay quyết định bảo hộ giá gạo của chính phủ Thái Lan cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường gạo của thế giới, trong đó có những người nông dân Việt Nam.

Trong cái thế giới đang ngày càng gắn kết hơn với nhau đó, mỗi một động thái chính sách (và lớn hơn thế, chế độ chính trị) của một nước đều tạo ra ảnh hưởng nhất định đến các quốc gia bên ngoài, theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.
Trước mắt, người nông dân Thái Lan sẽ được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ giá gạo của chính phủ Thái Lan, khi giá trị sản phẩm của họ tăng lên. Song về lâu dài, chính sách này sẽ tạo ra sức ỳ cho ngành nông nghiệp trong nước, trong khi gánh nặng bảo hộ lại đặt trên vai các tầng lớp dân cư khác, đồng thời nó còn làm méo mó cơ chế phân công lao động và phân bổ nguồn lực hữu hiệu của thị trường. Đối với người nông dân Việt Nam, chính sách bảo hộ của chính phủ Thái Lan sẽ khiến cho giá gạo của Thái Lan kém cạnh tranh hơn và giá gạo của Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn, cho nên trước mắt nó sẽ tạo nên một cú hích cho hoạt động sản xuất lúa gạo của Việt Nam. Tuy nhiên, về lâu dài, việc chúng ta cạnh tranh với một đối thủ vốn đang chịu sức ỳ do chính sách bảo hộ gây ra thì cũng chẳng cải thiện được năng lực sản xuất cho mình là mấy; chưa kể, nếu chính phủ Thái Lan lại đột ngột xoá bỏ chính sách bảo hộ thì người sản xuất lúa gạo ở Việt Nam không khéo lại còn phải chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn (do đầu tư dàn trải quá mức chẳng hạn) so với những gì mà họ được hưởng khi chính phủ Thái Lan thực thi chính sách bảo hộ.
Người nông dân Thái Lan lâu nay vẫn được hưởng lợi từ lối vận hành lộn xộn của thị trường lúa gạo Việt Nam, nơi mà một mình Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA – với nòng cốt là Tổng Cty Lương thực Miền Nam và Tổng Cty Lương thực Miền Bắc) làm mưa làm gió, khiến cho lợi lộc chủ yếu rơi vào khâu trung gian và giới đầu cơ, còn đời sống của người nông dân thì vẫn chẳng khá lên là bao, nghèo vẫn hoàn nghèo. Thực tế này khiến cho người nông dân chẳng mấy mặn mà với việc mở rộng sản xuất, thâm canh hay tăng vụ (một phần là do không đủ nguồn lực để tái đầu tư). Bản chất của vấn đề là ở chỗ người ta đã lợi dụng vị thế độc quyền nhà nước để trục lợi tối đa cho cá nhân và phe nhóm. Tình trạng tương tự cũng diễn ra trên thị trường xăng dầu, lĩnh vực mà nhà chức trách và giới phân tích hiện vẫn đang mổ xẻ. Tuy nhiên, mọi giải pháp không sớm thì muộn rồi cũng thất bại, hoặc theo kiểu “bắt cóc bỏ dĩa”, khi mà trên thị trường vẫn tồn tại một hoặc một vài doanh nghiệp đóng vai trò thống lĩnh (trong trường hợp thị trường xăng dầu thì Petrolimex chiếm tới 60% thị phần) và khi mà thiệt hại của 86 triệu người tiêu dùng thì không thể đong đếm được trong khi lợi nhuận chảy vào hầu bao những kẻ đang thao túng thị trường và các khoản “lại quả” chảy vào túi của các nhà quản lý tự tư tự lợi, những kẻ sẵn sàng vì lợi ích của một nhóm người nhỏ bé và của bản thân mà nhắm mắt làm ngơ (dưới những chiêu bài như “ổn định thị trường”, “kiềm chế lạm phát”, v.v.), thì lại có thể “đếm” được. Và thị trường thì phản ứng rất chi là linh hoạt: xăng dầu hết chảy sang Campuchia (khi giá xăng dầu trong nước thấp hơn ở Campuchia) lại chảy ngược từ Campuchia về Việt Nam (khi giá xăng dầu trong nước cao hơn).
2.
Sớm muộn gì thì người anh em Lào của chúng ta cũng sẽ tiến tới với dự án thuỷ điện Xayaburi, đơn giản là ở một chế độ “dân chủ XHCN” như của Lào thì lời nói của đồng tiền nó dễ lọt tai hơn bất cứ điều gì khác. Ngay cả nguy cơ về một cuộc Hán hoá vẫn không đủ để khiến họ phải rụt rè trước những đồng Yuan có in hình bác Mao thì còn có gì là đáng kể ở đây. Không khéo chính các đồng chí Lào ngay từ bây giờ cũng đã ấm ức trong bụng mà rằng, “Với những bauxite Tây Nguyên, thuỷ điện 6 và 6A Đồng Nai thì các vị đã nghĩ gì đến người dân của mình hay chưa mà buộc chúng tôi phải nghĩ cho dân của các vị.” Tình trạng phá rừng hàng loạt ở Lào, trong đó người Việt “góp công” rất lớn, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái, khí hậu và dòng chảy vào Việt Nam.
Nhiều người Việt Nam từng phấn khởi khi hay tin thủ lĩnh phe đối lập ở Campuchia bị xét xử về vụ nhổ cọc phân giới với Việt Nam, do toà án tỉnh Svay Rieng tiến hành ngày 27/1/2010. Sam Rainsy bị tuyên án 2 năm tù vắng mặt (vì đang ở Pháp), và phải đóng tiền phạt 8 triệu Riel (2.000USD), đồng thời phải bồi thường cho chính quyền địa phương 5 triệu Riel (1.200 USD) vì tội phá hoại tài sản nhà nước và kích động kỳ thị sắc tộc.2Tuy nhiên, những ai biết rõ hiện tình Campuchia lại đều hiểu rằng ông Hunsen từ nay sẽ càng dễ bề khuynh loát chính trường Campuchia, những vấn nạn xã hội như tham nhũng, tội phạm… cũng sẽ nổi lên theo đấy.3Và chính Việt Nam chúng ta lại phải nhận lãnh hậu quả: Tình trạng vũ khí nóng tràn lan trong nước hiện nay một phần là nhờ sự nhắm mắt làm ngơ của “người anh 16 chữ vàng” ở phía Bắc và một phần là nhờ nguồn cung dồi dào từ phía Campuchia. Các sòng bạc gần biên giới Việt Nam hoạt động gần như bất chấp pháp luật cũng là một hệ quả của tình trạng pháp luật lỏng lẻo ở Campuchia, và nó đã gây ra bao hệ luỵ kinh tế - xã hội cho Việt Nam mà báo chí đã tốn nhiều giấy mực để phản ảnh.
Chủ nghĩa Đại Hán Trung Hoa dẫu đáng sợ đến mấy nhưng một nước Trung Quốc dân chủ cũng sẽ khiến cho mối đe doạ đó giảm đi đáng kể. Và một Việt Nam tự do, dân chủ chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tích cực để đưa đến một Trung Quốc ngày càng tự do và dân chủ hơn. Tuy nhiên, hai nước hiện nay lại đang là nguồn cổ vũ của nhau trong chính sách đè nén dân chúng, bóp nghẹt tự do, chà đạp dân chủ và tham nhũng. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.” Đó là lý do tại sao Chính phủ Việt Nam vẫn tỏ lập trường ủng hộ Gaddafi cho đến khi buộc phải muối mặt “thừa nhận” Hội đồng Dân tộc Chuyển tiếp (NTC) của Libya vào ngày 14/9/2011, khi mà những tội ác man rợ của chế độ độc tài quái đản Gaddafi đang dần dần bị phơi bày trước mắt bàn dân thiên hạ; đó là lý do tại sao Tổng thống Venezuela lại sẵn sàng nghênh đón Gaddafi tới tị nạn; đó là lý do tại sao Trung Quốc và Nga lại phủ quyết một dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 5/10/2011 về việc trừng phạt Syria nếu nước này không ngừng ngay lập tức hành động quân sự giết hại dân thường.
Phong trào dân chủ Mùa Xuân Ả-rập rõ ràng là đang tạo ra một sự thay đổi tích cực cho bức tranh chính trị của thế giới Ả-rập và phả hơi nóng vào các chế độ độc tài áp bức còn sót lại trên thế giới. Khi điều tất yếu phải đến thì cái giá cho nó lại tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan và thức thời của nhà cầm quyền. Đó có thể là cuộc thay đổi thay khá nhẹ nhàng ở Tunisia, sự chuyển tiếp tương đối bạo lực và lộn xộn ở Ai Cập, hay thậm chí là một cuộc nội chiến đẫm máu ở Lybia.
3.
Nhiều chính sách của chính phủ Việt Nam hiện nay đang thực sự phá hoại nền kinh tế Việt Nam, khiến cho thị trường hỗn loạn, tạo ra sự bất công ngày càng sâu sắc trong xã hội, còn kẻ thù của chúng ta thì lại vui mừng. Khi mà giá vàng trong nước từ bao năm nay thường cao hơn giá vàng thế giới, với mức cước chênh lệch nhiều lúc lên tới 4 triệu VNĐ một lượng thì ngoài sự thiển cận và bảo thủ, điều mà ai cũng thấy bức xúc chính là thái độ VÔ TRÁCH NHIỆM của Chính phủ. Khi mà chính sách bình ổn giá lại chỉ tạo kẻ hở cho khối kẻ lợi dụng chính sách để trục lợi thì người ta càng thấy rõ tư duy và tầm nhìn từ thời bao cấp của lãnh đạo Chính phủ.4Những chương trình mang hơi hướng xã hội, nhân đạo như “nhà ở cho người thu nhập thấp” lại chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng và tiêu cực ở bất cứ đâu, chứ không riêng gì Việt Nam, nơi mà tình trạng này hầu như ai cũng nhìn thấy rõ.5Các chương trình an sinh xã hội của chính phủ, đặc biệt là các chương trình trợ cấp trực tiếp, lại tạo ra một bộ phân dân nghèo chỉ biết trông chờ vào trợ cấp của nhà nước. Ngoài ra, nhiều tiêu cực cũng phát sinh từ đây, chẳng hạn như tình trạng trợ cấp chẳng đến được tay người nghèo mà lại thường rơi vào tay người nhà của quan chức địa phương, điều mà báo chí từng nói đến rất nhiều. Chính sách căn cơ và lâu dài ở đây là trao cho họ “cần câu”, tạo cho họ cơ hội bình đẳng (cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế; các quyền tự do cơ bản, trong đó có quyền tự do chính trị, để họ có thể bầu, giám sát và miễn nhiệm những người đại diện trong chính quyền của mình), chứ không phải là trao cho họ “con cá”. Hiện tượng ngành than xuất nhập tùm lum bấy lâu nay chính là do chính sách điều tiết giá bất hợp lý kéo dài từ năm này qua năm khác, làm méo mó cơ chế vận hành đúng đắn của thị trường. v.v.
4.
Vì sao trong khi cả Châu Âu đang phải gồng mình để cứu Hy Lạp thì người dân nước này lại hết biểu tình rồi đến đình công? Đó là vì khu vực công ở đây đã phình ra quá to, một bộ phận dân chúng đã hình thành thói quen dựa dẫm vào các chương trình chi tiêu hoang phí hoặc mang bản chất tái phân phối thu nhập của chính phủ. Đến khi mức nợ công cứ ngày một lớn dần lên và nhằm tránh đổ vỡ, chính phủ buộc phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng để nhận được gói cứu trợ của EU, và điều này lại đụng chạm đến bộ phận dân chúng vẫn sống dựa vào ngân sách nhà nước (công chức, người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, những đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, v.v.). Thủ phạm của nó chính là chủ nghĩa dân tuý (chính là chính sách mà chính phủ Thái Lan của cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra trước đây và đương kim thủ tướng Yingluck Shinawatra hiện nay theo đuổi, và cũng chính là bản chất của các chính sách an sinh xã hội của Chính phủ Việt Nam hiện nay) và chủ nghĩa bảo trợ6(một thực tế vẫn đang diễn ra ở Việt Nam kể từ đầu giai đoạn đổi mới đến nay). Giải pháp căn cơ cho nó phải là một cuộc cải cách thể chế sâu rộng chứ không chỉ đơn thuần là các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” trước mắt.7
Thông thường, một lĩnh vực trong bộ máy chính phủ không ngừng phình ra là mục đích tự thân của hoạt động chính phủ; người lãnh đạo nào cũng muốn có thêm đầu mối để quản lý (và dĩ nhiên là thêm nhiều lợi ích từ đó), nhà quản lý nào cũng trông chờ cơ hội thăng tiến tốt hơn nếu họ có thể tuyển dụng thêm thuộc cấp. Đấy chính là lý do tại sao ở Việt Nam thời gian qua tuy số bộ ngành đầu mối giảm, nhưng cơ cấu bên trong lại tiếp tục phình to. Các tổng cục cứ thi nhau ra đời. Bộ Nông nghiệp thì có Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thủy lợi; Bộ Công an thì chia Tổng cục An ninh Nhân dân thành Tổng cục An ninh I và Tổng cục An ninh II, chia Tổng cục Cảnh sát Nhân dân thành Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm và Tổng cục Cảnh sát QLHC về TTATXH, v.v. Đến nay thì một loạt tỉnh thành đã có Sở Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy (Tp HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, VĩnhPhúc, Đồng Nai và Bình Dương). (Ôi giời, cháy nổ thế kia thì cần thiết quá đi chứ lỵ!)
Con người ta có lẽ ai cũng muốn lo lắng và đem lại hạnh phúc cho những người xung quanh mình, cho đồng bào của mình. Đó là thiên hướng tự nhiên của con người. Hầu như nhà lãnh đạo nào cũng muốn “lo cho dân” cả, ít nhất là điều đó đem lại cho họ sự “chính danh”. Họ chỉ khác nhau về cách “lo” mà thôi. Ông Lê Duẩn từng có câu nói để đời: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi.”8Sau khi ông trút hơi thở cuối cùng trên cương vị lãnh đạo cao nhất của chế độ, Đảng Cộng sản Việt Nam ở vào thế dựa chân tường buộc phải tiến hành cái gọi là “đổi mới”, người ta mới nghiệm ra rằng hoá ra để cho dân chúng tự lo cho mình lại tốt hơn nhiều, và người dân càng được “cởi trói” thì đất nước lại càng phát triển. Ấy vậy nhưng cái chân lý đó dường như lại đang bị người ta quên mất. Theo nguyên thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc: “Nhà nước vẫn đang tiếp tục can thiệp quá sâu vào thị trường. Bộ máy bắt đầu sa vào giải quyết quá sâu những vấn đề cụ thể. Nhiều việc không làm xuể thế là phát sinh tổng cục, chi cục khiến đầu mối thì giảm mà cơ cấu bên trong vẫn tiếp tục phình to. Các chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo. Bối cảnh lạm phát mấy năm vừa qua đã phơi bày rõ sự lúng túng.”9Thủ tướng cứ phóng tay hết ký thành lập tổng cục này lại đến ký bổ nhiệm thứ trưởng kia, mà hình như chẳng thấy “băn khoăn” gì cả thì phải. “Bảo đảm an sinh xã hội” (bên cạnh những “thực hiện đồng bộ các giải pháp” và “bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô”) đã trở thành một điệp ngữ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu nói chung và ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha… nói riêng chính là bài học cảnh tỉnh cho chúng ta.
Theo quy định của luật tổ chức chính phủ nhiều nước trên thế giới, cơ cấu của Chính phủ (nội các) chỉ bao gồm thủ tướng, phó thủ tướng, các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Còn theo Luật Tổ chức Chính phủ của Việt Nam, cơ cấu của Chính phủ bao gồm bộ và cơ quan ngang bộ. Quy định như vậy đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hoạt động của bộ và hoạt động của Chính phủ, các bộ trưởng coi nặng hoạt động ở bộ mà coi nhẹ hoạt động ở Chính phủ. Các bộ là các cơ quan chuyên môn, đó là các cơ quan tác nghiệp hành chính, trong khi đó Chính phủ là cơ quan chính trị, tức là cơ quan đề ra các chủ trương, quyết sách và thực hiện chức năng điều hoà phối hợp toàn bộ bộ máy hành chính nhà nước. Nếu quan niệm cơ cấu của chính phủ bao gồm bộ và cơ quan ngang bộ thì các bộ trưởng chủ yếu hoạt động ở văn phòng bộ, trong khi đó yêu cầu của xã hội là các bộ trưởng phải hoạt động chủ yếu ở trụ sở của chính phủ. Chính phủ các nước trên thế giới thông thường một tuần họp một lần như ở Pháp, một tuần họp hai lần như ở nội các Anh, còn trong thời kỳ phong kiến thì các phiên thiết triều được thiết lập vào các ngày lẻ hoặc ngày chẵn trong tháng và không ít hơn 4 lần.
Chính phủ của chúng ta hiện nay chỉ họp một tháng một lần. Như vậy không thể đảm bảo tính liên tục của hoạt động hành chính. Hoạt động điều hoà, phối hợp của Chính phủ vì thế cũng không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Có thể đưa ra một số minh chứng để khẳng định điều này. Chẳng hạn việc các đường phố lớn ở Thủ đô Hà Nội như Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh và một số đường phố khác bị đào lên đào xuống nhiều lần thể hiện sự thiếu phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý đô thị. Gần đây, việc xây dựng các khu đô thị cao tầng rất đẹp, rất hoành tráng ở Mỹ Đình nhưng không hề xây các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông nào dẫn đến việc quá tải của các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho sự thiếu điều hoà, phối hợp giữa các bộ, ngành.  Hiện tượng giấy hồng, giấy đỏ, giấy xanh cho nhà đất và hộ khẩu cũng là một ví dụ điển hình. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi bộ máy hành chính không được tuỳ tiện đưa ra bất kỳ quy định nào trái với luật trong quá trình áp dụng chính sách, tuy nhiên ở Việt Nam, hiện tượng văn bản của cơ quan hành chính cấp dưới trái với văn bản của cơ quan hành chính cấp trên là một chuyện khá phổ biến.
(Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếPGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, Chủ nhiệm Khoa Hành chính - nhà nước, Đại học Luật Hà Nội)
5.
Trong bài phát biểu ra mắt cương vị chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Đức (FDP) ở Rostock trung tuần tháng 5 vừa rồi, chính trị gia người Đức gốc Việt Philipp Rösler đã so sánh hệ lụy khi người ta hạn chế tự do từng chút một với một câu chuyện về con ếch. Nếu ném con ếch vào nồi nước nóng nó sẽ phản xạ tức thì, nhảy ra khỏi nồi ngay. Nhưng nếu ném nó vào nồi nước lạnh rồi đun nóng dần thì nó sẽ nằm yên cho đến khi bị luộc chín. Hạn chế quyền tự do từng chút một rốt cuộc sẽ dẫn tới kết cục như vậy, bởi xã hội dần dần bị mất khả năng đề kháng.
Từ Sắc lệnh số 31 ngày 13/9/1945 của Hồ Chủ tịch cho đến bản Thông báo cấm biểu tình trời ơi đất hỡi ngày 18/8/2011 của UBND Tp Hà Nội là cả một sự thụt lùi ghê gớm của lịch sử. Đối với nhiều người, dường như đến giờ họ mới nhận ra là “chú ếch” Việt Nam đã bị “luộc” từ từ trong suốt 66 năm qua như thế nào, và chính cái thực tế là ở đây “ta lại luộc ta” chứ chẳng phải bọn “đế quốc” hay “phản động” nào cả mới khiến cho nỗi niềm càng thêm chua xót.
Khi chính phủ giành lấy trách nhiệm “lo rau muống và nước lã” cho người dân, thực chất họ đã tước mất một quyền cơ bản của công dân, đó là quyền được tự lo liệu cho cuộc sống của mình. Đến bây giờ thì những người từng một thời sống dưới chế độ bao cấp ở Việt Nam hẳn đã thấm thía điều này. Còn nhiều người dân Hy Lạp chắc cũng đã cảm nhận được cái giá của những ngày tháng sống trong vòng tay bao bọc của chính phủ.
Gần đây, trước chủ trương sửa đổi Hiến pháp 1992 của Nhà nước Việt Nam, trên các báo đã xuất hiện nhiều tiếng nói tích cực, ủng hộ một sự thay đổi sâu sắc và toàn diện, tránh hiện tượng chắp vá hay chỉ thay đổi bề ngoài, vốn chỉ đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển bất ổn mới, bỏ qua nhiều vận hội trước mắt.10Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu hiến pháp lại đưa ra nhận định: “Ngày hôm nay chúng ta mong đợi một bản hiến pháp hoàn hảo có lẽ hơi ảo tưởng, cũng giống như ảo tưởng một công ty nào đó của Việt Nam có thể tự chế tạo máy bay Boeing hay chip Intel vậy!”11Hình như lập luận của nhà nghiên cứu hiến pháp này có cái gì đấy không ổn:
  1. Hiến pháp không đóng vai trò là bộ luật cơ bản nhất, hay khế ước xã hội, hay… chỉ bằng sự hiện hữu của nó. Các giới chức chính trị, các lực lượng có ảnh hưởng trong xã hội phải tôn trọng nó thì nó mới có giá trị, nó mới có hiệu lực. Vì thế, các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước tới nay phần lớn đều chỉ là mớ giấy lộn không hơn không kém. Thực tế này cũng có nghĩa là một điều kiện cần ở đây là phải phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh độc lập để giám sát và chế ước lẫn nhau.
  2. Năm 1946, khi 95% người Việt Nam bị mù chữ mà chúng ta vẫn có được bản Hiến pháp 1946 thì không có lý do gì khiến chúng ta lại KHÔNG THỂ cho ra đời một bản hiến pháp thật sự phù hợp, khoa học, với tầm nhìn dài hạn vào lúc này (nhất là khi mà dân tộc Việt Nam đã đổ biết bao xương máu, trải qua biết bao thảm cảnh để ngộ ra chân lý như ngày hôm nay). Tại sao bao quốc gia khác không có “nền văn hiến bốn ngàn năm” như chúng ta mà họ lại có được bản hiến pháp dân chủ (Thái Lan, Campuchia, Singapore, v.v.) trong khi chúng ta lại cứ phải “đi từng bước, đừng ảo tưởng”? Từ năm 1992 cho đến khi ra đời bản hiến pháp mới sắp tới (dự kiến vào năm 2013) là 21 năm, tức là mới một “bước” thôi. Vậy liệu chúng ta còn phải đi thêm mấy bước nữa để quay lại bản Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp mà ai cũng cho là tiến bộ và dân chủ nhất trong số 4 bản Hiến pháp trước đây của chúng ta và đã ra đời cách nay đến 65 năm, tức là ngót 2/3 thế kỷ? Ai sẽ phải trả giá cho sự chậm trễ này?
  3. Bản Hiến pháp Mỹ ra đời cách đây hơn 200 năm, chứ không phải vừa mới hôm qua. Nó là nền tảng cho sự ổn định và phát triển của nước Mỹ, cho những Boeing hay Intel như ngày nay. Điều đó cũng có nghĩa là không phải đến khi nào người Việt Nam làm ra được những Boeing hay Intel thì chúng ta mới có quyền “mơ” tới một bản hiến pháp “hoàn hảo”.
  4. Ai ảo tưởng ở đây? Một cá nhân nào đó? Hay cả dân tộc Việt Nam? Cách đặt vấn đề như thế rõ ràng là đã thể hiện một thái độ không đúng mực đối với khát vọng cháy bỏng của cả một dân tộc.
Như Bản Kiến nghị của các nhân sỹ, trí thức ngày 10/7 về việc Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nayThư ngỏ gửi lãnh đạo Việt Nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộccủa các trí thức Việt Kiều ngày 21/8/2011 đã chỉ rõ, bối cảnh lịch sử lại một lần nữa đặt đất nước chúng ta trước một nguy cơ mới. Liệu chúng ta có tận dụng được thời cơ để đầy lùi mối nguy và vươn lên mạnh mẽ hay không là trách nhiệm đang đặt lên vai các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Họ đang có cơ hội để sửa chữa sai lầm và hơn thế, còn tạo dựng được chỗ đứng của mình trong lịch sử. Đất nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều đau thương và bất công này không thể vì sai lầm của bất kỳ một cá nhân nào để rồi lại một lần nữa phải ngậm ngùi nhìn thời cơ lịch sử trôi qua. Và nên nhớ rằng chỉ riêng việc chúng ta ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Mỹ chậm chưa đầy một năm thôi cũng đã khiến cho đất nước bỏ lỡ biết bao cơ hội rồi.12Để kết thúc bài viết, xin mượn lời của ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Mỹ, khi ông nhắc lại những cơ hội nhỡ nhàng vô cùng đáng tiếc chỉ do quyết định hơi muộn mằn đó: “Thời đại thay đổi, mình cũng phải thay đổi theo. Không thể cứ bám riết cái đã rất cũ của mình, chỉ làm thiệt mình và bắt dân tộc mình phải trả giá.”13

Ghi chú:

1 Báo Thanh Niên ngày 26/9/2011: Xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ qua mặt Thái Lan (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110925/xuat-khau-gao-viet-nam-se-qua-mat-thai-lan.aspx).
2 Báo Dân Trí ngày 28/1/2010: Campuchia xét xử đối tượng nhổ cọc phân giới với Việt Nam (http://dantri.com.vn/c25/s36-375843/campuchia-xet-xu-doi-tuong-nho-coc-phan-gioi-voi-viet-nam.htm)
3 Báo Dân Luận ngày 18/11/2009: Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường và thủ phạm của nó (danluan.org/node/3286).
4 Báo Công An Nhân Dân ngày 4/10/2011: Ai hưởng lợi từ chính sách bình ổn giá? (http://www.cand.com.vn/vi-VN/kinhte/2011/10/157353.cand); Báo Lao Động ngày 29/8/2011: Giá hàng bình ổn vẫn cao hơn giá thị trường (http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Gia-hang-binh-on-van-cao-hon-gia-thi-truong/56395); Báo Dân Trí ngày 26/7/2011: Loạn giá hàng bình ổn (http://dantri.com.vn/c76/s76-501959/loan-gia-hang-binh-on.htm).
5 Báo VnExpress ngày 1/4/2011: Nhà thu nhập thấp bị rao bán gấp đôi giá gốc (http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/bat-dong-san/2011/04/nha-thu-nhap-thap-bi-rao-ban-gap-doi-gia-goc); Báo VTC News ngày 5/8/2011: Nhà thu nhập thấp, giá chung cư cao cấp (http://vtc.vn/1-296175/kinh-te/nha-thu-nhap-thap-gia-chung-cu-cao-cap.htm); Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp ngày 20/8/2011: Nhà ở cho người thu nhập thấp: Thất bại lớn (http://dddn.com.vn/20110818024630777cat173/nha-o-cho-nguoi-thu-nhap-thap--that-bai-lon.htm).
6 Chủ nghĩa bảo trợ (clientelism): một thuật ngữ dùng để mô tả một hệ thống chính trị mà trái tim của nó là mối quan hệ bất tương xứng giữa giới chính trị gia và các nhóm chịu sự bảo trợ của họ.
7 OpenDemocracy: The causes of the Greek crisis are in Greek politics (http://www.opendemocracy.net/openeconomy/takis-s-pappas/causes-of-greek-crisis-are-in-greek-politics).
8 Từ điển Bách khoa mở Tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n.
9 Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 16/6/2011: Bộ máy phình to, nhưng vẫn đẩy việc cho Thủ tướng (http://www.sgtt.com.vn/Thoi-su/146352/Bo-may-phinh-to-nhung-van-day-viec-cho-Thu-tuong.html).
10 Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 4/8/2011: Sửa đổi Hiến pháp: phải rạch ròi ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (http://www.sgtt.com.vn/Goc-nhin/148881/Sua-doi-Hien-phap-phai-rach-roi%C2%A0ba-quyen-lap-phap-hanh-phap-tu-phap.html); Báo Vietnamnet ngày 21/9/2011: Góp bàn về sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (http://wwwz.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/40230/gop-ban-ve-sua-doi-hien-phap-o-viet-nam.html); Báo VTC News ngày 23/9/2011: Cởi nút thắt cho cải cách (http://vtc.vn/2-302740/xa-hoi/coi-nut-that-cho-cai-cach.htm).
11 Báo Vietnamnet ngày 6/10/2011: Sửa hiến pháp: Đi từng bước, không ảo tưởng (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-05-sua-hien-phap-di-tung-buoc-khong-ao-tuong).
12 Báo Vietnamnet ngày 8/7/2010: BTA và cơ hội bị bỏ lỡ (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-07-03-bta-va-co-hoi-bi-bo-lo).
13 Báo Vietnamnet ngày 8/7/2010: BTA và cơ hội bị bỏ lỡ.


Bài đã đăng trên Bauxite Việt Nam và RFA ngày 12/10/2011: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/chinh-phu-va-chinh-sach.html; http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/government-and-policy-lah-10112011122637.html

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

OPEN LETTER TO FOREIGN AMBASSADORS IN VIETNAM

Le Anh Hung



Quang Tri, 3rd May  2011
Dear Sirs,
On 21st April 2008, I first sent my accusation letter via the Internet to accuse CPV Secretary General Nong Duc Manh, PM Nguyen Tan Dung and Deputy PM Hoang Trung Hai.
After that, from 12th March to 23rd 2009, with secret support and direction from President Nguyen Minh Triet, who wanted to overthrow Mr Nong Duc Manh, I sent the accusation letter via the Internet for 19 times more. The Politburo set up an investigation panel to secretly investigate the case and in early July 2009, the panel concluded the investigation. Evidences showed that many high-ranking officials involved, even Mr Nguyen Minh Triet. The Politburo members also voted not to bring the case before the CPV’s Central Committee.

In early September 2009, many foreign embassies in Vietnam (US, China, UK, France, Malaysia, Korea, etc.) requested Vietnamauthority to let them know the truth about the accusation letter. They were then allowed to meet my wife in Quang Tri province; she followed Mr Nguyen Minh Triet’s instructions to inform these foreign diplomats that the story was partly fabricated. The Politburo members continued their battle for power and could not agree on how to deal with me.
I kept on sending the accusation letter via the Internet, time after time. The Politburo did not agree to arrest me because I was right and because Mr Triet was behind me. In 25th December 2009, after sending the accusation letter for 20 times, I was “caught in the act” by Dong Ha Municipal Police (backed by a security faction in Hanoi) in an Internet shop. Threatened by those involved, my wife declared to the police that I was suffered from mental illness. Unable to fight against Mr Nong Duc Manh, Mr Nguyen Tan Dung, Mr Hoang Trung Hai, Mr Nguyen Minh Triet and even the Politburo (which did not want the case to be officially investigated and brought before CPV’s Central Committee), the investigators of the Quang Tri Public Security Department (undoubtedly, some of them were bought and instructed) sent me to Hanoi to be examined by the Central Institute for Forensic Psychiatry (which was secretly instructed by those involved). Subsequently, I was sent to Danang Psychiatric Hospitalon 4th May 2010 for “compulsory treatment” and released on 24thAugust 2010.
At the moment, my wife and I are in an extremely difficult situation because Mr Triet still retains all our money (during the time we played in the conspiracy, so that others would see that we were penniless and thus no one would suspect him). We now have no choice but to send the accusation letter once more (together with my diary, which shows details of Mr Nguyen Minh Triet and his followers’ involvement) via the Internet in the face of imprisonment sentences. So please help us by publicly confirming that your representatives did meet my wife in Quang Tri province in early September 2009 and demanding Vietnamauthority to protect us; this time my wife will surely tell the truth (she has already signed the accusation letters). Your support and cooperation will be very much in the interest of Vietnam’s democracy, freedom and prosperity.
Yours truly,


Le Anh Hung