Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

CHÍNH PHỦ VÀ CHÍNH SÁCH

Lê Anh Hùng
Quảng Trị, 10/10/2011


1.
Mới đây, nhiều người Việt Nam tỏ ra hồ hởi khi hay tin xuất khẩu gạo của Việt Nam đang đứng trước cơ hội vượt qua Thái Lan khi chính phủ nước này thực hiện chính sách bảo hộ giá gạo trong nước.1
Điều này càng cho chúng ta thấy một thực tế là thế giới đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn và liên hệ chặt chẽ với nhau hơn. Giờ đây thì ngay cả các bác nông dân nhà ta hẳn cũng đã hiểu ra là cái thế giới này nó “phẳng” đến thế nào rồi. Không chỉ một động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có ảnh hưởng ngay lập tức tới gần như toàn bộ nền kinh tế thế giới, mà ngay cả một cuộc nội chiến ở đất nước Libya nhỏ bé với dân số chỉ 6,6 triệu người cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường dầu mỏ thế giới và qua đó là đến nền kinh tế thế giới, hay quyết định bảo hộ giá gạo của chính phủ Thái Lan cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường gạo của thế giới, trong đó có những người nông dân Việt Nam.

Trong cái thế giới đang ngày càng gắn kết hơn với nhau đó, mỗi một động thái chính sách (và lớn hơn thế, chế độ chính trị) của một nước đều tạo ra ảnh hưởng nhất định đến các quốc gia bên ngoài, theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.
Trước mắt, người nông dân Thái Lan sẽ được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ giá gạo của chính phủ Thái Lan, khi giá trị sản phẩm của họ tăng lên. Song về lâu dài, chính sách này sẽ tạo ra sức ỳ cho ngành nông nghiệp trong nước, trong khi gánh nặng bảo hộ lại đặt trên vai các tầng lớp dân cư khác, đồng thời nó còn làm méo mó cơ chế phân công lao động và phân bổ nguồn lực hữu hiệu của thị trường. Đối với người nông dân Việt Nam, chính sách bảo hộ của chính phủ Thái Lan sẽ khiến cho giá gạo của Thái Lan kém cạnh tranh hơn và giá gạo của Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn, cho nên trước mắt nó sẽ tạo nên một cú hích cho hoạt động sản xuất lúa gạo của Việt Nam. Tuy nhiên, về lâu dài, việc chúng ta cạnh tranh với một đối thủ vốn đang chịu sức ỳ do chính sách bảo hộ gây ra thì cũng chẳng cải thiện được năng lực sản xuất cho mình là mấy; chưa kể, nếu chính phủ Thái Lan lại đột ngột xoá bỏ chính sách bảo hộ thì người sản xuất lúa gạo ở Việt Nam không khéo lại còn phải chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn (do đầu tư dàn trải quá mức chẳng hạn) so với những gì mà họ được hưởng khi chính phủ Thái Lan thực thi chính sách bảo hộ.
Người nông dân Thái Lan lâu nay vẫn được hưởng lợi từ lối vận hành lộn xộn của thị trường lúa gạo Việt Nam, nơi mà một mình Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA – với nòng cốt là Tổng Cty Lương thực Miền Nam và Tổng Cty Lương thực Miền Bắc) làm mưa làm gió, khiến cho lợi lộc chủ yếu rơi vào khâu trung gian và giới đầu cơ, còn đời sống của người nông dân thì vẫn chẳng khá lên là bao, nghèo vẫn hoàn nghèo. Thực tế này khiến cho người nông dân chẳng mấy mặn mà với việc mở rộng sản xuất, thâm canh hay tăng vụ (một phần là do không đủ nguồn lực để tái đầu tư). Bản chất của vấn đề là ở chỗ người ta đã lợi dụng vị thế độc quyền nhà nước để trục lợi tối đa cho cá nhân và phe nhóm. Tình trạng tương tự cũng diễn ra trên thị trường xăng dầu, lĩnh vực mà nhà chức trách và giới phân tích hiện vẫn đang mổ xẻ. Tuy nhiên, mọi giải pháp không sớm thì muộn rồi cũng thất bại, hoặc theo kiểu “bắt cóc bỏ dĩa”, khi mà trên thị trường vẫn tồn tại một hoặc một vài doanh nghiệp đóng vai trò thống lĩnh (trong trường hợp thị trường xăng dầu thì Petrolimex chiếm tới 60% thị phần) và khi mà thiệt hại của 86 triệu người tiêu dùng thì không thể đong đếm được trong khi lợi nhuận chảy vào hầu bao những kẻ đang thao túng thị trường và các khoản “lại quả” chảy vào túi của các nhà quản lý tự tư tự lợi, những kẻ sẵn sàng vì lợi ích của một nhóm người nhỏ bé và của bản thân mà nhắm mắt làm ngơ (dưới những chiêu bài như “ổn định thị trường”, “kiềm chế lạm phát”, v.v.), thì lại có thể “đếm” được. Và thị trường thì phản ứng rất chi là linh hoạt: xăng dầu hết chảy sang Campuchia (khi giá xăng dầu trong nước thấp hơn ở Campuchia) lại chảy ngược từ Campuchia về Việt Nam (khi giá xăng dầu trong nước cao hơn).
2.
Sớm muộn gì thì người anh em Lào của chúng ta cũng sẽ tiến tới với dự án thuỷ điện Xayaburi, đơn giản là ở một chế độ “dân chủ XHCN” như của Lào thì lời nói của đồng tiền nó dễ lọt tai hơn bất cứ điều gì khác. Ngay cả nguy cơ về một cuộc Hán hoá vẫn không đủ để khiến họ phải rụt rè trước những đồng Yuan có in hình bác Mao thì còn có gì là đáng kể ở đây. Không khéo chính các đồng chí Lào ngay từ bây giờ cũng đã ấm ức trong bụng mà rằng, “Với những bauxite Tây Nguyên, thuỷ điện 6 và 6A Đồng Nai thì các vị đã nghĩ gì đến người dân của mình hay chưa mà buộc chúng tôi phải nghĩ cho dân của các vị.” Tình trạng phá rừng hàng loạt ở Lào, trong đó người Việt “góp công” rất lớn, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái, khí hậu và dòng chảy vào Việt Nam.
Nhiều người Việt Nam từng phấn khởi khi hay tin thủ lĩnh phe đối lập ở Campuchia bị xét xử về vụ nhổ cọc phân giới với Việt Nam, do toà án tỉnh Svay Rieng tiến hành ngày 27/1/2010. Sam Rainsy bị tuyên án 2 năm tù vắng mặt (vì đang ở Pháp), và phải đóng tiền phạt 8 triệu Riel (2.000USD), đồng thời phải bồi thường cho chính quyền địa phương 5 triệu Riel (1.200 USD) vì tội phá hoại tài sản nhà nước và kích động kỳ thị sắc tộc.2Tuy nhiên, những ai biết rõ hiện tình Campuchia lại đều hiểu rằng ông Hunsen từ nay sẽ càng dễ bề khuynh loát chính trường Campuchia, những vấn nạn xã hội như tham nhũng, tội phạm… cũng sẽ nổi lên theo đấy.3Và chính Việt Nam chúng ta lại phải nhận lãnh hậu quả: Tình trạng vũ khí nóng tràn lan trong nước hiện nay một phần là nhờ sự nhắm mắt làm ngơ của “người anh 16 chữ vàng” ở phía Bắc và một phần là nhờ nguồn cung dồi dào từ phía Campuchia. Các sòng bạc gần biên giới Việt Nam hoạt động gần như bất chấp pháp luật cũng là một hệ quả của tình trạng pháp luật lỏng lẻo ở Campuchia, và nó đã gây ra bao hệ luỵ kinh tế - xã hội cho Việt Nam mà báo chí đã tốn nhiều giấy mực để phản ảnh.
Chủ nghĩa Đại Hán Trung Hoa dẫu đáng sợ đến mấy nhưng một nước Trung Quốc dân chủ cũng sẽ khiến cho mối đe doạ đó giảm đi đáng kể. Và một Việt Nam tự do, dân chủ chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tích cực để đưa đến một Trung Quốc ngày càng tự do và dân chủ hơn. Tuy nhiên, hai nước hiện nay lại đang là nguồn cổ vũ của nhau trong chính sách đè nén dân chúng, bóp nghẹt tự do, chà đạp dân chủ và tham nhũng. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.” Đó là lý do tại sao Chính phủ Việt Nam vẫn tỏ lập trường ủng hộ Gaddafi cho đến khi buộc phải muối mặt “thừa nhận” Hội đồng Dân tộc Chuyển tiếp (NTC) của Libya vào ngày 14/9/2011, khi mà những tội ác man rợ của chế độ độc tài quái đản Gaddafi đang dần dần bị phơi bày trước mắt bàn dân thiên hạ; đó là lý do tại sao Tổng thống Venezuela lại sẵn sàng nghênh đón Gaddafi tới tị nạn; đó là lý do tại sao Trung Quốc và Nga lại phủ quyết một dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 5/10/2011 về việc trừng phạt Syria nếu nước này không ngừng ngay lập tức hành động quân sự giết hại dân thường.
Phong trào dân chủ Mùa Xuân Ả-rập rõ ràng là đang tạo ra một sự thay đổi tích cực cho bức tranh chính trị của thế giới Ả-rập và phả hơi nóng vào các chế độ độc tài áp bức còn sót lại trên thế giới. Khi điều tất yếu phải đến thì cái giá cho nó lại tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan và thức thời của nhà cầm quyền. Đó có thể là cuộc thay đổi thay khá nhẹ nhàng ở Tunisia, sự chuyển tiếp tương đối bạo lực và lộn xộn ở Ai Cập, hay thậm chí là một cuộc nội chiến đẫm máu ở Lybia.
3.
Nhiều chính sách của chính phủ Việt Nam hiện nay đang thực sự phá hoại nền kinh tế Việt Nam, khiến cho thị trường hỗn loạn, tạo ra sự bất công ngày càng sâu sắc trong xã hội, còn kẻ thù của chúng ta thì lại vui mừng. Khi mà giá vàng trong nước từ bao năm nay thường cao hơn giá vàng thế giới, với mức cước chênh lệch nhiều lúc lên tới 4 triệu VNĐ một lượng thì ngoài sự thiển cận và bảo thủ, điều mà ai cũng thấy bức xúc chính là thái độ VÔ TRÁCH NHIỆM của Chính phủ. Khi mà chính sách bình ổn giá lại chỉ tạo kẻ hở cho khối kẻ lợi dụng chính sách để trục lợi thì người ta càng thấy rõ tư duy và tầm nhìn từ thời bao cấp của lãnh đạo Chính phủ.4Những chương trình mang hơi hướng xã hội, nhân đạo như “nhà ở cho người thu nhập thấp” lại chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng và tiêu cực ở bất cứ đâu, chứ không riêng gì Việt Nam, nơi mà tình trạng này hầu như ai cũng nhìn thấy rõ.5Các chương trình an sinh xã hội của chính phủ, đặc biệt là các chương trình trợ cấp trực tiếp, lại tạo ra một bộ phân dân nghèo chỉ biết trông chờ vào trợ cấp của nhà nước. Ngoài ra, nhiều tiêu cực cũng phát sinh từ đây, chẳng hạn như tình trạng trợ cấp chẳng đến được tay người nghèo mà lại thường rơi vào tay người nhà của quan chức địa phương, điều mà báo chí từng nói đến rất nhiều. Chính sách căn cơ và lâu dài ở đây là trao cho họ “cần câu”, tạo cho họ cơ hội bình đẳng (cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế; các quyền tự do cơ bản, trong đó có quyền tự do chính trị, để họ có thể bầu, giám sát và miễn nhiệm những người đại diện trong chính quyền của mình), chứ không phải là trao cho họ “con cá”. Hiện tượng ngành than xuất nhập tùm lum bấy lâu nay chính là do chính sách điều tiết giá bất hợp lý kéo dài từ năm này qua năm khác, làm méo mó cơ chế vận hành đúng đắn của thị trường. v.v.
4.
Vì sao trong khi cả Châu Âu đang phải gồng mình để cứu Hy Lạp thì người dân nước này lại hết biểu tình rồi đến đình công? Đó là vì khu vực công ở đây đã phình ra quá to, một bộ phận dân chúng đã hình thành thói quen dựa dẫm vào các chương trình chi tiêu hoang phí hoặc mang bản chất tái phân phối thu nhập của chính phủ. Đến khi mức nợ công cứ ngày một lớn dần lên và nhằm tránh đổ vỡ, chính phủ buộc phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng để nhận được gói cứu trợ của EU, và điều này lại đụng chạm đến bộ phận dân chúng vẫn sống dựa vào ngân sách nhà nước (công chức, người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, những đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, v.v.). Thủ phạm của nó chính là chủ nghĩa dân tuý (chính là chính sách mà chính phủ Thái Lan của cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra trước đây và đương kim thủ tướng Yingluck Shinawatra hiện nay theo đuổi, và cũng chính là bản chất của các chính sách an sinh xã hội của Chính phủ Việt Nam hiện nay) và chủ nghĩa bảo trợ6(một thực tế vẫn đang diễn ra ở Việt Nam kể từ đầu giai đoạn đổi mới đến nay). Giải pháp căn cơ cho nó phải là một cuộc cải cách thể chế sâu rộng chứ không chỉ đơn thuần là các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” trước mắt.7
Thông thường, một lĩnh vực trong bộ máy chính phủ không ngừng phình ra là mục đích tự thân của hoạt động chính phủ; người lãnh đạo nào cũng muốn có thêm đầu mối để quản lý (và dĩ nhiên là thêm nhiều lợi ích từ đó), nhà quản lý nào cũng trông chờ cơ hội thăng tiến tốt hơn nếu họ có thể tuyển dụng thêm thuộc cấp. Đấy chính là lý do tại sao ở Việt Nam thời gian qua tuy số bộ ngành đầu mối giảm, nhưng cơ cấu bên trong lại tiếp tục phình to. Các tổng cục cứ thi nhau ra đời. Bộ Nông nghiệp thì có Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thủy lợi; Bộ Công an thì chia Tổng cục An ninh Nhân dân thành Tổng cục An ninh I và Tổng cục An ninh II, chia Tổng cục Cảnh sát Nhân dân thành Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm và Tổng cục Cảnh sát QLHC về TTATXH, v.v. Đến nay thì một loạt tỉnh thành đã có Sở Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy (Tp HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, VĩnhPhúc, Đồng Nai và Bình Dương). (Ôi giời, cháy nổ thế kia thì cần thiết quá đi chứ lỵ!)
Con người ta có lẽ ai cũng muốn lo lắng và đem lại hạnh phúc cho những người xung quanh mình, cho đồng bào của mình. Đó là thiên hướng tự nhiên của con người. Hầu như nhà lãnh đạo nào cũng muốn “lo cho dân” cả, ít nhất là điều đó đem lại cho họ sự “chính danh”. Họ chỉ khác nhau về cách “lo” mà thôi. Ông Lê Duẩn từng có câu nói để đời: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi.”8Sau khi ông trút hơi thở cuối cùng trên cương vị lãnh đạo cao nhất của chế độ, Đảng Cộng sản Việt Nam ở vào thế dựa chân tường buộc phải tiến hành cái gọi là “đổi mới”, người ta mới nghiệm ra rằng hoá ra để cho dân chúng tự lo cho mình lại tốt hơn nhiều, và người dân càng được “cởi trói” thì đất nước lại càng phát triển. Ấy vậy nhưng cái chân lý đó dường như lại đang bị người ta quên mất. Theo nguyên thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc: “Nhà nước vẫn đang tiếp tục can thiệp quá sâu vào thị trường. Bộ máy bắt đầu sa vào giải quyết quá sâu những vấn đề cụ thể. Nhiều việc không làm xuể thế là phát sinh tổng cục, chi cục khiến đầu mối thì giảm mà cơ cấu bên trong vẫn tiếp tục phình to. Các chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo. Bối cảnh lạm phát mấy năm vừa qua đã phơi bày rõ sự lúng túng.”9Thủ tướng cứ phóng tay hết ký thành lập tổng cục này lại đến ký bổ nhiệm thứ trưởng kia, mà hình như chẳng thấy “băn khoăn” gì cả thì phải. “Bảo đảm an sinh xã hội” (bên cạnh những “thực hiện đồng bộ các giải pháp” và “bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô”) đã trở thành một điệp ngữ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu nói chung và ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha… nói riêng chính là bài học cảnh tỉnh cho chúng ta.
Theo quy định của luật tổ chức chính phủ nhiều nước trên thế giới, cơ cấu của Chính phủ (nội các) chỉ bao gồm thủ tướng, phó thủ tướng, các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Còn theo Luật Tổ chức Chính phủ của Việt Nam, cơ cấu của Chính phủ bao gồm bộ và cơ quan ngang bộ. Quy định như vậy đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hoạt động của bộ và hoạt động của Chính phủ, các bộ trưởng coi nặng hoạt động ở bộ mà coi nhẹ hoạt động ở Chính phủ. Các bộ là các cơ quan chuyên môn, đó là các cơ quan tác nghiệp hành chính, trong khi đó Chính phủ là cơ quan chính trị, tức là cơ quan đề ra các chủ trương, quyết sách và thực hiện chức năng điều hoà phối hợp toàn bộ bộ máy hành chính nhà nước. Nếu quan niệm cơ cấu của chính phủ bao gồm bộ và cơ quan ngang bộ thì các bộ trưởng chủ yếu hoạt động ở văn phòng bộ, trong khi đó yêu cầu của xã hội là các bộ trưởng phải hoạt động chủ yếu ở trụ sở của chính phủ. Chính phủ các nước trên thế giới thông thường một tuần họp một lần như ở Pháp, một tuần họp hai lần như ở nội các Anh, còn trong thời kỳ phong kiến thì các phiên thiết triều được thiết lập vào các ngày lẻ hoặc ngày chẵn trong tháng và không ít hơn 4 lần.
Chính phủ của chúng ta hiện nay chỉ họp một tháng một lần. Như vậy không thể đảm bảo tính liên tục của hoạt động hành chính. Hoạt động điều hoà, phối hợp của Chính phủ vì thế cũng không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Có thể đưa ra một số minh chứng để khẳng định điều này. Chẳng hạn việc các đường phố lớn ở Thủ đô Hà Nội như Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh và một số đường phố khác bị đào lên đào xuống nhiều lần thể hiện sự thiếu phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý đô thị. Gần đây, việc xây dựng các khu đô thị cao tầng rất đẹp, rất hoành tráng ở Mỹ Đình nhưng không hề xây các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông nào dẫn đến việc quá tải của các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho sự thiếu điều hoà, phối hợp giữa các bộ, ngành.  Hiện tượng giấy hồng, giấy đỏ, giấy xanh cho nhà đất và hộ khẩu cũng là một ví dụ điển hình. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi bộ máy hành chính không được tuỳ tiện đưa ra bất kỳ quy định nào trái với luật trong quá trình áp dụng chính sách, tuy nhiên ở Việt Nam, hiện tượng văn bản của cơ quan hành chính cấp dưới trái với văn bản của cơ quan hành chính cấp trên là một chuyện khá phổ biến.
(Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếPGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, Chủ nhiệm Khoa Hành chính - nhà nước, Đại học Luật Hà Nội)
5.
Trong bài phát biểu ra mắt cương vị chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Đức (FDP) ở Rostock trung tuần tháng 5 vừa rồi, chính trị gia người Đức gốc Việt Philipp Rösler đã so sánh hệ lụy khi người ta hạn chế tự do từng chút một với một câu chuyện về con ếch. Nếu ném con ếch vào nồi nước nóng nó sẽ phản xạ tức thì, nhảy ra khỏi nồi ngay. Nhưng nếu ném nó vào nồi nước lạnh rồi đun nóng dần thì nó sẽ nằm yên cho đến khi bị luộc chín. Hạn chế quyền tự do từng chút một rốt cuộc sẽ dẫn tới kết cục như vậy, bởi xã hội dần dần bị mất khả năng đề kháng.
Từ Sắc lệnh số 31 ngày 13/9/1945 của Hồ Chủ tịch cho đến bản Thông báo cấm biểu tình trời ơi đất hỡi ngày 18/8/2011 của UBND Tp Hà Nội là cả một sự thụt lùi ghê gớm của lịch sử. Đối với nhiều người, dường như đến giờ họ mới nhận ra là “chú ếch” Việt Nam đã bị “luộc” từ từ trong suốt 66 năm qua như thế nào, và chính cái thực tế là ở đây “ta lại luộc ta” chứ chẳng phải bọn “đế quốc” hay “phản động” nào cả mới khiến cho nỗi niềm càng thêm chua xót.
Khi chính phủ giành lấy trách nhiệm “lo rau muống và nước lã” cho người dân, thực chất họ đã tước mất một quyền cơ bản của công dân, đó là quyền được tự lo liệu cho cuộc sống của mình. Đến bây giờ thì những người từng một thời sống dưới chế độ bao cấp ở Việt Nam hẳn đã thấm thía điều này. Còn nhiều người dân Hy Lạp chắc cũng đã cảm nhận được cái giá của những ngày tháng sống trong vòng tay bao bọc của chính phủ.
Gần đây, trước chủ trương sửa đổi Hiến pháp 1992 của Nhà nước Việt Nam, trên các báo đã xuất hiện nhiều tiếng nói tích cực, ủng hộ một sự thay đổi sâu sắc và toàn diện, tránh hiện tượng chắp vá hay chỉ thay đổi bề ngoài, vốn chỉ đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển bất ổn mới, bỏ qua nhiều vận hội trước mắt.10Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu hiến pháp lại đưa ra nhận định: “Ngày hôm nay chúng ta mong đợi một bản hiến pháp hoàn hảo có lẽ hơi ảo tưởng, cũng giống như ảo tưởng một công ty nào đó của Việt Nam có thể tự chế tạo máy bay Boeing hay chip Intel vậy!”11Hình như lập luận của nhà nghiên cứu hiến pháp này có cái gì đấy không ổn:
  1. Hiến pháp không đóng vai trò là bộ luật cơ bản nhất, hay khế ước xã hội, hay… chỉ bằng sự hiện hữu của nó. Các giới chức chính trị, các lực lượng có ảnh hưởng trong xã hội phải tôn trọng nó thì nó mới có giá trị, nó mới có hiệu lực. Vì thế, các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước tới nay phần lớn đều chỉ là mớ giấy lộn không hơn không kém. Thực tế này cũng có nghĩa là một điều kiện cần ở đây là phải phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh độc lập để giám sát và chế ước lẫn nhau.
  2. Năm 1946, khi 95% người Việt Nam bị mù chữ mà chúng ta vẫn có được bản Hiến pháp 1946 thì không có lý do gì khiến chúng ta lại KHÔNG THỂ cho ra đời một bản hiến pháp thật sự phù hợp, khoa học, với tầm nhìn dài hạn vào lúc này (nhất là khi mà dân tộc Việt Nam đã đổ biết bao xương máu, trải qua biết bao thảm cảnh để ngộ ra chân lý như ngày hôm nay). Tại sao bao quốc gia khác không có “nền văn hiến bốn ngàn năm” như chúng ta mà họ lại có được bản hiến pháp dân chủ (Thái Lan, Campuchia, Singapore, v.v.) trong khi chúng ta lại cứ phải “đi từng bước, đừng ảo tưởng”? Từ năm 1992 cho đến khi ra đời bản hiến pháp mới sắp tới (dự kiến vào năm 2013) là 21 năm, tức là mới một “bước” thôi. Vậy liệu chúng ta còn phải đi thêm mấy bước nữa để quay lại bản Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp mà ai cũng cho là tiến bộ và dân chủ nhất trong số 4 bản Hiến pháp trước đây của chúng ta và đã ra đời cách nay đến 65 năm, tức là ngót 2/3 thế kỷ? Ai sẽ phải trả giá cho sự chậm trễ này?
  3. Bản Hiến pháp Mỹ ra đời cách đây hơn 200 năm, chứ không phải vừa mới hôm qua. Nó là nền tảng cho sự ổn định và phát triển của nước Mỹ, cho những Boeing hay Intel như ngày nay. Điều đó cũng có nghĩa là không phải đến khi nào người Việt Nam làm ra được những Boeing hay Intel thì chúng ta mới có quyền “mơ” tới một bản hiến pháp “hoàn hảo”.
  4. Ai ảo tưởng ở đây? Một cá nhân nào đó? Hay cả dân tộc Việt Nam? Cách đặt vấn đề như thế rõ ràng là đã thể hiện một thái độ không đúng mực đối với khát vọng cháy bỏng của cả một dân tộc.
Như Bản Kiến nghị của các nhân sỹ, trí thức ngày 10/7 về việc Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nayThư ngỏ gửi lãnh đạo Việt Nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộccủa các trí thức Việt Kiều ngày 21/8/2011 đã chỉ rõ, bối cảnh lịch sử lại một lần nữa đặt đất nước chúng ta trước một nguy cơ mới. Liệu chúng ta có tận dụng được thời cơ để đầy lùi mối nguy và vươn lên mạnh mẽ hay không là trách nhiệm đang đặt lên vai các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Họ đang có cơ hội để sửa chữa sai lầm và hơn thế, còn tạo dựng được chỗ đứng của mình trong lịch sử. Đất nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều đau thương và bất công này không thể vì sai lầm của bất kỳ một cá nhân nào để rồi lại một lần nữa phải ngậm ngùi nhìn thời cơ lịch sử trôi qua. Và nên nhớ rằng chỉ riêng việc chúng ta ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Mỹ chậm chưa đầy một năm thôi cũng đã khiến cho đất nước bỏ lỡ biết bao cơ hội rồi.12Để kết thúc bài viết, xin mượn lời của ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Mỹ, khi ông nhắc lại những cơ hội nhỡ nhàng vô cùng đáng tiếc chỉ do quyết định hơi muộn mằn đó: “Thời đại thay đổi, mình cũng phải thay đổi theo. Không thể cứ bám riết cái đã rất cũ của mình, chỉ làm thiệt mình và bắt dân tộc mình phải trả giá.”13

Ghi chú:

1 Báo Thanh Niên ngày 26/9/2011: Xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ qua mặt Thái Lan (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110925/xuat-khau-gao-viet-nam-se-qua-mat-thai-lan.aspx).
2 Báo Dân Trí ngày 28/1/2010: Campuchia xét xử đối tượng nhổ cọc phân giới với Việt Nam (http://dantri.com.vn/c25/s36-375843/campuchia-xet-xu-doi-tuong-nho-coc-phan-gioi-voi-viet-nam.htm)
3 Báo Dân Luận ngày 18/11/2009: Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường và thủ phạm của nó (danluan.org/node/3286).
4 Báo Công An Nhân Dân ngày 4/10/2011: Ai hưởng lợi từ chính sách bình ổn giá? (http://www.cand.com.vn/vi-VN/kinhte/2011/10/157353.cand); Báo Lao Động ngày 29/8/2011: Giá hàng bình ổn vẫn cao hơn giá thị trường (http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Gia-hang-binh-on-van-cao-hon-gia-thi-truong/56395); Báo Dân Trí ngày 26/7/2011: Loạn giá hàng bình ổn (http://dantri.com.vn/c76/s76-501959/loan-gia-hang-binh-on.htm).
5 Báo VnExpress ngày 1/4/2011: Nhà thu nhập thấp bị rao bán gấp đôi giá gốc (http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/bat-dong-san/2011/04/nha-thu-nhap-thap-bi-rao-ban-gap-doi-gia-goc); Báo VTC News ngày 5/8/2011: Nhà thu nhập thấp, giá chung cư cao cấp (http://vtc.vn/1-296175/kinh-te/nha-thu-nhap-thap-gia-chung-cu-cao-cap.htm); Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp ngày 20/8/2011: Nhà ở cho người thu nhập thấp: Thất bại lớn (http://dddn.com.vn/20110818024630777cat173/nha-o-cho-nguoi-thu-nhap-thap--that-bai-lon.htm).
6 Chủ nghĩa bảo trợ (clientelism): một thuật ngữ dùng để mô tả một hệ thống chính trị mà trái tim của nó là mối quan hệ bất tương xứng giữa giới chính trị gia và các nhóm chịu sự bảo trợ của họ.
7 OpenDemocracy: The causes of the Greek crisis are in Greek politics (http://www.opendemocracy.net/openeconomy/takis-s-pappas/causes-of-greek-crisis-are-in-greek-politics).
8 Từ điển Bách khoa mở Tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n.
9 Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 16/6/2011: Bộ máy phình to, nhưng vẫn đẩy việc cho Thủ tướng (http://www.sgtt.com.vn/Thoi-su/146352/Bo-may-phinh-to-nhung-van-day-viec-cho-Thu-tuong.html).
10 Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 4/8/2011: Sửa đổi Hiến pháp: phải rạch ròi ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (http://www.sgtt.com.vn/Goc-nhin/148881/Sua-doi-Hien-phap-phai-rach-roi%C2%A0ba-quyen-lap-phap-hanh-phap-tu-phap.html); Báo Vietnamnet ngày 21/9/2011: Góp bàn về sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam (http://wwwz.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/40230/gop-ban-ve-sua-doi-hien-phap-o-viet-nam.html); Báo VTC News ngày 23/9/2011: Cởi nút thắt cho cải cách (http://vtc.vn/2-302740/xa-hoi/coi-nut-that-cho-cai-cach.htm).
11 Báo Vietnamnet ngày 6/10/2011: Sửa hiến pháp: Đi từng bước, không ảo tưởng (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-05-sua-hien-phap-di-tung-buoc-khong-ao-tuong).
12 Báo Vietnamnet ngày 8/7/2010: BTA và cơ hội bị bỏ lỡ (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-07-03-bta-va-co-hoi-bi-bo-lo).
13 Báo Vietnamnet ngày 8/7/2010: BTA và cơ hội bị bỏ lỡ.


Bài đã đăng trên Bauxite Việt Nam và RFA ngày 12/10/2011: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/chinh-phu-va-chinh-sach.html; http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/government-and-policy-lah-10112011122637.html

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

OPEN LETTER TO FOREIGN AMBASSADORS IN VIETNAM

Le Anh Hung



Quang Tri, 3rd May  2011
Dear Sirs,
On 21st April 2008, I first sent my accusation letter via the Internet to accuse CPV Secretary General Nong Duc Manh, PM Nguyen Tan Dung and Deputy PM Hoang Trung Hai.
After that, from 12th March to 23rd 2009, with secret support and direction from President Nguyen Minh Triet, who wanted to overthrow Mr Nong Duc Manh, I sent the accusation letter via the Internet for 19 times more. The Politburo set up an investigation panel to secretly investigate the case and in early July 2009, the panel concluded the investigation. Evidences showed that many high-ranking officials involved, even Mr Nguyen Minh Triet. The Politburo members also voted not to bring the case before the CPV’s Central Committee.

In early September 2009, many foreign embassies in Vietnam (US, China, UK, France, Malaysia, Korea, etc.) requested Vietnamauthority to let them know the truth about the accusation letter. They were then allowed to meet my wife in Quang Tri province; she followed Mr Nguyen Minh Triet’s instructions to inform these foreign diplomats that the story was partly fabricated. The Politburo members continued their battle for power and could not agree on how to deal with me.
I kept on sending the accusation letter via the Internet, time after time. The Politburo did not agree to arrest me because I was right and because Mr Triet was behind me. In 25th December 2009, after sending the accusation letter for 20 times, I was “caught in the act” by Dong Ha Municipal Police (backed by a security faction in Hanoi) in an Internet shop. Threatened by those involved, my wife declared to the police that I was suffered from mental illness. Unable to fight against Mr Nong Duc Manh, Mr Nguyen Tan Dung, Mr Hoang Trung Hai, Mr Nguyen Minh Triet and even the Politburo (which did not want the case to be officially investigated and brought before CPV’s Central Committee), the investigators of the Quang Tri Public Security Department (undoubtedly, some of them were bought and instructed) sent me to Hanoi to be examined by the Central Institute for Forensic Psychiatry (which was secretly instructed by those involved). Subsequently, I was sent to Danang Psychiatric Hospitalon 4th May 2010 for “compulsory treatment” and released on 24thAugust 2010.
At the moment, my wife and I are in an extremely difficult situation because Mr Triet still retains all our money (during the time we played in the conspiracy, so that others would see that we were penniless and thus no one would suspect him). We now have no choice but to send the accusation letter once more (together with my diary, which shows details of Mr Nguyen Minh Triet and his followers’ involvement) via the Internet in the face of imprisonment sentences. So please help us by publicly confirming that your representatives did meet my wife in Quang Tri province in early September 2009 and demanding Vietnamauthority to protect us; this time my wife will surely tell the truth (she has already signed the accusation letters). Your support and cooperation will be very much in the interest of Vietnam’s democracy, freedom and prosperity.
Yours truly,


Le Anh Hung

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009

SỰ XUỐNG CẤP CỦA ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ THỦ PHẠM CỦA NÓ

Lê Anh Hùng
Quảng Trị - 25/11/2009




Trong một vài thập niên gần đây, cùng với đà khởi sắc của nền kinh tế sau khi nước nhà bước vào công cuộc đổi mới, báo chí và người dân đã nhiều lần lên tiếng về tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh trong xã hội, từ những người sản xuất, buôn bán nhỏ lẻ cho đến cả những doanh nghiệp lớn, có tiếng tăm đàng hoàng: lợn nuôi bằng thức ăn tăng trọng; rau nhiễm thuốc trừ sâu hay sử dụng thuốc kinh thích tăng trưởng gây hại cho sức khoẻ; trứng gà Trung Quốc biến thành trứng gà ta; phân bón giả, kém chất lượng; thuốc chữa bệnh giả; sự lập lờ giữa sữa hoàn nguyên với sữa tươi của các doanh nghiệp chế biến sữa; thực phẩm quá hạn của Vinafood; nguyên liệu nước giải khát quá hạn của Tân Hiệp Phát; các cây xăng gian lận hàng loạt; ô nhiễm môi trường tràn lan… Điều đáng quan ngại hơn nữa là tình trạng suy đồi về đạo đức kinh doanh như thế đang diễn ra ngày càng phổ biến với mức độ ngày một nghiêm trọng và tinh vi hơn. Và cuối cùng, mọi hậu quả đều đổ lên đầu người dân và xã hội.

Chúng ta đều biết rằng quan hệ giữa doanh nghiệp và cộng đồng là mối quan hệ cá – nước; chính nhờ sự ủng hộ của người tiêu dùng, của cộng đồng và xã hội, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển. Do vậy, giới doanh nghiệp lẽ ra cần phải ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội của mình. Và một khi công luận đã phải lên tiếng báo động về sự suy đồi của đạo đức kinh doanh, điều này cũng có nghĩa là đạo đức xã hội đang bị xuống cấp trầm trọng. Những hiện tượng mà báo chí đã nêu như tham nhũng tràn lan; đồng tiền chi phối nhiều mối quan hệ giữa người với người, kể cả quan hệ thầy trò hay quan hệ ruột thịt; thái độ vô cảm của bác sỹ, y tá trước nỗi đau đớn của người bệnh; nạn “chạy” chức, “chạy” quyền, “chạy” dự án, “chạy” án, “chạy” bằng cấp, “chạy” học hàm…; thói quan liêu, nhũng nhiễu của những người nằm trong bộ máy công quyền; sự thờ ơ của những người có trách nhiệm; tình hình tội phạm gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt là tội phạm bạo lực ở độ tuổi vị thành niên … chính là những bằng chứng thuyết phục cho nhận định đó. Điều đáng báo động là những chuyện nhức nhối như thế vẫn đang diễn ra ngày một nhiều và dường như xã hội không còn cách nào khác là phải “thích ứng” với nó như thể chấp nhận “sống chung với lũ” vậy.
Nhiều người gọi những hiện tượng trên đây là “mặt trái của kinh tế thị trường.” Nếu quả đúng như vậy, tại sao tình trạng này ở Việt Nam lại đến mức độ phải báo động, trong khi kinh tế thị trường là hình thái kinh tế không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn phổ biến ở hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, ngoại trừ Triều Tiên và Cuba? Đâu là nguyên nhân đích thực của nó?
Bài viết này mong muốn đi tìm lời kiến giải cho tình trạng trên một cách có hệ thống từ những hiểu biết khiêm tốn của tác giả.
1.       Trật tự xã hội
Con người là sự tổng hoà của các mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Các mối quan hệ xã hội hay sự tương tác xã hội giữa con người với nhau tuân theo những quy tắc khác nhau. Những quy tắc này (còn gọi là thiết chế) do con người thiết lập nên, ràng buộc cách ứng xử vốn dĩ mang tính tuỳ ý và cơ hội chủ nghĩa của họ. Tập hợp các quy tắc (thiết chế) điều chỉnh hành vi của con người chính là cơ sở hình thành nên trật tự xã hội.
          Người ta phân biệt hai loại thiết chế:
(i)            Thiết chế bên trong: là những thuần phong, mỹ tục, quy chuẩn đạo đức, những nguyên tắc luân lý làm cơ sở cho cách ứng xử của con người… Những thiết chế này xuất phát từ trong lòng cộng đồng, tiến hoá từ kinh nghiệm của con người và xuất phát từ bản chất tự nhiên và xã hội của con người. Sự vi phạm các thiết chế bên trong thường bị trừng phạt một cách phi chính thức, chẳng hạn như bị cộng đồng tẩy chay khi làm điều gì đó trái đạo lý;
(ii)          Thiết chế bên ngoài: là những quy tắc được áp đặt từ trên xuống thông qua một quy trình chính trị do một nhóm người đại diện được uỷ quyền tiến hành. Thiết chế bên ngoài đi kèm với những hình phạt rõ ràng, được áp đặt chính thức (ví dụ, các phiên toà) và có thể chịu sự chế tài thông qua việc sử dụng quyền lực hợp pháp (chẳng hạn, cảnh sát).
Thiết chế bên trong và thiết chế bên ngoài có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Thiết chế bên ngoài giúp phát huy phẩm chất tích cực, tiến bộ và hạn chế những yếu tố lạc hậu, phản tiến bộ của thiết chế bên trong. Hiệu lực của các thiết chế bên ngoài phụ thuộc mạnh mẽ vào việc liệu chúng có bổ trợ cho các thiết chế bên trong hay không; chẳng hạn, liệu pháp luật có đề cao các giá trị đạo lý, thuần phong mỹ tục của xã hội hay không.
“Phép vua” và “lệ làng” là những ví dụ cụ thể về thiết chế bên ngoài và thiết chế bên trong của xã hội phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, “lệ làng” có thể là tục lệ (được hình thành một cách tự nhiên) hoặc luật lệ do hội đồng làng định ra với hình phạt cụ thể. Trong trường hợp thứ hai (ít phổ biến hơn), “lệ làng” lại chính là một kiểu thiết chế bên ngoài. Không phải “lệ làng” nào cũng tiến bộ song đây chính là nền tảng trật tự xã hội ở cấp làng xã của Việt Nam từ xưa đến nay.
Pháp luật, loại thiết chế thượng tầng (bên ngoài) cơ bản và phổ biến nhất, ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước.
2.       Nền tảng trật tự xã hội của các nước phương Tây
Tự do và dân chủ là những giá trị cốt lõi của nền văn minh phương Tây. Văn minh phương Tây là một nền văn minh đặc biệt bởi lẽ không giống như các nền văn minh khác, nó không bị giới hạn về không gian và thời gian. Không chỉ những nước như Mỹ, Canada, Australia… vẫn được xem là các quốc gia phương Tây, mà ngay cả những nước như Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh phương Tây nếu nhìn vào hệ thống thiết chế thượng tầng của nó. Nhật Bản đã sớm phát hiện và hấp thụ những giá trị tự do – dân chủ của phương Tây, những giá trị đã đem đến sự phát triển thần kỳ cho nó, ngay từ giữa thế kỷ 19. Văn minh phương Tây đề cao pháp luật và tự do cá nhân.
Người nào đòi hỏi sự thống trị của pháp luật tức là đòi hỏi sự thống trị của Đức Chúa và Trí Khôn mà không phải của ai khác; trong khi người nào đòi hỏi sự thống trị của một con người thì chẳng khác nào đem đến một con mãnh thú hoang dại; vì cảm xúc của con người cũng giống như con mãnh thú hoang dại và những tình cảm mạnh mẽ sẽ dẫn dắt những gì tốt đẹp nhất của con người sa vào chốn lầm đường lạc lối.
Pháp luật là lý trí không bao hàm mong muốn.
(Aristotle, triết gia Hy Lạp; 384-322 TCN)
Chúng ta là những nô lệ của pháp luật để có thể được tự do.
Tự do là tài sản vô giá.
(Tullius Cicero, 106-43 TCN, luật sư và tác gia người La Mã)
Trong nhiều niềm hạnh phúc và quyền tự do khác, mà các thần dân của Bệ hạ … được hưởng … không gì mà họ coi là đáng yêu và đáng quý hơn điều này – được dẫn dắt và chịu sự chi phối của một hình thái pháp trị nào đó … và không phải bởi bất kỳ một chính thể độc đoán và bất trắc nào.
(Trích Thỉnh Nguyện Thư của Hạ viện [House of Commons] gửi Vua James Đệ Nhất, 7/7/1610)
Có một vòng tròn xung quanh mỗi con người cá nhân mà chính quyền không nên được phép bước qua; trong cuộc sống của mọi người, khi đến tuổi trưởng thành, có một phần mà ở đó bản thể cá nhân của người đó phải ngự trị chứ không chịu sự chi phối của bất kỳ cá nhân nào khác cũng như của công chúng nói chung.”
(John Stuart Mills, 1806-1873, triết gia, lý thuyết gia chính trị, nhà kinh tế chính trị người Anh, Các nguyên lý kinh tế chính trị [Principles of Political Economy])
John Stuart Mills quan niệm rằng tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của nó trong tự do của người khác. “Tự do chân chính, không hề không nhất quán với pháp luật, mà trên thực tế phụ thuộc vào pháp luật. Pháp luật đích thực là hiện thân của tự do. Pháp luật là nhân tố cốt lõi của tự do. Nếu không có pháp luật thì không thể có tự do. Pháp luật đúng đắn (orthonomos) là tự do.” (Friedrich Hayek – Cuộc đời và sự nghiệp; Alan Ebenstein; NXB Tri Thức, 2007 - http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10728&rb=0301) Sự tiến hoá của các hình thái nhà nước trong lịch sử phương Tây có thể được xem như quá trình tiến hoá của hệ thống thiết chế thượng tầng (pháp luật) nhằm đem lại mức độ tự do cá nhân khả dĩ lớn nhất. Đỉnh cao của quá trình tiến hoá này chính là cuộc cách mạng tư sản, bắt đầu từ thế kỉ 16 và kéo dài tới thế kỉ 20. Cách mạng tư sản đã thiết lập nên nền dân chủ và tạo ra sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của lực lượng sản xuất, là một bước tiến mang ý nghĩa lịch sử trọng đại của xã hội loài người.
Như vậy, thành tựu phát triển của các nước phương Tây có thể được nhìn nhận là chủ yếu bắt nguồn từ sự đề cao pháp luật và quyền tự do cá nhân. Các điều kiện về tự nhiên, chủng tộc, địa lý… đóng vai trò khiêm tốn hơn. Điều này còn được chứng minh qua sự phát triển vượt bậc của một số nước châu Á theo đuổi các giá trị tự do – dân chủ của phương Tây như Nhật Bản, Singapore[i], Hàn Quốc, Đài Loan…
3.       Những yếu tố chi phối trật tự xã hội của Việt Nam từ sau năm 1945
Trở lại với lịch sử Việt Namhiện đại. Sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hiến pháp 1946 có thể nói là một bản hiến pháp rất tiến bộ vào thời điểm đó. Đây là bản hiến pháp được soạn thảo theo tinh thần phân chia quyền lực (tam quyền phân lập): lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) giống như Hiến pháp Hoa Kỳ và hiến pháp của các nước cộng hòa khác. Hiến pháp được đặt cao hơn nhà nước: Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp; mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70). Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi rõ: "Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa." Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có những điều chỉ vẻn vẹn một dòng. (Chẳng hạn, Điều 12 được viết: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.") Hiến pháp 1946 đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền". Điểm đáng chú ý là Điều 10 bản Hiến pháp 1946 qui định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: "Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài." Đây là những quyền tự do bị hạn chế trong các bản hiến pháp sau này.
Đáng tiếc là sau đấy, do hoàn cảnh lịch sử nhưng quan trọng hơn là xuất phát từ bản chất độc tài của Đảng Cộng sản cũng như tầm nhìn thiển cận, hẹp hòi và sự đam mê quyền lực của một số nhà lãnh đạo Đảng thời kỳ ấy, bản Hiến pháp 1946 trên thực tế đã bị chết yểu trước khi có hiệu lực chính thức. Thay vào đó, hệ tư tưởng Marx-Lenin dần dần được áp đặt và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước. (Do Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội nên điều lệ, đường lối và chính sách của Đảng cũng có thể xem là một loại thiết chế bên ngoài; thậm chí chúng còn đứng trên cả pháp luật - như ta vẫn thường nghe điệp khúc: Tuân theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.) Việc áp đặt hệ thống thiết chế thượng tầng một cách duy ý chí, không phù hợp với nền tảng thiết chế bên trong của xã hội (đạo lý truyền thống của dân tộc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội...) đã để lại những hậu quả ghê gớm kéo dài cho tới tận hôm nay. Thông qua lăng kính "đấu tranh giai cấp," các nhà lãnh đạo Đảng lúc đó đã du nhập vào xã hội Việt Nam những giá trị xa lạ, phi nhân: đề cao tập thể và những giá trị gắn liền với tập thể; hạ thấp vai trò cá nhân và những giá trị cá nhân khác; chia xã hội ra thành những giai cấp đối kháng trong khi vẫn không ngớt kêu gọi toàn dân “đoàn kết”; đảo lộn trật tự truyền thống sỹ - nông - công - thương và thay vào đó là quan niệm theo kiểu "trí - phú - địa - hào, đào tận gốc, trốc tận rễ"; đề cao chủ nghĩa lí lịch, tiêu chuẩn “vừa hồng vừa chuyên” với sự lên ngôi của tầng lớp bần nông ít học, khiến nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện từng phải lên tiếng ngao ngán trước cái mà ông gọi là nền “chuyên chính vô học.” Không phải ngẫu nhiên mà các nhà sử học đã nhận xét rằng tổ chức làng xã ở Việt Namthực sự là những pháo đài giúp nhân dân ta chống lại các cuộc xâm lăng của ngoại bang cũng như nỗ lực đồng hoá của các triều đại Trung Quốc. Người Việt Nam vẫn có câu “Phép vua thua lệ làng.” Nhưng với “chủ trương, chính sách của Đảng” cùng lối quan niệm theo kiểu "Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được,"[ii] thành luỹ vững chắc nhất của trật tự xã hội truyền thống ở Việt Nam cũng bị san phẳng.
Hậu quả của tình trạng trên đến gần như ngay lập tức: hàng loạt công trình đền chùa, miếu mạo, nhà thờ… bị phá bỏ không thương tiếc; những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc như ca trù, hát xẩm… bị lên án mạnh mẽ, không còn đất sống. Và đỉnh cao của nó chính là tấn thảm kịch đẫm máu có một không hai trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc: cuộc Cải cách Ruộng đất “long trời lở đất” (1953-1956), trong đó hàng trăm ngàn người đã bị giết hại một cách tàn bạo và đê hèn, với những nghịch cảnh trái luân thường đạo lý như con tố cha, vợ tố chồng... Cuộc cải cách này (cùng chiến dịch “sửa sai” sau đó) đã gây một bầu không khí kinh hoàng ở nông thôn miền Bắc lúc ấy, tác hại mạnh đến sự đoàn kết dân tộc và nhiều thế hệ người Việt Nam. Chiến dịch đàn áp trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm (1956-1958) tiếp theo đó diễn ra như một hệ quả tất yếu.
Văn hoá phương Đông nói chung và Việt Namnói riêng vốn coi trọng danh dự cá nhân. Tấn trò “phê bình và tự phê bình” khiến một người vừa hạ thấp danh dự của người khác vừa hạ thấp danh dự của chính mình. Và khi không thể thực hiện được điều đó một cách nghiêm túc, người ta buộc phải “phê bình và tự phê bình” một cách hời hợt, giả tạo. Những khẩu hiệu kiểu như thế từ xưa đến nay và sự hù doạ của bộ máy tuyên truyền của Đảng về cái gọi là “diễn biến hoà bình” rồi “tự diễn biến” mới đây… đã tạo nên một bầu không khí nghi kỵ, ngột ngạt bao trùm xã hội Việt Nam (“Mình rình mọi người, mọi người rình mình.”) Các giá trị của chủ nghĩa xã hội ngày càng tự bộc lộ cho thấy là xa rời thực tế, thậm chí không tưởng, khiến cho dối trá trở thành căn bệnh cố hữu của chế độ. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiệm liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói. Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.” (Nhà văn Nguyễn Khải, 1930-2008, Đi tìm cái Tôi đã mất, 2006)
Ông Lê Duẩn từng kể lại một câu chuyện liên quan đến thời kỳ hoạt động bí mật của mình tại Nha Trang. “Một chị là cơ sở cách mạng nuôi giấu ông trong buồng ngủ. Bất chợt, người chồng trở về và nổi cơn ghen khiến ông có nguy cơ bại lộ... Chị cơ sở báo động và xin chỉ thị có cần phải 'khử' người chồng hay không? Ông không đồng ý và đề nghị một phương án khác, thu xếp mọi việc êm thấm và thoát hiểm.” (“‘Một nửa thế giới‘ trong mắt cố TBT Lê Duẩn, VietNamNet, 8/3/2007; http://vietnamnet.vn/psks/nhanvat/2007/03/670834) Câu chuyện đọng lại trong chúng ta điều gì đằng sau sức mạnh “giác ngộ” và “cảm hoá” từ những tín điều của chủ nghĩa Marx-Lenin?
Rõ ràng, các thiết chế thượng tầng phi nhân đã làm băng hoại những chuẩn mực đạo đức của xã hội, thậm chí khiến nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn.
Sau năm 1986, cùng với quá trình “đổi mới” hay thực chất là “cởi trói” từng bước của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân được hưởng nhiều quyền tự do hơn. Kết quả gần như đến ngay tức thì. Đất nước dần bước ra khỏi khủng hoảng, từ chỗ thiếu đói trầm trọng đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới. Tuy nhiên, những bất cập của hệ thống thiết chế thượng tầng (đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước) thì vẫn còn nguyên đó, khiến những khuyết tật cố hữu của hệ thống càng có cơ hội bộc lộ như đã nêu trong phần đầu bài viết. Và nhiều người đã vội chụp cho nó cái mũ mang đầy vẻ hù doạ: “mặt trái của kinh tế thị trường.” Song những ai tỉnh táo đều hiểu rằng hiện tượng băng hoại đạo đức xã hội đã diễn ra từ rất lâu. Bài thơ Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán năm 1957 là một trong những phản ứng của các bậc trí thức có khí phách thời ấy trước tình trạng giả dối đang ngự trị trong xã hội: Yêu ai cứ bảo là yêu/Ghét ai cứ bảo là ghét/Dù ai ngon ngọt nuông chiều/Cũng không nói yêu thành ghét/Dù ai cầm dao dọa giết/Cũng không nói ghét thành yêu. Nhiều người hẳn còn chưa quên bài thơ Mùa Xuân Nhớ Bác trên báo Tiền Phong đầu năm 1986 của tác giả Phạm Thị Xuân Khải. Bài thơ đã gây chấn động dư luận một thời và xem ra cho đến nay nó vẫn còn nguyên tính “thời sự”: Đồng chí không bằng đồng tiền/Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp; Có mắt giả mù, có tai giả điếc/Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung/Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ; Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?/Tham quyền cố vị/Sợ trẻ hơn già; Nay say sưa trong cảnh giàu sang/Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan? Rõ ràng, kinh tế thị trường chính là mảnh đất màu mỡ mà những mầm mống “đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa” đơm hoa kết trái.
Với thực tế mọi quyền lực Nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) đều nằm trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam (chưa kể một quyền lực xã hội hết sức quan trọng khác là báo chí), pháp luật bị các nhóm lợi ích khác nhau nằm trong tập đoàn lợi ích khổng lồ mang tên Đảng Cộng sản tha hồ thao túng, tha hồ lũng đoạn. Ai cũng biết rằng luật pháp ở Trung ương nằm trong tay Bộ Chính trị, còn luật pháp ở địa phương thì nằm trong tay các thường vụ tỉnh uỷ, huyện uỷ. “Dao sắc không gọt được chuôi,” Đảng không thể dùng pháp luật để “xử” chính mình được. Sự bất lực của hệ thống pháp luật và tình trạng bị trói chân trói tay của báo chí là những nguyên nhân trực tiếp khiến cho tình trạng tham nhũng tràn lan, tiêu cực trong xã hội hoành hành, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng như hiện nay. Hãy cứ nhìn vào bộ mặt nham nhở của các đô thị hay cảnh tượng hỗn loạn trên các đường phố ở Việt Nam là đủ để hình dung ra tình trạng tuân thủ pháp luật và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan công quyền.[iii](http://www.danluan.org/node/3041) Những tấn trò hề như “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chính là bằng chứng cho thấy thất bại thảm hại của cái gọi là “Nhà nước pháp quyền XHCN” và sự suy đồi của đạo đức công vụ. Mỉa mai thay, người ta lại còn có tham vọng thông qua cuộc vận động này để “xây dựng nền tảng đạo đức của xã hội” (!?)
Bần cùng sinh đạo tặc; bất công sinh đạo tặc; pháp luật lỏng lẻo sinh đạo tặc. Đó chính là lý do giải thích cho những hiện tượng như Năm Cam (Sài Gòn), Khánh Trắng (Hà Nội), Dung Hà (Hải Phòng – Sài Gòn), Phúc Bồ (Hà Nội), Tin Pa-lét (Nha Trang), Minh Samara (Vũng Tàu)… Việc các băng nhóm này lần lượt bị xoá sổ không có nghĩa là thế giới ngầm bị thu hẹp, mà ngược lại, các băng nhóm tội phạm đang ngày càng lộng hành, một cách trắng trợn và tinh vi hơn.[iv]
Thị trường là một cơ chế tiến hoá. Trên thị trường luôn diễn ra quá trình chọn lọc và đào thải. Điều đó có nghĩa là thị trường sẽ loại khỏi cuộc chơi những người tạo ra những giá trị mà xã hội không mong muốn (sản phẩm chất lượng thấp, mẫu mã kém… so với sản phẩm cạnh tranh). Khi nạn hàng giả, hàng nhái tràn lan, tình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm đáng báo động hay ô nhiễm môi trường phổ biến, đó không phải là khiếm khuyết của thị trường mà chính là lỗi của hệ thống pháp luật, của các cơ quan công quyền, của hệ thống chính trị. Xã hội có cả người tốt lẫn kẻ xấu, bởi lẽ nó là một tổng thể đa dạng. Khi mà sự giả dối ngự trị trong xã hội, cũng như khi mà trong xã hội kẻ xấu lấn lướt người tốt, điều đó có nghĩa là đạo đức xã hội đang bị xuống cấp trầm trọng. Và vấn đề của mọi xã hội luôn có gốc rễ từ hệ thống thiết chế thượng tầng (hay thiết chế bên ngoài) của nó. Quá trình chọn lọc và đào thải của thị trường nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của con người hay đòi hỏi của xã hội phản ánh bản BẢN CHẤT ĐẠO ĐỨC của nó. Sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường chính là cơ chế để thị trường tạo ra những giá trị mới mẻ và lành mạnh cho xã hội chứ hoàn toàn không có nghĩa là nó tàn bạo hay thiếu đạo đức. Và những ai vẫn cứ khăng khăng bảo lưu quan niệm về cái mà họ gọi là “mặt trái của kinh tế thị trường” thực ra chẳng hiểu chút gì về thị trường cả.[v]
Như vậy, chúng ta có thể đi đến kết luận: Những lệch lạc của thị trường, nếu có, đều bắt nguồn từ hệ thống thiết chế thượng tầng (pháp luật và bộ máy công quyền) của xã hội. Tình trạng đáng báo động về đạo đức kinh doanh nói riêng và sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức xã hội nói chung ở Việt Nam hiện nay có gốc rễ từ hệ thống thiết chế thượng tầng (hệ thống chính trị cùng với những đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước), từ những tín điều không tưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin.
4.       Tương lai đất nước từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới
Dân chủ không phải là cây đũa thần. Đây mới chỉ là điều kiện cần để mở đường cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của một quốc gia. Một số nước theo chế độ dân chủ sau khi trải qua một giai đoạn phát triển cao lại đến hồi chững lại như Philippines, Indonesia, Brazil… Điều này một phần là do những bất cập trong hệ thống pháp luật của họ, một phần là do sự thao túng của các tập đoàn lợi ích của các nước đó (sự cấu kết của giới tư bản thân hữu với giới chính trị gia), dẫn đến tình trạng pháp luật bị lũng đoạn, các chuẩn mực đạo đức xã hội bị xói mòn, khiến các quốc gia trên dần dần rơi vào tình trạng trì trệ. Nạn bạo lực tràn lan ở Brazil cho thấy sự bất lực của hệ thống pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật ở đây. Tại Philippines, nhà độc tài Ferdinand Emmanuel Edralin Marcos (1917–1989, Tổng thống giai đoạn 1965–1986) cùng bà vợ yêu thích lối sống xa hoa Imelda Marcos, hay Tổng thống Joseph Ejercito Estrada (từ năm 1998 cho đến khi bị phế truất năm 2001 rồi phải vào tù vì các tội tham nhũng, rửa tiền, cản trở công lý) đều là những vết thương còn đang nhức nhối trong lòng xã hội Philippines. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở Indonesia với Suharto (1921–2008), vị Tổng thống độc tài của Indonesia từ năm 1967 đến năm 1998, người mà sau những năm đầu cầm quyền thành công, đã dần dần chèo lái quốc gia đi theo con đường độc tài (hòng củng cố quyền lực của bản thân) khiến tình hình đất nước ngày càng rơi vào bất ổn và cuối cùng buộc phải từ chức vào tháng 5 năm 1998 sau các cuộc biểu tình hàng loạt. Nếu không vì lý do sức khoẻ ông ta đã phải ra toà với những cáo buộc tham nhũng thời gian sau đó. Dĩ nhiên, đằng sau các chính trị gia đầy tai tiếng này là những tập đoàn lợi ích tham lam, ích kỷ.
Hiện tượng trên xem ra lại đang là một thực tế ở nước Nga hiện tại. Sau khi dùng bàn tay sắt để ổn định lại một nước Nga rối ren dưới thời Boris Yelsin, Putin dường như đang muốn dẫn nước Nga đi vào vết xe đổ của một nhà nước độc tài, thông qua những biện pháp như trấn áp phe đối lập, khống chế và kiểm duyệt báo chí một cách chặt chẽ. Ngày 14/11 và 26/11/2008, lần lượt Hạ viện (Duma) và Thượng viện (Hội đồng Liên bang) Nga thông qua việc sửa đổi hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ tổng thống từ 4 năm lên 6 năm, một động thái được hầu hết mọi người nhìn nhận là nhằm mở đường cho “triều đại” mới kéo dài 12 năm của ông Putin bắt đầu từ năm 2012, trong khi “triều đại” cũ vẫn còn gần 4 năm nữa mới kết thúc. Điều đáng quan ngại hơn nữa là việc ông Putin đã phớt lờ việc trưng cầu dân ý và tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. (Xem ra, Hiến pháp 1946 của Việt Nam còn tiến bộ hơn nhiều – với quy định những sửa đổi về Hiến pháp phải được toàn dân phúc quyết trong Điều 70.) Trong bối cảnh đó, hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật đã bị một nhóm lợi ích thân cận với Putin thao túng, còn báo chí lại không dám lên tiếng. “Từ năm 2000 đến nay chỉ có một vụ ám sát nhà báo tại Nga bị đưa ra xét xử, còn lại 16 vụ, trong đó có những vụ lớn như việc sát hại chủ bút Tạp chí Forbes phiên bản tiếng Nga Paul Klebnikov hồi năm 2004, và vụ ám sát nhà báo điều tra Anna Politkovskaya hồi năm ngoái.” “Theo Giám đốc Điều hành của CPJ, Joel Simon, trong thư  mà hãng thông tấn AFP có được hôm qua, thì chính quyền Nga không có khả năng đưa những vụ việc ra ánh sáng. Theo ông Joel Simon, thì tình hình vừa nói dẫn đến biện pháp tự kiểm duyệt của báo chí Nga khiến cho nhiều vấn đề quan trọng không được tường trình, thậm chí bị giấu kín hoàn toàn.” (RFA - 18/8/2009) Kết quả là như những gì mà chúng ta đang được chứng kiến, tình hình an ninh ở nước Nga ngày càng trở nên bất ổn. Theo đánh giá của tạp chí  Foreign Policy (Mỹ) tháng 9/2008 (http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story_id=4480), Moscow nằm trong số 5 thành phố nguy hiểm nhất thế giới:
v       Đêm 13/9/2006, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nga đã bị hai tay súng hạ thủ ngay giữa trung tâm Moscow bằng súng tự động, ông đã qua đời ngay tại bệnh viện trong sáng nay 14/9, đây là một cú sốc đối với giới kinh doanh và chính trị tại nước này.
v       Ngày 2/11/2009, một số sát thủ đi trên chiếc xe Lada đã xả hơn 20 phát đạn vào chiếc Mercedes của nhà tài phiệt Shabtai von Kalmanovich, ngay giữa trung tâm thủ đô Moscow, chỉ cách văn phòng của Thủ tướng Vladimir Putin vài trăm mét.
v       Mới đây, ngày 10/11/2009, chính phủ Nga đã phải thừa nhận một thực tế là một bộ phận của lực lượng cảnh sát đã tham gia vào hoạt động kinh doanh tội ác - (BBC World News). Nếu lời “thú nhận” ấy chưa đủ giúp cho người ta hình dung ra được mức độ tội phạm và tham nhũng ở đất nước này thì thông tin sau đây sẽ cho thấy điều đó: Theo bảng xếp hạng chống tham nhũng do tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) công bố hôm 17/11/2009, mức độ tham nhũng của Nga năm 2009 đứng thứ 146/180 nước.
Việc các nước phương Tây thường xuyên cáo buộc tình trạng vi phạm nhân quyền ở Nga hoàn toàn không phải là vô cớ. Putin đã đưa nước Nga trở lại vị trí siêu cường nhưng e rằng, nếu vẫn cứ đà này, cũng chính ông ta sẽ đưa nước Nga thụt lùi một cách thảm hại. Trên thực tế, với một hệ thống thể chế thiếu tính chắc chắn, nền kinh tế nước Nga vẫn còn ngổn ngang, dễ đổ vỡ, và phụ thuộc quá nhiều vào lĩnh vực khai thác tài nguyên. (Thị trường Chứng khoán Nga: 9 lần ngừng giao dịch trong 3 tuần tính đến ngày 6/10/2008 [do giá cố phiếu lao dốc] http://tintuc.xalo.vn/04199835197/ttck_nga_9_lan_ngung_giao_dich_trong_3_tuan.html)
Khi không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật chính thức, người dân buộc phải quay sang dựa vào hệ thống “pháp luật” phi chính thức của thế giới ngầm. Đó chính là những gì đã từng xẩy ra ở Italia ngày xưa (mà cho đến nay nước này vẫn chưa thể giải quyết tận gốc các băng nhóm tội phạm mafia) và ở nước Nga, Brazil, Mexico… ngày nay. (Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra một cách thầm lặng ở Việt Nam. Hiện tượng các băng nhóm tội phạm chuyên đòi nợ thuê đã trở nên phổ biến ở khắp các tỉnh thành. Cùng với những hoạt động như buôn lậu [đặc biệt là ma tuý], cờ bạc, bảo kê... đây chính là nguồn sữa nuôi dưỡng các băng nhóm tội phạm có tổ chức. Nguy hiểm hơn, chúng đã bắt đầu len lỏi vào bộ máy chính quyền các cấp, hoặc tạo vỏ bọc hợp pháp trong các doanh nghiệp.)[vi]
Những lãnh tụ như Putin không thiếu gì các chiêu bài mị dân. Một trong số đó là việc ông ta cho khôi phục lại những hình ảnh về một “dĩ vãng oai hùng” của Liên Xô ngày nào hòng vuốt ve, ru ngủ quần chúng, như cho tiến hành duyệt binh kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Mười, hay việc ngày 19/5/2009, Tổng thống Dmitry Medvedev ký Sắc lệnh thành lập Ủy ban đặc biệt chống mưu toan xuyên tạc lịch sử, làm phương hại đến lợi ích nước Nga.[vii]Những lãnh tụ mị dân có xu hướng độc tài kiểu như Putin thời nào cũng có, vấn đề là người dân ở các quốc gia đó cần phải tỉnh táo và các thiết chế dân chủ của nó phải đủ mạnh để giám sát và ràng buộc quyền lực. Không chỉ Putin, một Hugo Chavez của Venezuelacũng đang tìm mọi cách dùng dầu mỏ để xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước này. “Cách mạng xã hội chủ nghĩa” chẳng qua chỉ là chiêu bài giúp ông ta thuyết phục dân chúng chấp nhận thay đổi Hiến pháp qua cuộc trưng cầu dân ý tháng 2/2009 vừa qua mà thôi (sau thất bại lần đầu vào tháng 12/2007) để cho ông ta tiếp tục ngồi dài dài trên chiếc ghế quyền lực nhất của quốc gia. Một biện pháp khác mà ông ta đã và đang sử dụng nhằm củng cố quyền lực của mình là tấn công vào các cơ quan truyền thông đối lập, với yêu cầu đóng cửa hoặc cho tiến hành điều tra với những cáo buộc thiếu căn cứ. (http://www.voanews.com/vietnamese/archive/2009-08/2009-08-01-voa29.cfm?moddate=2009-08-01) Cho dù tầng lớp dân nghèo hiện nay có thể đang hồ hởi với các chính sách dân tuý của ông nhưng về lâu dài chính họ sẽ phải chịu ảnh hưởng nặng nề, khi những động lực cho tăng trưởng và phát triển lần lượt bị các chính sách theo kiểu này làm cho thui chột. Rốt cuộc, các tầng lớp doanh nhân, trí thức và trung lưu mới là động lực chính cho gần như mọi cỗ máy kinh tế; hơn ai hết, họ cần được hít thở bầu không khí của tự do – dân chủ để phát huy khả năng  sáng tạo của mình, tạo ra những giá trị mới mẻ và lành mạnh cho xã hội đồng thời dẫn dắt xã hội phát triển. Thế giới có lẽ chẳng cần phải đợi lâu trước khi được chứng kiến một Venezuela xã hội chủ nghĩa “mang màu sắc Hugo Chavez.” (Tạp chí Foreign Policy [Mỹ] tháng 9/2008 (http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story_id=4480đánh giá thủ đô Caracas của Venezuela là thành phố nguy hiểm nhất thế giới với tỷ lệ 130 vụ giết người trên 100.000 dân. Tạp chí còn cho biết thêm: Trên thực tế, kể từ khi Chavez lên nắm quyền năm 1998, tỷ lệ số vụ giết người chính thức đã tăng lên 67% - chủ yếu là do tình trạng bạo lực ma tuý và băng nhóm gia tăng. Theo tạp chí The Guardian của Anh, tốc độ lạm phát của Venezuela năm 2008 lên đến 30%, mức cao nhất trong số các nước Mỹ Latin - http://www.guardian.co.uk/world/2009/feb/02/venezuela-hugo-chavez-anniversary)
Đằng sau sự phát triển thành công của Hàn Quốc chính là cuộc đấu tranh dai dẳng giữa một bên là các vị tổng thống độc tài cùng phe nhóm lợi ích của mình với một bên là các lực lượng tiến bộ trong xã hội. Nỗi ám ảnh về các tổng thống độc tài đối với người dân Hàn Quốc còn để lại dấu vết trong bản Hiến pháp hiện hành, với quy định nhiệm kỳ tổng thống kéo dài 5 năm và tổng thống không được phép tái ứng cử. Riêng Singaporelà một trường hợp ngoại lệ. Mặc dù phe đối lập ở đây khá yếu và báo chí cũng không hoàn toàn tự do như ở các nước phát triển nhưng hệ thống pháp luật của nó lại hết sức nghiêm minh, có thể nói là hoàn hảo, đóng vai trò rất quan trọng vào sự phát triển bền vững và lành mạnh của quốc gia này. Thành quả này chủ yếu là nhờ ông Lý Quang Diệu, vị Thủ tướng lập quốc có tầm nhìn xa trông rộng. Phải chăng ông đã tự định cho mình triết lý “thiên hạ là nhà” của một bậc tài trí và đạo đức hơn người?
Quyền lực là một thứ ma tuý khó cưỡng và dễ gây tác hại khôn lường. Nhà kinh tế học vĩ đại người Mỹ Milton Friedman (1912–2006) từng viết, “Ngay cả khi những kẻ nắm quyền lực có thiện ý từ đầu…, quyền lực cũng sẽ vừa cuốn hút vừa nhào nặn họ thành những con người mang bản chất khác” (Chủ nghĩa Tư bản và Tự do [Capitalism and Freedom]). Abraham Lincoln (1809–1865) thật sâu sắc khi nhận xét: “Hầu như tất cả mọi người đều có khả năng đứng vững trước nghịch cảnh, nhưng nếu muốn thử phẩm chất của một người, hãy trao quyền lực cho anh ta."Cựu Tổng thống Mỹ Clinton mới đây được Reuters dẫn lời khi ông phát biểu tại Istanbul hôm 2/11/2009: "Thật hay là đất nước chúng tôi có giới hạn [về nhiệm kỳ tổng thống]. Nếu không, tôi đã ở lại Nhà Trắng cho tới khi được đưa ra khỏi đấy trong một cỗ quan tài. Hoặc bị đánh bại trong một cuộc bầu cử.” (http://www.reuters.com/article/politicsNews/idUSTRE5A14N820091103) Không phải ngẫu nhiên mà giới chính trị gia nói riêng và người dân Đức nói chung đều hồ hởi sau khi Liên minh Dân chủ - Xã hội Cơ đốc giáo (CDU-CSU) của bà Angela Merkel đi đến thành lập chính phủ liên hiệp với Đảng Dân chủ Tự do (FDP, dành được 15% số phiếu ủng hộ) trong nhiệm kỳ chính phủ 2009-2013 thay vì Đảng Xã hội Dân chủ (SPD, dành được 23% phiếu bầu) như trong nhiệm kỳ 2005-2009: họ muốn có một phe đối lập mạnh để giám sát hoạt động của chính phủ.[viii]Napoleon Bonaparte (1769-1821) từng phát biểu: “Quần chúng chỉ là những con số không dài vô tận, giá trị chính là ở con số đầu!” Vấn đề, bởi vậy, nằm ở cơ chế cho phép tìm ra “con số đầu” giá trị nhất đồng thời phòng ngừa nguy cơ lạm dụng quyền lực của nó. Quyền lực luôn có xu hướng tự tha hoá, và một khi điều đó xẩy ra thì những hệ luỵ núp dưới cái tên “mặt trái của kinh tế thị trường” là thực tế không tránh khỏi. Nhà văn người Anh William Hazlitt (1778-1830) từng để lại cho hậu thế câu châm ngôn nổi tiếng khiến người đời nhiều khi phải tự soi mình: “Yêu tự do là tình yêu dành cho người khác, yêu quyền lực là yêu chính bản thân mình.”
Hệ thống thiết chế thượng tầng khác nhau cũng tạo ra những giá trị khác nhau, trong đó có tầng lớp hữu sản. Ở các nước công nghiệp phát triển với hệ thống pháp luật chắc chắn và minh bạch cùng một nền báo chí tự do, giới tư bản thường là những người có tinh thần doanh nghiệp, tài năng, giàu sức sáng tạo, giàu ý tưởng, giàu nghị lực. Và cuối cùng họ thường dùng tài sản của mình để phụng sự xã hội theo nhiều cách khác nhau, không chỉ đơn thuần là nhằm mục đích “quảng bá” hay “khuếch trương”: Hỗ trợ nhân đạo; hiến tặng cho các trường đại học, các viện nghiên cứu; tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ… Ngược lại, giới nhà giàu (chủ yếu là giới tư bản thân hữu và các quan chức tham nhũng) ở các nước mới nổi với hệ thống pháp luật thiếu minh bạch hoặc bị các nhóm lợi ích thao túng như Trung Quốc, Nga, Việt Nam… lại thường gây ra nhiều tai tiếng. (Chuyện một triệu phú ở phía Bắc Trung Quốc mới đây đã chi ra 600.000 USD để mua một con chó rồi cử 30 chiếc xe Mercedez đến sân bay Hàm Dương, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây để đón con chó này hoàn toàn không phải là cá biệt.) “Đằng sau mọi gia tài lớn đều ẩn chứa một tội ác” (Honoré de Balzac, Pháp, 1799-1850; Le pére Gorilot, 1834). Những gì mà chúng ta đang được chứng kiến ở Việt Nam ngày nay là một minh chứng sống động cho nhận định ấy. Xã hội chắc chắn không thu được lợi lộc gì đáng kể, thậm chí nhiều khi còn phải chịu ảnh hưởng tiêu cực, từ “tầng lớp hữu sản” như vậy. Lối xử thế khác nhau của hai tầng lớp hữu sản kể trên là bằng chứng cho chúng ta thấy sự khác biệt về chuẩn mực đạo đức giữa những nước có hệ thống thiết chế thượng tầng khác nhau.
Dù vậy, xin quý vị chớ vội bi quan. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Việc nêu lên những bài học đắt giá như trên là để tránh cho đất nước khỏi đi vào vết xe đổ mà thôi. Chúng ta có ít nhất hai lý do để lạc quan. Thứ nhất, các giá trị tự do – dân chủ đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho hầu hết các quốc gia trên thế giới, dễ nhận thấy nhất là các nước xã hội chủ nghĩa sau khi chuyển sang chế độ dân chủ đều phát triển, tuy ở mức độ khác nhau – đây là điều đương nhiên. Lễ kỷ niệm 20 năm ngày Bức tường Berlinsụp đổ [9/11/1989] vừa qua chính là một dịp giúp chúng ta kiểm nghiệm lại chân lý đó. (Một sự kiện rung chuyển thế giới và làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới như thế mà báo chí Việt Nam lại vẫn cứ im thin thít - đủ cho thấy thực chất của cái gọi là “tự do báo chí” ở Việt Nam hiện nay!?) Quan trọng hơn nữa là sự phát triển của các quốc gia đó không tạo ra nhiều vấn đề xã hội nhức nhối theo kiểu “mặt trái của kinh tế thị trường” như ở Việt Nam suốt thời gian qua. Tình hình tương tự cũng diễn ra ngay tại các quốc gia độc tài nhưng vẫn theo đuổi các giá trị tự do - dân chủ trong quá khứ như Hàn Quốc, Chile, Argentina… (Việc Việt Nam chúng ta thoát ra khỏi khủng hoảng trầm trọng sau năm 1986 thông qua “đổi mới” cũng chính là nhờ thực tế người dân được “cởi trói” và có nhiều tự do hơn.) Thứ hai, các chế độ dân chủ đều có khả năng tự điều chỉnh theo chiều hướng tích cực mà không tạo ra những xáo trộn lớn trong xã hội. (Điều này phần nào giải thích cho lý do tại sao đến nay vẫn còn tồn tại khoảng cách nhất định giữa Đông Đức và Tây Đức.) Các nhà độc tài cùng những thế lực phản tiến bộ đứng đằng sau họ rốt cuộc đều bị khuất phục bởi những lực lượng tiến bộ trong xã hội (dù thường là với cái giá chẳng hề rẻ chút nào). Đáng tiếc là cả hai phẩm chất vừa nêu đều không tồn tại trong những nước theo chủ nghĩa xã hội như Việt Nam và Trung Quốc, bởi đây là những quốc gia độc tài theo kiểu toàn trị - khác với hình thức độc tài chuyên quyền như của các nước trên đây. Những cụm từ mỹ miều như “chủ nghĩa xã hội,” “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” hay “nhà nước của dân, do dân và vì dân” đều chỉ là mánh khoé loè bịp không hơn không kém của các chính trị gia độc tài, thiển cận, tham lam và ích kỷ.
5.         Kết luận
Trước thời điểm 9/11/1989 chỉ một ngày thôi, không ai ở Châu Âu lại có thể hình dung ra nổi những gì sẽ diễn ra với Bức tường Berlin ngay trong ngày hôm sau cả. Cũng vậy, không ai có thể hình dung ra bộ mặt của thế giới trong 5 hay 10 năm tới sẽ như thế nào. Song nếu chúng ta luôn đi theo sự dẫn dắt của những giá trị tự do – dân chủ mà nhân loại tiến bộ đã lựa chọn từ bao thế kỷ qua, con đường của đất nước sẽ luôn là con đường sáng. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cần phải hiểu rằng cải cách thể chế triệt để là con đường tất yếu nếu không muốn đất nước sớm rơi vào hỗn loạn và trì trệ với một nền đạo đức xuống cấp trầm trọng; mọi biện pháp cải cách nửa vời theo kiểu “thí điểm” đều là mầm mống gây nên những bất ổn lâu dài cho xã hội. Ngoài ra, một Việt Namhậu cải cách cần phải thể hiện tinh thần “thượng tôn pháp luật” ngay từ đầu. Muốn vậy, Hiến pháp phải được xây dựng một cách khoa học, thực tế và có tầm nhìn dài hạn; vừa bảo đảm sự chế ước và cân bằng giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp của quyền lực Nhà nước, vừa bảo đảm các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Hệ thống văn bản pháp luật trước hết phải thể hiện tính nghiêm minh, với quan niệm rằng nhân đạo với một người sẽ là vô nhân đạo với nhiều người khác; hạn chế tối đa việc trao quyền định đoạt tuỳ ý cho người thừa hành pháp luật; thưởng phạt phải công minh, thậm chí người phạm tội có địa vị càng cao càng không được phép nương tay, tuyệt đối tránh tạo ra những tiền lệ nguy hiểm. Cuối cùng, quan trọng không kém, các nhà lãnh đạo, các chính trị gia cần phải nghĩ đến tương lai của giống nòi, không ngừng trau dồi đạo đức và biết hy sinh quyền lợi cá nhân trên tinh thần “dĩ công vi thượng.” Nếu được như vậy, không có lý do gì khiến chúng ta không dám tin tưởng vào một tương lai sán lạn của dân tộc Việt Nam./.

Tác giả chân thành cám ơn chị Phạm Thị Hoài (talawas.org) đã có những chỉ giáo quý báu. Dù vậy, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm với nội dung của bài viết.

Bài đã đăng trên Talawas ngày 18/11/2009 (http://www.talawas.org/?p=13383).





Ghi chú:
[i]Singapore vẫn có thiên hướng là một nhà nước chuyên quyền.
[ii] Nguyễn Minh Cần – Đảng Cộng sản Việt Namqua những biến động trong Phong trào Cộng sản Quốc tế.
[iii]Bản thân hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành cũng đầy bất cập, tạo lỗ hổng cho tiêu cực trong xã hội. Chẳng hạn, Việt Nam hiện nay mới chỉ có Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngnăm 1999. Trong rất nhiều vụ tranh chấp, việc người tiêu dùng phải chứng minh lỗi do bên bị đơn (thương nhân) gây ra là rất khó khi họ không có khả năng giám định cũng như hiểu biết khác về quy trình, thủ tục... Kết quả là hàng loạt các vụ xâm phạm nặng nề đến quyền lợi người tiêu dùng như xăng dầu, điện nước, điện thoại, vệ sinh an toàn thực phẩm… đã xẩy ra nhưng chưa có trường hợp nào nhà sản xuất bồi thường và cũng chưa có trường hợp nào người tiêu dùng lên tiếng khiếu kiện tập thể được chấp nhận.
Một ví dụ khác là loại súng hoa cải đã gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho người dân ở nhiều địa phương khu vực phía Bắc từ năm 2006 đến nay nhưng theo các quy định trong Bộ Luật Hình sự hiện hành, súng hoa cải không nằm trong danh mục vũ khí quân dụng. Hành vi tàng trữ loại súng này không bị xử lý hình sự mà chỉ bị xử phạt hành chính, tức là không thể khởi tố vụ án hình sự, không thể bắt tạm giam cũng như áp dụng hình phạt tù đối với những người tàng trữ loại vũ khí nguy hiểm này mà chỉ có thể áp dụng hình phạt tiền.
Một Chính phủ cồng kềnh, ôm đồm - ngay cả vụ việc tiêu cực ở Bệnh viện Phú Lương (Thái Nguyên) như báo chí nêu trong thời gian vừa qua, Thủ tướng cũng [phải] can thiệp, và chắc chắn mọi chuyện đâu rồi sẽ lại vào đấy - nhưng chẳng làm được việc gì cho ra hồn. Cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới còn chưa kịp hình thành trên đảo Luzon của Philippines nhưng trên đất liền Việt Nam cơn “bão lạm phát” đã lên đến cấp độ ngoài tầm kiểm soát. Với việc Thủ tướng Chính phủ ký bảo lãnh cho Vinashin phát hành 3.000 tỷ VNĐ trái phiếu ngày 13/11/2009 vừa qua, vấn đề không còn là của riêng Vinashin nữa mà đã trở thành vấn đề của Chính phủ. Các tập đoàn và tổng công ty Nhà nước của Việt Nam hiện nay đúng là những “quả đấm thép” thật, nhưng chúng đang “tung chưởng” vào đâu thì chắc hầu hết mọi người đều đã nhìn thấy. Nếu không tính PetroVietnam, thử hỏi các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam còn đóng góp được bao nhiêu vào nền kinh tế quốc dân? Các doanh nghiệp Nhà nước không phải là giải pháp, chúng chính là vấn đề; giải pháp mà chúng mang lại không tương xứng với những vấn đề nhức nhối do chúng gây nên. (Mới đây, ngày 13/11/2009, Tổng thống Nga Medvedev đã cho rằng các tập đoàn nhà nước “không có tương lai” và cần được cải cách. Ông đã yêu cầu Thủ tướng Vladimir Putin đến trước ngày 1-3-2010 phải trình kế hoạch tái tổ chức các tập đoàn này, vốn được thành lập hàng loạt dưới thời ông Putin làm tổng thống. [http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=347879&ChannelID=2] Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra nhiều vấn đề trong xã hội Nga hiện nay.)
Một Quốc hội xuân thu nhị kỳ mới gặp nhau và sau những màn tay bắt mặt mừng rồi ca tụng Chính phủ là thi nhau “bấm nút.” Dân chúng thì đang ngẩn ngơ không biết nên vui hay nên buồn với tin sốt dẻo: Tại kỳ đại hội Đảng các cấp sắp tới, Bộ Chính trị sẽ cho phép khoảng 15% số địa phương thực hiện “thí điểm” việc đại hội bầu lãnh đạo cấp uỷ trực tiếp!
[iv]Chính bản thân vợ chồng tôi (tác giả) cuối năm 2005 cũng đã từng phải bỏ nhà bỏ cửa ở Hà Nội rồi vào Quảng Trị nhằm trốn chạy khỏi sự truy sát của các băng nhóm xã hội đen.
[v]Thị trường cũng không hề có lỗi khi mà giá vàng trong nước ngày 11/11/2009 vừa rồi lên đến 29,3 triệu VNĐ/lượng - cao hơn giá vàng thế giới đến khoảng 5 triệu VNĐ/lượng - rồi nhanh chóng rớt xuống còn 24,9 triệu VNĐ/lượng trong ngày 13/11 sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tuyên bố vào chiều 11/11: "Sẽ có 5-6 doanh nghiệp được phép nhập khẩu vàng với khối lượng không hạn chế." (http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/11/3BA158B0/)
Trước những cú đòn chính sách theo lối du kích “thoắt ẩn, thoắt hiện” (xuất phát từ tầm nhìn thiển cận và trong rất nhiều trường hợp có sự thao túng của các nhóm lợi ích đang ngày càng tác oai tác quái) như thế, thị trường không hoang mang rối trí thì mới là lạ. Từ đó nó sẽ còn đẻ ra những chuyện tiêu cực khác như buôn lậu chẳng hạn. (Chỉ riếng con số “5-6 doanh nghiệp” nói trên cũng đủ khiến nhiều người phải đặt câu hỏi rồi.)
Tham vọng “tái cấu trúc nền kinh tế” của các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam hiện nay lại thể hiện một tư duy ngây thơ, đầy “nhiệt tình cách mạng” khác nữa. Không phải vô cớ mà nhà kinh tế học kiêm triết gia vĩ đại người Áo Friedrich August Hayek (1899-1992) từng nhận định: Chúng ta chưa bao giờ thiết kế được hệ thống kinh tế của mình. Chúng ta không đủ thông minh để làm điều đó. (F. A. Hayek, Trật tự chính trị của một dân tộc tự do [The Political Order of a Free People], 1979) Hãy nhìn xem các chính sách của Chính phủ đã giúp ích được gì cho ngành công nghiệp ô tô trong suốt mười mấy năm qua thì đủ biết.
 [vi] Nhận định này còn xuất phát từ  kinh nghiệm xương máu của bản thân tác giả.
[vii]Ngày 13/10/2009 vừa qua, một toà án ở Moscow đã bác bỏ đơn kiện của ông Yevgeny Dzhugashvili, cháu trai của Joseph Stalin, đối với tờ báo Nga độc lập Novaya Gazeta. Theo Dzhugashvili, bài báo đã xúc phạm đến ông nội của ông khi gọi Stalin là “tên sát nhân khát máu.” (Hãng thông tấn PAP - 13/10/2009)